Tuần 11. Xúy Vân giả dại (Trích chèo Kim Nham)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trung Hiếu
Ngày gửi: 22h:53' 13-01-2024
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 527
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trung Hiếu
Ngày gửi: 22h:53' 13-01-2024
Dung lượng: 5.5 MB
Số lượt tải: 527
Số lượt thích:
0 người
Xúy Vân giả dại
Trích chèo Kim Nham
Mục tiêu
o
o
o
o
o
Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để:
Xác định bố cục của đoạn trích chèo
Nêu được nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xúy Vân
Xác định đoạn lời thoại thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên” của nhân
vật
Phân tích được một đoạn lời thoại để thấy được mâu thuẫn giằng xé
trong nội tâm nhân vật Xúy Vân
Xác định được các đặc điểm của sân khấu chèo qua đoạn xưng danh
của Xúy Vân (cách xưng danh, sự tương tác giữa người xem và người
diễn…)
Mục tiêu
Học sinh xác định được tầm quan trọng văn bản ngôn từ thể
hiện tích truyện làm nền cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của vở
chèo, tầm quan trọng của diễn xuất gồm hát, múa và các hình thức
biểu cảm trong vở chèo.
Học sinh tìm hiểu thêm ý nghĩa đời sống văn hóa lãng xã của
Việt Nam thuở xưa.
Khởi động
Nhiệm vụ
GV cho HS xem một đoạn
Video clip trích từ chèo
Kim Nham và yêu cầu HS
chia sẻ cảm nhận về những
đặc sắc qua đoạn trích.
02
Hình thành
kiến thức
mới
Nhiệm vụ
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Bố cục và nguyên
nhân Xúy Vân giả dại
Phân tích đoạn lời
thoại thể hiện “ngôn
ngữ điên” của nhân
vật
Phân tích đoạn lời
thoại thể hiện rõ nhất
mâu thuẫn nội tâm
trong lòng Xúy Vân
Nhiệm vụ
Nhóm 4
Nhóm 5
Nhóm 6
Phân tích cảnh ngộ đời
sống cũng như niềm mong
ước của Xúy Vân qua lời
thoại theo điệu “con gà
rừng”
Đặc điểm của sân
khấu chèo qua đoạn
xưng danh của Xúy
Vân
Đặc điểm của ngôn
ngữ chèo được thể
hiện qua đoạn trích
1. Bố cục
Phần 1
Xuý Vân xuất hiện (từ đầu đến “ai biết là ai?”).
Phần 2
Xuý Vân xưng danh (từ “bước chân vào” đến “Ờ”).
Phần 3
Xuý Vân giãi bày (đoạn còn lại).
2. Nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại
của Xúy Vân
NGUYÊN NHÂN TRỰC TIẾP
Lời xúi dục và hứa hẹn ngon ngọt của
Trần Phương – gã người tình trăng hoa
và đểu cáng (nguyên nhân này có thể
được nhận biết một phần qua những chi
tiết ngoài văn bản, ở đoạn tóm tắt tác
phẩm và một phần qua chính đoạn
xưng danh của Xuý Vân trong văn
bản).
NGUYÊN NHÂN SÂU XA
Nỗi buồn chán, cô đơn khi phải sống
xa chồng và niềm khát khao cảnh
sống êm đềm, hạnh phúc của Xuý
Vân
3. Đoạn lời thoại thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên”
của nhân vật
Đoạn lời thoại gắn liền với điệu “hát ngược” ở cuối văn bản (đoạn trích).
•
•
Nhiều đối tượng, sự vật được nhắc đến nhưng giữa chúng không có mối liên hệ gì với nhau.
Mọi sự đã được nhân vật nhìn theo một logic ngược, phải đảo lại hoàn toàn thì mới đúng với
ghi nhận của tri giác thông thường:
“Chuột đậu cành rào, muỗi ấp cánh dơi,
Ông Bụt kia bẻ cổ con nai,
Cái trứng gà mà tha con quạ lên ngồi trên cây”
KẺ
ĐIÊN
3. Đoạn lời thoại thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên”
của nhân vật
Tác giả dân gian đã khéo vận dụng những bài ca dao nói ngược đầy tính hài
hước vốn khá phổ biến trong kho tàng ca dao:
“Bước sang tháng Sáu giá chân
“Trời mưa cho mối bắt gà
Tháng Chạp nằm trần bức đổ mồ hôi
Thòng đong cân cấn đuổi cò lao xao
Con chuột kéo cày lồi lồi
Lươn nằm cho trúm bò vào
Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong”
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô”
4. Đoạn lời thoại thể hiện rõ những mâu thuẫn giằng xé trong nội
tâm của Xúy Vân
Đoạn lời thoại được thể hiện bằng điệu “quá giang”.
Xuý Vân buông xuôi, thuận
theo sự chi phối của hoàn cảnh
“Cách con sông nên tôi phải luỵ đò”
Xuý Vân buông thả theo
chuyện “gió trăng”
Xuý Vân muốn phản kháng
“Chả nên gia thất thì về,
Ở làm chi mãi cho chúng chê, bạn
cười.”
Xuý Vân luôn có nỗi hổ thẹn ngấm
ngầm, muốn thanh minh, phân bua
và cũng biết tự dặn lòng cần giữ tiết
4. Đoạn lời thoại thể hiện rõ những mâu thuẫn giằng xé trong nội
tâm của Xúy Vân
“Bước chân vào tôi thưa rằng vậy”
“Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”.
Nàng tự xưng tên họ, nói bản thân có “tài cao vô giá”, “hát
hay đã lạ”, được gọi là “cô ả Xúy Vân”. Thế nhưng lại rơi vào
nỗi đau khổ khi trót bỏ chồng để đi theo một người đàn ông
phụ bạc, “phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương”. Một bên là
người con gái đang tuổi xuân thì, với một bên là nỗi đau đớn
tủi nhục vì bị ruồng bỏ, sự đối lập này đã cho thấy rõ tâm trạng
ân hận của Xúy Vân, chính bi kịch ấy đã đẩy nàng “đến nỗi
điên cuồng, rồ dại”.
5. Cảnh ngộ đời sống cũng như niềm mong ước của Xúy Vân qua lời
thoại theo điệu “con gà rừng”
• Nỗi đắng cay, tấm tức của Xuý Vân khi bị đặt vào một hoàn
cảnh không được như ý
• Tình trạng “Con gà rừng ăn lẫn với công”
• Nàng chỉ ao ước được sống trong cảnh vợ chồng sum họp,
hoà thuận: “Chờ cho bông lúa chín vàng,/ Để anh đi gặt, để
nàng mang cơm”
“Bông bông dắt, bông bông díu,
Xa xa lắc, xa xa líu”
Diễn tả cảm giác vui vầy, ríu rít của đôi vợ
chồng được cùng làm lụng bên nhau, giúp đỡ
nhau
“Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên”
Biểu đạt nỗi ấm ức, bất bình trước thực
tại, cố nén xuống bao nhiêu lại dội lên
bấy nhiêu
5. Cảnh ngộ đời sống cũng như niềm mong ước của Xúy Vân qua lời
thoại theo điệu “con gà rừng”
NHẬN XÉT HÀNH ĐỘNG GIẢ DẠI CỦA XÚY VÂN
Khát vọng mang tính chất
“vượt rào”, những đòi hỏi
về quyền tự quyết lối sống
hay quyền lựa chọn người
mình yêu
Việc khán giả bình dân xưa yêu
thích lớp chèo Xuý Vân giả dại
cho thấy câu chuyện của Xuý
Vân không phải là câu chuyện
cá biệt. Qua đây có thể nói,
nhân vật Xuý Vân đã nhận được
sự đồng cảm của bao nhiêu
người.
6. Đặc điểm của sân khấu chèo qua đoạn xưng danh của Xúy Vân
Xưng danh
Hình thức giới thiệu, thể hiện nhân vật rất riêng biệt của sân
khấu dân gian Việt Nam.
Hình thức xưng danh này đáp ứng yêu cầu của khán giả bình
dân muốn nắm bắt nhanh chóng về loại, đặc điểm và vai trò
của nhân vật, ngay từ lúc nhân vật vừa xuất hiện trên sân khấu
(nhân vật thuộc vai chín (tích cực) hay vai lệch (tiêu cực),
tính cách ra sao, có vị trí thế nào trong tích trò).
6. Đặc điểm của sân khấu chèo qua đoạn xưng danh của Xúy Vân
Nội dung
Danh tính, quê quán, thân phận, gia cảnh, tính cách,... của nhân vật
Qua lời chào hỏi kiểu như: “Chị em ơi!/ Ra đây có phải xưng danh không
nhỉ?” và tiếng đế: “Không xưng danh, ai biết là ai?”, có thể nhận ra giữa
khán giả và sân khấu không có khoảng cách nào đáng kể.
Sân khấu là một không gian được hình thành tự nhiên giữa vòng vây của
khán giả, gây cảm tưởng diễn viên là người vừa bước tách ra khỏi đám
đông để lên sàn diễn.
7. Đặc điểm của ngôn ngữ chèo được thể hiện qua đoạn trích
Lời thoại
nhân vật
Lời nói
Cách nói ví von giàu tính tự
sự trữ tình.
Ngôn ngữ đa thanh, đa
nghĩa.
Thơ
Thơ bốn chữ hay thơ lục bát, cách
ngắt nhịp và số tiếng, một phần có
thể do sự chi phối của điệu hát hay
ngữ điệu của lời nói thường.
7. Đặc điểm của ngôn ngữ chèo được thể hiện qua đoạn trích
Diễn xuất tuyệt vời của
các diễn viên
NGHỆ THUẬT CHÈO ĐƯỢC THỂ
HIỆN QUA ĐOẠN TRÍCH
Diễn xuất đầy tính biểu cảm của diễn
viên với sự kết hợp nói, hát, múa trên
nền hoà tấu của các nhạc cụ dân tộc
Tích trò rất quan trọng, có chức
năng làm điểm tựa cho hoạt
động diễn xuất của diễn viên
TIÊU CHÍ
Hình thức
(2 điểm)
Nội dung
(6 điểm)
Hiệu quả
nhóm
(2 điểm)
Điểm
TỔNG
CẦN CỐ GẮNG
ĐÃ LÀM TỐT
RẤT XUẤT SẮC
(0 – 4 điểm)
(5 – 7 điểm)
(8 – 10 điểm)
0 điểm
1 điểm
2 điểm
Bài làm còn sơ sài, trình bày Bài làm tương đối đẩy đủ, chỉn Bài làm tương đối đẩy đủ, chỉn chu
cẩu thả
chu
Trình bày cẩn thận
Sai lỗi chính tả
Trình bày cẩn thận
Không có lỗi chính tả
Không có lỗi chính tả
Có sự sáng tạo
1 - 3 điểm
4 – 5 điểm
6 điểm
Chưa trả lơi đúng câu hỏi Trả lời tương đối đầy đủ các câu Trả lời tương đối đầy đủ các câu hỏi
trọng tâm
hỏi gợi dẫn
gợi dẫn
Không trả lời đủ hết các câu Trả lời đúng trọng tâm
Trả lời đúng trọng tâm
hỏi gợi dẫn
Có ít nhất 1 – 2 ý mở rộng nâng Có nhiều hơn 2 ý mở rộng nâng cao
Nội dung sơ sài mới dừng lại cao
Có sự sáng tạo
ở mức độ biết và nhận diện
0 điểm
1 điểm
2 điểm
Các thành viên chưa gắn kết Hoạt động tương đối gắn kết, có Hoạt động gắn kết
chặt chẽ
tranh luận nhưng vẫn đi đến Có sự đồng thuận và nhiều ý tưởng
Vẫn còn trên 2 thành viên thông nhát
khác biệt, sáng tạo
không tham gia hoạt động
Vẫn còn 1 thành viên không tham Toàn bộ thành viên đều tham gia hoạt
gia hoạt động
động
03
Luyện tập
Nhiệm vụ
Giáo viên giao nhiệm vụ học tập:
Viết đoạn văn khoảng 150 chữ, trình bày suy nghĩ
của bạn về nỗi niềm của nhân vật Xúy Vân được thể
hiện qua lớp chèo Xúy Vân giả dại
Thời gian: 20 phút
TIÊU CHÍ
Hình thức
(3 điểm)
Nội dung
(7 điểm)
Điểm
TỔNG
CẦN CỐ GẮNG
(0 – 4 điểm)
ĐÃ LÀM TỐT
(5 – 7 điểm)
RẤT XUẤT SẮC
(8 – 10 điểm)
2 điểm
Bài làm tương đối
đẩy đủ, chỉn chu
Trình bày cẩn thận
Chuẩn kết câu
đoạn
Không có lỗi chính
tả
3 điểm
Bài làm tương đối đẩy đủ,
chỉn chu
Trình bày cẩn thận Chuẩn
kết câu đoạn
Không có lỗi chính tả
Có sự sáng tạo
1 – 4 điểm
5 – 6 điểm
Nội dung sơ sài mới dừng lại ở mức độ Nội dung đúng, đủ
biết và nhận diện
và trọng tâm
Có ít nhất 1 – 2 ý
mở rộng nâng cao
7 điểm
Nội dung đúng, đủ và
trọng tâm
Có ít nhất 1 – 2 ý mở rộng
nâng cao Có sự sáng tạo
1 điểm
Bài làm còn sơ sài, trình bày cẩu thả
Sai lỗi chính tả
Sai kết cấu đoạn
Bài văn mẫu
Trong lớp chèo Xúy Vân giả dại, Xúy Vân xuất hiện với hình ảnh người phụ nữ vừa
điên loạn lại vừa đáng thương. Nàng đang bị giằng xé giữa tâm trạng hối hận và nỗi
tủi nhục vì sự cười chê của người đời. Nàng hối hận, cảm thấy tội lỗi vì đã phụ bạc
Kim Nham, lại càng đau đớn vì bị Trần Phương bỏ rơi, Người phụ nữ không còn
điểm tựa này còn phải đối mặt với nỗi cười chê của láng giềng. Trong xã hội phong
kiến xưa, đây là một bi kịch lớn với người phụ nữ. Những câu nói điên loạn, kể lể
càng cho thấy sự tuyệt vọng và tủi hổ của nhân vật đã lên đến đỉnh điểm, nàng đang
bị mắc kẹt trong nỗi ám ảnh ấy mà không biết chia sẻ cùng ai nên càng rơi vào bế tắc.
Hình ảnh Xúy Vân trong lớp chèo này là đại diện cho cảnh ngộ của những người phụ
nữ xưa trong xã hội cũ, không được tự quyết định thân phận mình, đến khi muốn tìm
hạnh phúc lại bị rơi vào bi kịch.
04
Vận dụng
Nhiệm vụ
Giáo viên giao nhiệm vụ học tập:
HS liên hệ ý nghĩa đời sống văn hóa làng xã
của VN thưở xưa qua đoạn trích chèo
Thời gian: 20 phút
Gợi ý
Không gian quen thuộc của nông thôn Việt Nam xưa với các hình
ảnh như con sông, bến đò,... những cảnh sinh hoạt như gặt lúa,
mang cơm,...
Những thiết chế tinh thần ràng buộc đời sống con người như
quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và dư luận xã hội (rõ
ràng ở Xuý Vân luôn có một nỗi ám ảnh về tình trạng “chúng chê,
bạn cười”)...
Tin tưởng vào tín ngưỡng: “than cùng bà Nguyệt”, “ông Bụt”
Sự đồng vọng thắm thiết giữa những tấm lòng trong cộng đồng
làng xã mỗi khi các từ xưng hô như “chị em”, “bạn” vang lên. Hàng
xóm láng giềng sống với nhau gần gũi, đoàn kết:
Trích chèo Kim Nham
Mục tiêu
o
o
o
o
o
Học sinh vận dụng tri thức ngữ văn để:
Xác định bố cục của đoạn trích chèo
Nêu được nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xúy Vân
Xác định đoạn lời thoại thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên” của nhân
vật
Phân tích được một đoạn lời thoại để thấy được mâu thuẫn giằng xé
trong nội tâm nhân vật Xúy Vân
Xác định được các đặc điểm của sân khấu chèo qua đoạn xưng danh
của Xúy Vân (cách xưng danh, sự tương tác giữa người xem và người
diễn…)
Mục tiêu
Học sinh xác định được tầm quan trọng văn bản ngôn từ thể
hiện tích truyện làm nền cho toàn bộ hoạt động biểu diễn của vở
chèo, tầm quan trọng của diễn xuất gồm hát, múa và các hình thức
biểu cảm trong vở chèo.
Học sinh tìm hiểu thêm ý nghĩa đời sống văn hóa lãng xã của
Việt Nam thuở xưa.
Khởi động
Nhiệm vụ
GV cho HS xem một đoạn
Video clip trích từ chèo
Kim Nham và yêu cầu HS
chia sẻ cảm nhận về những
đặc sắc qua đoạn trích.
02
Hình thành
kiến thức
mới
Nhiệm vụ
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Bố cục và nguyên
nhân Xúy Vân giả dại
Phân tích đoạn lời
thoại thể hiện “ngôn
ngữ điên” của nhân
vật
Phân tích đoạn lời
thoại thể hiện rõ nhất
mâu thuẫn nội tâm
trong lòng Xúy Vân
Nhiệm vụ
Nhóm 4
Nhóm 5
Nhóm 6
Phân tích cảnh ngộ đời
sống cũng như niềm mong
ước của Xúy Vân qua lời
thoại theo điệu “con gà
rừng”
Đặc điểm của sân
khấu chèo qua đoạn
xưng danh của Xúy
Vân
Đặc điểm của ngôn
ngữ chèo được thể
hiện qua đoạn trích
1. Bố cục
Phần 1
Xuý Vân xuất hiện (từ đầu đến “ai biết là ai?”).
Phần 2
Xuý Vân xưng danh (từ “bước chân vào” đến “Ờ”).
Phần 3
Xuý Vân giãi bày (đoạn còn lại).
2. Nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại
của Xúy Vân
NGUYÊN NHÂN TRỰC TIẾP
Lời xúi dục và hứa hẹn ngon ngọt của
Trần Phương – gã người tình trăng hoa
và đểu cáng (nguyên nhân này có thể
được nhận biết một phần qua những chi
tiết ngoài văn bản, ở đoạn tóm tắt tác
phẩm và một phần qua chính đoạn
xưng danh của Xuý Vân trong văn
bản).
NGUYÊN NHÂN SÂU XA
Nỗi buồn chán, cô đơn khi phải sống
xa chồng và niềm khát khao cảnh
sống êm đềm, hạnh phúc của Xuý
Vân
3. Đoạn lời thoại thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên”
của nhân vật
Đoạn lời thoại gắn liền với điệu “hát ngược” ở cuối văn bản (đoạn trích).
•
•
Nhiều đối tượng, sự vật được nhắc đến nhưng giữa chúng không có mối liên hệ gì với nhau.
Mọi sự đã được nhân vật nhìn theo một logic ngược, phải đảo lại hoàn toàn thì mới đúng với
ghi nhận của tri giác thông thường:
“Chuột đậu cành rào, muỗi ấp cánh dơi,
Ông Bụt kia bẻ cổ con nai,
Cái trứng gà mà tha con quạ lên ngồi trên cây”
KẺ
ĐIÊN
3. Đoạn lời thoại thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên”
của nhân vật
Tác giả dân gian đã khéo vận dụng những bài ca dao nói ngược đầy tính hài
hước vốn khá phổ biến trong kho tàng ca dao:
“Bước sang tháng Sáu giá chân
“Trời mưa cho mối bắt gà
Tháng Chạp nằm trần bức đổ mồ hôi
Thòng đong cân cấn đuổi cò lao xao
Con chuột kéo cày lồi lồi
Lươn nằm cho trúm bò vào
Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong”
Một đàn cào cào đuổi bắt cá rô”
4. Đoạn lời thoại thể hiện rõ những mâu thuẫn giằng xé trong nội
tâm của Xúy Vân
Đoạn lời thoại được thể hiện bằng điệu “quá giang”.
Xuý Vân buông xuôi, thuận
theo sự chi phối của hoàn cảnh
“Cách con sông nên tôi phải luỵ đò”
Xuý Vân buông thả theo
chuyện “gió trăng”
Xuý Vân muốn phản kháng
“Chả nên gia thất thì về,
Ở làm chi mãi cho chúng chê, bạn
cười.”
Xuý Vân luôn có nỗi hổ thẹn ngấm
ngầm, muốn thanh minh, phân bua
và cũng biết tự dặn lòng cần giữ tiết
4. Đoạn lời thoại thể hiện rõ những mâu thuẫn giằng xé trong nội
tâm của Xúy Vân
“Bước chân vào tôi thưa rằng vậy”
“Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại”.
Nàng tự xưng tên họ, nói bản thân có “tài cao vô giá”, “hát
hay đã lạ”, được gọi là “cô ả Xúy Vân”. Thế nhưng lại rơi vào
nỗi đau khổ khi trót bỏ chồng để đi theo một người đàn ông
phụ bạc, “phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương”. Một bên là
người con gái đang tuổi xuân thì, với một bên là nỗi đau đớn
tủi nhục vì bị ruồng bỏ, sự đối lập này đã cho thấy rõ tâm trạng
ân hận của Xúy Vân, chính bi kịch ấy đã đẩy nàng “đến nỗi
điên cuồng, rồ dại”.
5. Cảnh ngộ đời sống cũng như niềm mong ước của Xúy Vân qua lời
thoại theo điệu “con gà rừng”
• Nỗi đắng cay, tấm tức của Xuý Vân khi bị đặt vào một hoàn
cảnh không được như ý
• Tình trạng “Con gà rừng ăn lẫn với công”
• Nàng chỉ ao ước được sống trong cảnh vợ chồng sum họp,
hoà thuận: “Chờ cho bông lúa chín vàng,/ Để anh đi gặt, để
nàng mang cơm”
“Bông bông dắt, bông bông díu,
Xa xa lắc, xa xa líu”
Diễn tả cảm giác vui vầy, ríu rít của đôi vợ
chồng được cùng làm lụng bên nhau, giúp đỡ
nhau
“Láng giềng ai hay, ức bởi xuân huyên”
Biểu đạt nỗi ấm ức, bất bình trước thực
tại, cố nén xuống bao nhiêu lại dội lên
bấy nhiêu
5. Cảnh ngộ đời sống cũng như niềm mong ước của Xúy Vân qua lời
thoại theo điệu “con gà rừng”
NHẬN XÉT HÀNH ĐỘNG GIẢ DẠI CỦA XÚY VÂN
Khát vọng mang tính chất
“vượt rào”, những đòi hỏi
về quyền tự quyết lối sống
hay quyền lựa chọn người
mình yêu
Việc khán giả bình dân xưa yêu
thích lớp chèo Xuý Vân giả dại
cho thấy câu chuyện của Xuý
Vân không phải là câu chuyện
cá biệt. Qua đây có thể nói,
nhân vật Xuý Vân đã nhận được
sự đồng cảm của bao nhiêu
người.
6. Đặc điểm của sân khấu chèo qua đoạn xưng danh của Xúy Vân
Xưng danh
Hình thức giới thiệu, thể hiện nhân vật rất riêng biệt của sân
khấu dân gian Việt Nam.
Hình thức xưng danh này đáp ứng yêu cầu của khán giả bình
dân muốn nắm bắt nhanh chóng về loại, đặc điểm và vai trò
của nhân vật, ngay từ lúc nhân vật vừa xuất hiện trên sân khấu
(nhân vật thuộc vai chín (tích cực) hay vai lệch (tiêu cực),
tính cách ra sao, có vị trí thế nào trong tích trò).
6. Đặc điểm của sân khấu chèo qua đoạn xưng danh của Xúy Vân
Nội dung
Danh tính, quê quán, thân phận, gia cảnh, tính cách,... của nhân vật
Qua lời chào hỏi kiểu như: “Chị em ơi!/ Ra đây có phải xưng danh không
nhỉ?” và tiếng đế: “Không xưng danh, ai biết là ai?”, có thể nhận ra giữa
khán giả và sân khấu không có khoảng cách nào đáng kể.
Sân khấu là một không gian được hình thành tự nhiên giữa vòng vây của
khán giả, gây cảm tưởng diễn viên là người vừa bước tách ra khỏi đám
đông để lên sàn diễn.
7. Đặc điểm của ngôn ngữ chèo được thể hiện qua đoạn trích
Lời thoại
nhân vật
Lời nói
Cách nói ví von giàu tính tự
sự trữ tình.
Ngôn ngữ đa thanh, đa
nghĩa.
Thơ
Thơ bốn chữ hay thơ lục bát, cách
ngắt nhịp và số tiếng, một phần có
thể do sự chi phối của điệu hát hay
ngữ điệu của lời nói thường.
7. Đặc điểm của ngôn ngữ chèo được thể hiện qua đoạn trích
Diễn xuất tuyệt vời của
các diễn viên
NGHỆ THUẬT CHÈO ĐƯỢC THỂ
HIỆN QUA ĐOẠN TRÍCH
Diễn xuất đầy tính biểu cảm của diễn
viên với sự kết hợp nói, hát, múa trên
nền hoà tấu của các nhạc cụ dân tộc
Tích trò rất quan trọng, có chức
năng làm điểm tựa cho hoạt
động diễn xuất của diễn viên
TIÊU CHÍ
Hình thức
(2 điểm)
Nội dung
(6 điểm)
Hiệu quả
nhóm
(2 điểm)
Điểm
TỔNG
CẦN CỐ GẮNG
ĐÃ LÀM TỐT
RẤT XUẤT SẮC
(0 – 4 điểm)
(5 – 7 điểm)
(8 – 10 điểm)
0 điểm
1 điểm
2 điểm
Bài làm còn sơ sài, trình bày Bài làm tương đối đẩy đủ, chỉn Bài làm tương đối đẩy đủ, chỉn chu
cẩu thả
chu
Trình bày cẩn thận
Sai lỗi chính tả
Trình bày cẩn thận
Không có lỗi chính tả
Không có lỗi chính tả
Có sự sáng tạo
1 - 3 điểm
4 – 5 điểm
6 điểm
Chưa trả lơi đúng câu hỏi Trả lời tương đối đầy đủ các câu Trả lời tương đối đầy đủ các câu hỏi
trọng tâm
hỏi gợi dẫn
gợi dẫn
Không trả lời đủ hết các câu Trả lời đúng trọng tâm
Trả lời đúng trọng tâm
hỏi gợi dẫn
Có ít nhất 1 – 2 ý mở rộng nâng Có nhiều hơn 2 ý mở rộng nâng cao
Nội dung sơ sài mới dừng lại cao
Có sự sáng tạo
ở mức độ biết và nhận diện
0 điểm
1 điểm
2 điểm
Các thành viên chưa gắn kết Hoạt động tương đối gắn kết, có Hoạt động gắn kết
chặt chẽ
tranh luận nhưng vẫn đi đến Có sự đồng thuận và nhiều ý tưởng
Vẫn còn trên 2 thành viên thông nhát
khác biệt, sáng tạo
không tham gia hoạt động
Vẫn còn 1 thành viên không tham Toàn bộ thành viên đều tham gia hoạt
gia hoạt động
động
03
Luyện tập
Nhiệm vụ
Giáo viên giao nhiệm vụ học tập:
Viết đoạn văn khoảng 150 chữ, trình bày suy nghĩ
của bạn về nỗi niềm của nhân vật Xúy Vân được thể
hiện qua lớp chèo Xúy Vân giả dại
Thời gian: 20 phút
TIÊU CHÍ
Hình thức
(3 điểm)
Nội dung
(7 điểm)
Điểm
TỔNG
CẦN CỐ GẮNG
(0 – 4 điểm)
ĐÃ LÀM TỐT
(5 – 7 điểm)
RẤT XUẤT SẮC
(8 – 10 điểm)
2 điểm
Bài làm tương đối
đẩy đủ, chỉn chu
Trình bày cẩn thận
Chuẩn kết câu
đoạn
Không có lỗi chính
tả
3 điểm
Bài làm tương đối đẩy đủ,
chỉn chu
Trình bày cẩn thận Chuẩn
kết câu đoạn
Không có lỗi chính tả
Có sự sáng tạo
1 – 4 điểm
5 – 6 điểm
Nội dung sơ sài mới dừng lại ở mức độ Nội dung đúng, đủ
biết và nhận diện
và trọng tâm
Có ít nhất 1 – 2 ý
mở rộng nâng cao
7 điểm
Nội dung đúng, đủ và
trọng tâm
Có ít nhất 1 – 2 ý mở rộng
nâng cao Có sự sáng tạo
1 điểm
Bài làm còn sơ sài, trình bày cẩu thả
Sai lỗi chính tả
Sai kết cấu đoạn
Bài văn mẫu
Trong lớp chèo Xúy Vân giả dại, Xúy Vân xuất hiện với hình ảnh người phụ nữ vừa
điên loạn lại vừa đáng thương. Nàng đang bị giằng xé giữa tâm trạng hối hận và nỗi
tủi nhục vì sự cười chê của người đời. Nàng hối hận, cảm thấy tội lỗi vì đã phụ bạc
Kim Nham, lại càng đau đớn vì bị Trần Phương bỏ rơi, Người phụ nữ không còn
điểm tựa này còn phải đối mặt với nỗi cười chê của láng giềng. Trong xã hội phong
kiến xưa, đây là một bi kịch lớn với người phụ nữ. Những câu nói điên loạn, kể lể
càng cho thấy sự tuyệt vọng và tủi hổ của nhân vật đã lên đến đỉnh điểm, nàng đang
bị mắc kẹt trong nỗi ám ảnh ấy mà không biết chia sẻ cùng ai nên càng rơi vào bế tắc.
Hình ảnh Xúy Vân trong lớp chèo này là đại diện cho cảnh ngộ của những người phụ
nữ xưa trong xã hội cũ, không được tự quyết định thân phận mình, đến khi muốn tìm
hạnh phúc lại bị rơi vào bi kịch.
04
Vận dụng
Nhiệm vụ
Giáo viên giao nhiệm vụ học tập:
HS liên hệ ý nghĩa đời sống văn hóa làng xã
của VN thưở xưa qua đoạn trích chèo
Thời gian: 20 phút
Gợi ý
Không gian quen thuộc của nông thôn Việt Nam xưa với các hình
ảnh như con sông, bến đò,... những cảnh sinh hoạt như gặt lúa,
mang cơm,...
Những thiết chế tinh thần ràng buộc đời sống con người như
quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và dư luận xã hội (rõ
ràng ở Xuý Vân luôn có một nỗi ám ảnh về tình trạng “chúng chê,
bạn cười”)...
Tin tưởng vào tín ngưỡng: “than cùng bà Nguyệt”, “ông Bụt”
Sự đồng vọng thắm thiết giữa những tấm lòng trong cộng đồng
làng xã mỗi khi các từ xưng hô như “chị em”, “bạn” vang lên. Hàng
xóm láng giềng sống với nhau gần gũi, đoàn kết:
 







Các ý kiến mới nhất