Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 6: Bài học cuộc sống - Đọc: Đẽo cày giữa đường (Ngụ ngôn Việt Nam).

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 21h:37' 20-01-2025
Dung lượng: 17.6 MB
Số lượt tải: 360
Số lượt thích: 0 người
BÀI 6

BÀI HỌC CUỘC SỐNG

Học ăn, học nói, học gói, học mở.
(Tục ngữ)

GIỚI THIỆU BÀI HỌC
HS đọc SGK và xác định:
- Chủ đề bài học:
“Bài học cuộc sống”: Chúng ta cần phải học suốt đời,
học trong sách vở, học ngoài đời sống, học ở mọi nơi
mọi lúc…
-Thể loại:
+Truyện ngụ ngôn
+Tục ngữ

TRI THỨC NGỮ VĂN
1. Truyện ngụ ngôn
HAI CON DÊ QUA CẦU
Ngày xửa ngày xưa, có một con dê trắng đang ăn cỏ
trên đoạn dốc đầy cỏ của ngọn đồi gần một con suối. Dê
trắng quyết định thưởng thức mùi vị cỏ trên ngọn đồi bên
kia.

Một lối đi hẹp dài được làm như một chiếc cầu
bắc ngang qua con suối. Trong khi đang vượt
qua cái cầu, dê trắng nhìn thấy một con dê đen
khác đang đến từ đồi bên kia.

Cái cầu quá nhỏ chỉ đủ cho một con đi qua mà thôi.

Dê trắng nói với con dê đen:
- Để tôi qua cầu trước.
Con dê đen trả lời:
- Bạn để tôi qua trước.

Chúng bắt đầu dọa nhau và cuối cùng một cuộc ẩu đả
khủng khiếp đã xảy ra.

Vì đối đầu mà dê đen và dê trắng đánh mất sự cân bằng
và cả hai cùng bị ngã xuống dòng suối.

Những con dê khác gặm cỏ trên ngọn đồi đã nhìn thấy
cảnh tượng đó và rút được một bài học.
Vài ngày sau, hai con dê khác cũng gặp chuyện như vậy.
Chúng cũng gặp nhau trên chiếc cầu đó và không thể đi qua
cầu được.
Một con dê nói với con dê khác:
- Tôi sẽ ngồi xuống và bạn có thể bước qua người tôi.
- Cảm ơn bạn nha! Lần sau, mình sẽ ngồi xuống và để
bạn bước qua trước.
Do đó, chúng đều vượt qua chiếc cầu an toàn.

Truyện ngụ ngôn

Một số đặc
điểm của
truyện ngụ
ngôn

là hình thức tự sự cỡ nhỏ, trình bày những bài học đạo lí
và kinh nghiệm sống, thường sử dụng lối diễn đạt ám
chỉ, ngụ ý, bóng gió.

Hình thức

ngắn gọn, được viết bằng văn xuôi
hoặc thơ.

Nhân vật

con người hoặc con vật, đồ vật được
nhân hóa.

Mục đích

thường nêu lên những tư tưởng, đạo lí
hay bài học cuộc sống bằng ngôn ngữ
giàu hình ảnh, có thể pha yếu tố hài hước.

2. Tục ngữ
Ví dụ:
-Ráng mỡ gà, có nhà thì giữ.
-Tấc đất tấc vàng.
-Một mặt người bằng mười mặt của.
-Đói cho sạch, rách cho thơm.
-Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Tục ngữ là gì ?

Tục ngữ thuộc loại sáng tác ngôn từ dân gian, là những
câu nói ngắn gọn, nhịp nhàng, cân đối, thường có vần
điệu, đúc kết nhận thức về tự nhiên và xã hội, kinh
nghiệm về đạo đức và ứng xử trong đời sống.

VĂN BẢN TRUYỆN NGỤ NGÔN

Khởi động
N
Ì
H
N
I
À
THỬ T
N
Ê
T
N
Á
O
Đ
H
N
A
R
T
TRUYỆN

CON CÁO VÀ CHÙM NHO

CHÂN,TAY, TAI, MẮT, MIỆNG

VE SẦU VÀ KIẾN

ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG

THẦY BÓI XEM VOI

THỎ VÀ RÙA

Văn bản 1

ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG

I. ĐỌC HIỂU CHUNG
1.Đọc và chú thích từ khó
-Đọc to, rõ, diễn cảm, pha chút giễu cợt.
- Chú ý lời thoại của nhân vật.
- Sử dụng chiến lược đọc (ở các thẻ bên phải).

Xưa có một người thợ mộc bỏ ra trăm quan tiền mua gỗ về để làm cái nghề đẽo cày
mà bán.
Cửa hàng anh ta mở bên đường. Ai qua đó cũng ghé vào coi. Người này thì nói:
“Phải đẽo cày cho cao, cho to, thì mới dễ cày”. Anh ta cho là phải, đẽo cày vừa to, vừa
cao. Người khác lại nói: “Có đẽo nhỏ hơn, thấp hơn thì mới dễ cày”. Anh ta cho là phải,
lại đẽo cày vừa nhỏ, vừa thấp. Sau lại có người bảo: “Nay ở trên ngàn, hiện có người
đang phá hoang bao nhiêu đồng ruộng và cày tinh bằng voi cả. Nếu đẽo cày cho thật
cao, thật to gấp đôi gấp ba thế này để voi cày được, bày ra hàng bán thì chắc là bán
được nhiều lắm, mà rồi lãi vô vàn”. Người thợ mộc nghe nói, liền đẽo ngay một lúc bao
nhiêu cày to gấp năm, gấp bảy thứ thường bày ra bán.
Nhưng qua bao nhiêu ngày tháng, chẳng thấy ai đến mua cho một cái nào, cũng
chẳng thấy ai nói voi đi cày ruộng cả. Thành ra có bao nhiêu gỗ hỏng bỏ hết và bao
nhiêu vốn liếng đi đời nhà ma sạch.
Người thợ mộc bây giờ mới biết dễ nghe người là dại. Nhưng quá muộn rồi, không
sao chữa được nữa!
Bởi chuyện này có thành ngữ: “Đẽo cày giữa đường”, để nói những người hay để tai
nghe làm theo thiên hạ đến nỗi mất cả cơ nghiệp.

2.Tìm hiểu chung
-Thể loại:
Truyện ngụ ngôn
-Xuất xứ:
Theo Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc,
Truyện cổ nước Nam, tập 1,
Thăng Long, 1958, tr.101-102
-Ngôi kể:
Ngôi thứ ba
-Phương thức biểu đạt:
Tự sự

-Bố cục:
+ Phần 1: Từ đầu đến “bày ra bán”: Người thợ mộc cùng
những lời khuyên của người qua đường.
+ Phần 2: Còn lại: Hậu quả của việc “đẽo cày giữa đường”
của anh thợ mộc.
-Tóm tắt tình huống, cốt truyện:
+Anh thợ mộc bỏ tiền mua gỗ về đẽo cày để bán.
+Mỗi lần có khách ghé vào và góp ý về việc đẽo cày, anh ta
đều làm theo.
+Cuối cùng, không ai đến mua cày, bao nhiêu vốn liếng mất
sạch.

II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1. Những lần góp ý và hành động của anh thợ mộc
Người
góp ý
Người
thứ
nhất
Người
thứ
hai
Người
thứ
ba

Nội dung góp ý

Hành động
của anh thợ mộc

Hậu quả

Nguyên
nhân

Người
góp ý
Người
thứ
nhất
Người
thứ
hai
Người
thứ
ba

Nguyên
Hậu quả
Nội dung góp ý
nhân
Không có
-Phải đẽo cày cho cao,
Chẳng thấy
sự suy xét,
cho to, thì mới dễ cày.
ai đến mua,
đánh giá
cũng chẳng
-Cho là phải, đẽo cày
- Có đẽo nhỏ hơn, thấp
đúng / sai,
thấy
ai
nói
vừa nhỏ vừa thấp.
hơn thì mới dễ cày.
không tìm
voi đi cày;
hiểu thực tế
bao nhiêu gỗ
mà chỉ
- Liền đẽo ngay một lúc hỏng hết,
- Đẽo cày cho thật cao,
nghe và tin
thật to gấp đôi gấp ba để bao nhiêu cày to gấp năm, vốn liếng đi
một cách
gấp bảy thứ thường.
đời nhà ma.
voi cày được.
mù quáng.
Hành động
của anh thợ mộc
-Cho là phải, đẽo cày
vừa to vừa cao.

- Nếu là người thợ mộc trong câu chuyện này, em sẽ làm gì trước
những lời khuyên như vậy?
Các em cần phân biệt:
+ “Dễ nghe người là dại”:
Không có sự suy xét, đánh giá đúng/sai, không tìm hiểu thực tế mà
chỉ nghe và tin một cách mù quáng.
+ “Biết lắng nghe góp ý”:
Phải biết lắng nghe ý kiến người khác một cách chọn lọc, có cân
nhắc, có suy nghĩ đúng đắn (biết lắng nghe một cách tích cực).

2.Bài học rút ra
Qua câu chuyện ngụ ngôn này, chúng ta
rút ra được bài học gì?
-Phải luôn tin tưởng vào bản thân, học
cách chủ động, cẩn trọng và có chính kiến
của mình trong bất cứ công việc nào.
- Cần phân biệt : Giữ vững ý kiến, quan
điểm lập trường khác hoàn toàn với thái
độ bảo thủ ngoan cố, không chịu tiếp thu
cái đúng, cái hay dẫn đến sự thất bại.
Chính kiến / chủ kiến: ý kiến, quan điểm riêng của
mình.

3.Nghệ thuật
- Xây dựng hình tượng quen thuộc, gần gũi.
- Cách nói ẩn dụ, bài học giáo huấn bằng câu chuyện kể tự
nhiên, nhẹ nhàng, ý vị nhưng độc đáo.
- Tình huống bất ngờ, hài hước, kín đáo.
Þ Câu chuyện ngụ ngôn thêm sinh động; những lời khuyên
bảo, răn dạy thấm thía, sâu sắc, “dễ lọt tai”: “Bài học luân
lí khô khan, khiến người ta dễ chán. Câu chuyện kể giúp
bài học luân lí dễ lọt tai hơn” (La Phông-ten).
-Ý vị: có ý nghĩa, gợi cảm xúc, gây được hứng thú.
-Giáo huấn: dạy bảo điều hay lẽ phải.

Văn bản 2

ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG
(Trang Tử)

Hãy chia sẻ cách hiểu của em về câu nói sau: "Anh ta nhận
ra mình chỉ là ếch ngồi đáy giếng mà thôi".
+Sự hiểu biết của mình là hữu hạn, mình thật là huênh
hoang, kiêu ngạo, không coi ai ra gì; mình cần phải biết
khiêm tốn và học hỏi nhiều hơn nữa.

I. ĐỌC HIỂU CHUNG
1.Đọc và chú thích từ khó
Đọc rõ ràng, rành mạch, thể hiện được sự ngông nghênh, kiêu ngạo
của ếch, xen chút hài hước; chú ý chỉ dẫn đọc màu vàng bên phải
mỗi phần.

Một con ếch nhỏ ngồi trong một cái giếng sụp nói với một con rùa lớn biển đông: “Tôi sung
sướng quá, tôi có thể ra khỏi giếng, nhảy lên miệng giếng, rồi lại vô giếng, ngồi nghỉ trong những kẽ
gạch của thành giếng. Bơi trong nước thì nước đỡ nách và cằm tôi, nhảy xuống bùn thì bùn lấp chân
tôi tới mắt cá. Ngó lại phía sau, thấy những con lăng quăng, con cua, con nòng ngọc, không con nào
sướng bằng tôi. Vả lại một mình chiếm một chỗ nước tụ, tự do bơi lội trong một cái giếng sụp, còn vui
gì hơn nữa? Sao anh không vô giếng tôi một lát coi cho biết?
Con rùa biển đông vừa mới muốn đút cái chân bên trái vô giếng thì thấy không còn chỗ vì cái
đùi bên phải đã bít cái giếng rồi. Nó từ từ rút chân ra, lùi lại, bảo con ếch:
-Biển đông mênh mông, ngàn dặm đã thấm gì, sâu thăm thẳm, ngàn nhẫn đã thấm gì. Thời vua
Vũ, cứ mười năm thì chin năm lụt, vậy mà mực nước ở biển không lên. Thời vua Thang, tám năm thì
bảy năm hạn hán, vậy mà bờ biển không lùi ra xa. Không vì thời gian ngắn hay dài mà thay đổi, không
vì mưa nhiều hay ít mà tăng giảm, đó là cái vui lớn của biển đông.
Con ếch trong cái giếng sụp nghe vậy ngạc nhiên, thu mình lại, hỏng hốt, bối rối.

2.Tìm hiểu chung
a.Tác giả:
-Trang Tử (khoảng năm 369 – 286 trước Công
nguyên) là một triết gia nổi tiếng của Trung
Quốc.
- Tác phẩm chính của ông: Trang Tử (còn gọi là
Nam Hoa Kinh).
b. Tác phẩm
-Thể loại: Truyện ngụ ngôn.
-Xuất xứ: Trích trong Thu Thủy ( thiên thứ 17)
của sách Trang Tử.
-Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
-Phương thức biểu đạt: Tự sự.

-Bố cục:
+ Phần 1: Từ đầu đến “coi cho biết” : Cuộc sống của con
ếch bên trong giếng sụp. (Ếch nói về những niềm sung sướng
của bản thân và mời rùa lớn biển đông xuống giếng.).
+ Phần 2: Còn lại: Con rùa cho ếch biết về cuộc sống của
mình ngoài biển đông. (Rùa lớn đặt chân liền lùi lại. Ếch
nghe rùa nói thì lắng nghe và suy nghĩ.).

-Tóm tắt tình huống, cốt truyện:
Một con ếch cảm thấy cuộc sống của mình bên trong
cái giếng nhỏ là sung sướng, tự do nhất đời, mời con rùa biển
đông vào giếng chơi cho biết. Con rùa không thể chui vừa
cái giếng nhỏ, bèn nói cho ếch nghe về sự rộng lớn của biển
đông. Con ếch nghe về biển bèn mới thu mình lại, hoảng hốt,
bối rối.

II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1.Những điều làm cho ếch cảm thấy sung sướng
Câu hỏi 3, SGK.
Những điều làm cho ếch cảm thấy sung sướng

Nhận xét: ếch thấy
sung sướng vì điều
gì?

- Tôi có thể ra khỏi giếng, nhảy lên miệng giếng, rồi lại vô giếng, ngồi
nghỉ trong những kẽ gạch của thành giếng. Bơi trong nước thì nước đỡ
nách và cằm tôi, nhảy xuống bùn thì bùn lấp chân tôi tới mắt cá.
=> Sung sướng vì có cuộc sống tự do tự tại.
- Ngó lại phía sau, thấy những con lăng quăng, con cua, con nòng nọc,
không con nào sướng bằng tôi.
=> Sung sướng vì thấy những con vật khác không bằng mình.
- Vả lại một mình chiếm một chỗ nước tụ, tự do bơi lội trong một cái
giếng sụp, còn vui gì hơn nữa?
=> Sung sướng vì tự hào với địa vị “chúa tể” của mình ở trong giếng.
- Sao anh không vô giếng tôi một lát coi cho biết?
=> Sung sướng đến mức khoe khoang với rùa về “thế giới trong giếng”
của mình.
Tự tại: Ung dung thảnh thơi, làm chủ bản thân và không bị ràng buộc.

2. Ảnh hưởng của môi trường sống đến nhận thức, cảm
xúc của ếch và rùa
Câu hỏi 4, SGK.
Nhân vật
Ếch
Rùa

Môi trường sống

Nhận thức và cảm xúc

a. Nhân vật ếch
-Không gian sống: cái giếng sụp  Chật hẹp
-Không gian vận động: chỉ từ miệng giếng vào
trong giếng  Chật hẹp
-Đối tượng tiếp xúc: (lăng quăng, con cua, nòng
nọc…)  những con vật nhỏ bé.
->Tự cảm thấy “sung sướng” với cái không gian
bé nhỏ của mình đang sống.
-> Ếch chưa hề biết đến sự rộng lớn và bao điều
mới lạ của thế giới bên ngoài.
=> Nhận thức nông cạn, kiêu căng.

b.Nhân vật rùa
-Không gian sống: biển  rộng lớn
-Thời gian sống: sống lâu (lớn đến nỗi không vào
được trong giếng).
-Trải nghiệm: đã đi đây đi đó, biết nhiều điều, chứng
kiến nhiều điều.
 Rùa lùi lại (không quan tâm đến cái giếng bé nhỏ
của ếch) và kể cho ếch biết niềm sung sướng mà rùa
được trải nghiệm “cái vui lớn của biển đông”.
=> Hiểu biết sâu rộng nhưng không kiêu căng; thâm
trầm, suy nghĩ sâu sắc, thấu đáo.

 Môi trường sống, không gian sống,
đối tượng tiếp xúc có ảnh hưởng rất
nhiều đến suy nghĩ, nhận thức và hành
động của mỗi người.

><

Nhân vật đại diện cho
những người có vốn
hiểu biết và vốn sống
hạn hẹp nhưng lại tự
cho rằng mình hiểu biết
và tự mãn với những gì
mình có.

Nhân vật đại diện cho
những người có vốn
hiểu biết và vốn sống
phong phú, đã đi
nhiều, có nhiều trải
nghiệm, nhưng khiêm
tốn, học hỏi.

3.Quá trình thay đổi của ếch
Câu 5, SGK.

a.Ban đầu:
Ếch tự tin, sung sướng

Sung
sướng vì
có cuộc
sống tự
do, tự tại.

Sung sướng
vì thấy
những con
vật khác
không bằng
mình

Sung
sướng vì
tự hào với
địa vị
“chúa tể”
của mình
ở trong
giếng

Sung sướng,
thoả mãn
đến nỗi khoe
khoang với
rùa về thế
giới trong
giếng của
mình

b) Những thay đổi của ếch sau khi nghe rùa kể về biển

Ngạc nhiên
Sự vĩ đại của biển
nằm ngoài hiểu
biết của ếch, khiến
ếch hoàn toàn bất
ngờ.

Thu mình lại

Hoảng hốt, bối rối

Niềm vui và niềm
tự hào của ếch bị
thay thế bởi cảm
giác nhỏ bé trước
sự vĩ đại của biển.

Cảm giác của ếch khi
mất niềm tin (bối rối)
vào những điều ếch đã
tin và tự hào trước đây,
choáng ngợp (hoảng
hốt) trước những điều
mới mẻ, lớn lao, vĩ đại
hơn những điều ếch đã
từng biết.

=> Xấu hổ vì nhận ra mình nông cạn, thiếu hiểu biết,
mà lại huênh hoang, kiêu ngạo.
 
Gửi ý kiến