Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 8. Việt Bắc (trích)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hạnh
Ngày gửi: 23h:02' 29-11-2023
Dung lượng: 5.2 MB
Số lượt tải: 45
Số lượt thích: 0 người
Tố Hữu
( Phần II: Tác phẩm)

I. Tìm hiểu chung:
1. Hoàn cảnh sáng tác:
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-nevơ được kí kết. Hòa bình lập lại ở miền Bắc.
- Tháng 10 - 1954, các cơ quan trung ương của
Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ
đô Hà Nội để tiếp tục lãnh đạo cách mạng.

- Nhân sự kiện thời sự trọng đại này, Tố Hữu viết bài thơ
"Việt Bắc" để thể hiện tình nghĩa sâu nặng của những
người cán bộ, chiến sĩ về xuôi với quê hương cách mạng.

2. Kết cấu chung của bài thơ:
- Toàn bộ bài thơ gồm 150 câu thơ lục bát và được
chia làm hai phần:
+ 90 câu đầu:
Tình cảm thủy chung son sắt của những người cán
bộ về xuôi với quê hương cách mạng thông qua nỗi
nhớ da diết.
+ 60 câu sau:
Sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi và ước
mơ về một Việt Bắc sẽ được xây dựng trong tương lai.

- Bài thơ được viết theo kiểu đối đáp nam - nữ, phỏng
theo lối hát giao duyên của dân ca.

"Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ"
Hát giao duyên

Thuộc 90 câu đầu của bài thơ.

II. Đọc - hiểu văn bản :
1. 12 câu đầu: Khung cảnh chia tay
a. Sắc thái tâm trạng :
* Nỗi niềm của người ở lại:
- 4 câu đầu là câu hỏi của người ở lại:
“Mình về, ….
… nhớ nguồn”
+ Kiểu xưng hô mình – ta : ngọt ngào, đầy yêu
thương.
+ Điệp ngữ: “Mình về, mình có nhớ…”: âm điệu
day dứt, băn khoăn.

+ “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”:
Đây là cuộc chia tay của những người đã từng gắn bó suốt
"mười lăm năm" (1940 – 1954)
-> một chặng đường dài với biết bao kỉ niệm ân tình, cùng sẻ chia
mọi cay đắng ngọt bùi.

+ Những hình ảnh “cây – núi, sông – nguồn”:
tiêu biểu cho núi rừng Việt Bắc – cái nôi của cách
mạng, nuôi dưỡng người cán bộ.

- Đoạn thơ với nhiều câu hỏi liên tiếp:
“Mình đi, có nhớ…, Mình về, có nhớ…, Mình về, còn
nhớ…, Mình đi, mình có nhớ…”
là cảm xúc dâng trào, diễn tả nỗi niềm day dứt khôn
nguôi của người ở lại.
=> Tình cảm chân thành, sâu sắc của đồng bào Việt Bắc.

- 4 câu sau: lời đáp của người về xuôi:
“Tiếng ai …
… hôm nay”
+ Các từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”:
gợi tả chính xác không khí và tâm trạng lúc chia tay.
+ Hình ảnh “áo chàm”:
hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc – những con người giản
dị mà nghĩa tình chân thành.
+ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”:
dấu chấm lửng cuối câu, nhịp thơ ngắt quãng, ngập
ngừng -> nỗi niềm đầy xúc động, bâng khuâng.
“biết nói gì”: xúc động nghẹn ngào không nói được
thành lời.

+ Dùng cặp đại từ “mình – ta” và những hình ảnh
so sánh quen thuộc:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình laị nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”.
-> khẳng định tấm lòng thủy chung son sắt với cách
mạng.

b. Cấu tứ - lối đối đáp:
- Hình thức đối đáp:
Tác giả dùng lối đối đáp, xưng hô mình – ta thường
thấy trong ca dao để thể hiện tình cảm cách mạng.
- Cả lời hỏi và đáp đều triền miên trong nỗi nhớ:
Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỷ niệm, bao nỗi
nhớ niềm thương.

- Đối đáp – đối thoại cũng là độc thoại:
Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là lời
độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư của nhà thơ, của
những người tham gia kháng chiến.
=> Chuyện ân tình cách mạng được khéo léo thể hiện
như tâm trạng của tình yêu đôi lứa.

2. Vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên và cuộc sống con người
Việt Bắc qua hồi tưởng của người cán bộ về xuôi:
a. Thiên nhiên:
- Đoạn thơ là hồi ức về những kỉ niệm đẹp: điệp từ
“nhớ”, “nhớ sao”, “nhớ gì”… xuyên suốt.
- Cảnh núi rừng Việt Bắc:
Hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng không
gian và thời gian khác nhau; có những nét riêng biệt,
độc đáo, khác hẳn những miền quê khác:
“Nhớ gì …… vơi đầy”.

+ Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”
-> nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.
+ Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu -> như liệt kê ra từng nỗi
nhớ cụ thể:

nhớ ánh nắng ban chiều,

ánh trăng buổi tối, không
gian gợi cảm nên thơ

những ánh lửa hồng trong
đêm khuya,

Những tên núi, tên rừng, tên sông suối, nương rẫy
quen thuộc thân yêu
-> Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu
quạnh mà thơ mộng, ấm áp.

b. Con người:
Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên
với những phẩm chất cao đẹp:

- Họ gắn bó với cách mạng cùng “mối thù nặng vai”,
cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi với cách mạng:
“Ta đi ta nhớ … … đắp cùng”

- Tuy họ nghèo về vật chất
nhưng “đậm đà lòng son", giàu
về tình nghĩa:
“Nhớ người mẹ … … bắp
ngô”

- Họ lạc quan yêu đời, gắn bó cùng kháng chiến
dù còn nhiều gian khổ, thiếu thốn:
“Nhớ sao……núi đèo”
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả, bình
dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa:
“Nhớ sao tiếng mõ……suối xa”
=> Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng cần cù,
thủy chung và sâu nặng ân tình.

c. Bộ tranh tứ bình: Cảnh thiên nhiên và con người
hòa quyện thắm thiết:
Đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện
thắm thiết giữa cảnh và người:
“Ta về… thuỷ chung”.
- Hai câu đầu đoạn thơ, tác giả giới thiệu chung về
cảm xúc:
+ Câu hỏi tu từ "Ta về mình có nhớ ta?” : là cái cớ
để người ra đi bày tỏ tấm lòng mình: "Ta về … cùng
người"
+ Hình ảnh "hoa cùng người"
 gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người
trong bức tranh quê hương Việt Bắc.

- Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương Việt
Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
+ Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp độc
đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả cảnh, câu bát tả người.
+ Thiên nhiên Việt Bắc: được miêu tả diễn biến theo
bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc trưng riêng, tạo nên một
bức tranh tứ bình rất đẹp

Vào mùa đông: “Rừng xanh
… thắt lưng”
. Trên cái nền xanh bạt
ngàn của núi rừng Việt Bắc,
xuất hiện những hoa chuối
"đỏ tươi" như những ngọn
lửa thắp sáng rừng xanh.
-> Sự đối chọi hai màu
xanh– đỏ làm trẻ lại màu
xanh trầm tịch của rừng già
và xua tan đi cái lạnh lẽo
của mùa đông vùng cao.

Hình ảnh "dao gài thắt
lưng" phản quang "ánh
nắng"
-> gợi cảm, tạo thành điểm
sáng khiến con người trở
nên nổi bật, trở thành
trung tâm của bức tranh.

Mùa xuân: “Ngày xuân …sợi
giang”
Nhớ Việt Bắc ngày xuân là
nhớ đến hoa mơ "nở trắng
rừng"
- Chữ "trắng": gợi lên một
sắc trắng tinh khiết, mênh
mang, một thế giới hoa mơ
bao phủ: sức xuân ngập tràn
đất trời núi rừng Việt Bắc.
-> Mùa xuân trong sáng,
tinh khôi và đầy sức sống.

Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
-> Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên
nhẫn, tỉ mỉ của con người Việt Bắc.

Mùa hạ: “Ve kêu .... một
mình”
. Nhớ Việt Bắc mùa hè:
là nhớ tiếng ve râm ran
làm nên khúc nhạc rừng
sôi động, nhớ màu vàng
của “rừng phách đổ vàng”
-Từ "đổ", biểu thị sự
chuyển màu đồng loạt
-> người đọc có cảm
giác dường như tiếng ve
đã thúc giục ngày hè trôi
nhanh, làm cho rừng
phách thêm vàng.

Hình ảnh cô thiếu nữ đi
"hái măng một mình" giữa
rừng vầu, rừng nứa, rừng
trúc: không hề lẻ loi, cô
đơn mà chịu khó tận tụy
với công việc.

* Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
“Rừng thu…
…thủy chung”
. Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa
rừng thu. Trăng "rọi" qua tán lá
rừng xanh, trăng thanh mát rượi 
gợi lên cảnh sống yên ả, "hoà bình”,
nên thơ.
. Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ ca hát về
mối ân tình thuỷ chung với cách mạng.

=> Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật vẻ đẹp hài
hòa giữa thiên nhiên và con người:
+ Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt Bắc:
bình dị, chịu thương chịu khó, đầy nghĩa tình.
+ Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình,
những con người Việt Bắc đã góp phần tạo nên sức mạnh
vĩ đại của cuộc kháng chiến.

3. Việt Bắc trong kháng chiến:
a. Khung cảnh hùng tráng

- Những cuộc hành quân ra trận:
“Những đường Việt Bắc của ta

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”.
Từ láy tượng thanh "rầm rập":
-> diễn tả tiếng bước chân mạnh mẽ của cuộc
hành quân, gợi lên nhịp độ khẩn trương, gấp gáp
của số lượng người đông đảo.
-> tạo thành một sức mạnh tổng hợp làm rung
chuyển mặt đất.

- Hình ảnh so sánh, cường điệu:
"Đêm đêm rầm rập như là đất rung"
-> nêu bật sức mạnh đại đoàn kết của quân dân
ta, chung sức chung lòng đưa cuộc kháng chiến
đến thắng lợi.

"Quân đi … … mũ nan"
Từ láy "điệp điệp trùng
trùng":
-> khắc họa đoàn quân
đông đảo bước đi mạnh mẽ
như những đợt sóng dâng
trào, tưởng chừng như kéo
dài đến vô tận.

Hình ảnh vừa hiện thực vừa ẩn dụ: "ánh sao đầu súng"
+ Ánh sao trong đêm tối sáng ngời đầu mũi súng, ánh sao của lí
tưởng dẫn đường cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù xâm lược
+ Niềm tin lạc quan chiến thắng trong tâm hồn người lính ra trận.

+ Cùng hành quân với bộ đội là những đoàn dân công
phục vụ chiến đấu: "Dân công …lửa bay"

Những bó đuốc đỏ rực soi đường:
+ Sáng bừng hình ảnh những đoàn dân công tiếp
lương tải đạn. Họ đến từ nhiều miền quê với đủ
mọi phương tiện chuyên chở, quyết tâm, kiên
cường vượt núi đèo để đảm bảo sức mạnh cho bộ
đội chiến đấu và chiến thắng.
+ Hình ảnh cường điệu:
"bước chân nát đá"
Khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của
nhân dân trong kháng chiến.
Đây là cuộc chiến đấu của cả dân tộc vì chính
nghĩa, vì thế ta nhất định thắng lợi.

+ Niềm lạc quan tin tưởng vững chắc:
"Nghìn đêm …… ngày mai lên"
Tương quan đối lập giữa bóng tối và ánh sáng:
thăm thẳm >< ánh sáng (gợi kiếp sống nô lệ của dân
tộc dưới ách đô hộ của kẻ thù >< niềm tin vào ngày
mai chiến thắng huy hoàng, tốt đẹp.
Ánh sáng lấn át bóng tối: chiến thắng của dân tộc là
tất yếu trước mọi kẻ thù hắc ám, ngày mai tươi sáng,
hạnh phúc nhất định sẽ đến với dân tộc ta.
=> Đoạn thơ vừa đậm chất sử thi vừa giàu tính lãng
mạn -> khắc họa sâu sắc cuộc kháng chiến toàn dân,
toàn diện, trường kì, đầy gian khổ hi sinh nhưng nhất
định thắng lợi của dân tộc.

- Dân tộc ấy vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh
để lập nên những kì tích, những chiến công:
+ “Tin vui …… núi Hồng”
Nhịp điệu thơ dồn dập, náo nức, phấn khởi + liệt kê
những địa danh trải dọc “trăm miền” đất nước gắn với
tin vui chiến thắng
-> cho thấy tốc độ thần kì của chiến thắng, niềm vui
như lan tỏa đi và từ khắp nơi bay về Việt Bắc.

- Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức
mạnh dẫn tới chiến thắng:

+ Sức mạnh của lòng căm thù:
“Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”
+ Sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung:
“Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”
+ Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân:
“Nhớ khi giặc… một lòng”
Toàn dân:
+ đánh giặc ngay tại chỗ “Rừng cây núi đá ta cùng
đánh Tây”
+ dựa vào rừng núi để đánh giặc “Núi giăng … vây
quân thù”
+ quân dân đoàn kết “Đất trời ta cả chiến khu một
lòng”
-> tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên

b. Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:
- “Mình về, có nhớ núi non,

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.”

Lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân

+ Giọng thơ trang trọng mà thiết tha: nhấn mạnh,
khẳng định: Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là
căn cứ địa vững chắc, nơi khai sinh những địa danh mãi
mãi đi vào lịch sử dân tộc.

+ Việt Bắc còn là trái tim, đầu não của cuộc kháng chiến, là
nơi các chủ trương của Đảng và Chính phủ toả đi khắp nước,
chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:
Điều quân… các khu…

1950 - Bác ở chiến khu Việt Bắc

+ Việt Bắc là niềm tin, là hi vọng, niềm mong đợi
của cả dân tộc, của những con người Việt Nam yêu
nước vì Việt Bắc có Bác Hồ, có Chính phủ sống và
làm việc:
“Ở đâu u ám quân thù,

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”
-> Những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết
nghĩa tình: khẳng định niềm tin yêu của cả nước đối
với Việt Bắc là vô bờ.

4. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc:
a. Về thể loại:
- Sử dụng thể thơ: lục bát, một thể thơ truyền thống
mang vẻ đẹp cổ điển.
- Cấu tứ bài thơ: là cấu tứ ca dao với lối đối đáp của
hai nhân vật trữ tình “: "mình" - "ta".
- Sử dụng hình thức tiểu đối của ca dao: vừa nhấn
mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ cân xứng, uyển chuyển, làm
cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư:
+ “Nhìn cây nhớ núi/nhìn sông nhớ nguồn”
+ “Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi”
+ “Trám bùi để rụng,/ măng mai để già”
+ “Nông thôn phát động,/ giao thông mở đường.”
 
Gửi ý kiến