Ngữ văn 9 - Cách sử dụng tài liệu tham khảo và trích dẫn tài liệu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lo Duc Ha
Ngày gửi: 08h:07' 03-12-2025
Dung lượng: 11.3 MB
Số lượt tải: 50
Nguồn:
Người gửi: Lo Duc Ha
Ngày gửi: 08h:07' 03-12-2025
Dung lượng: 11.3 MB
Số lượt tải: 50
Số lượt thích:
0 người
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG
CÁC THẦY CÔ GIÁO VÀ CÁC EM HỌC
SINH VỀ DỰ GIỜ THĂM LỚP
MÔN NGỮ VĂN LỚP 9
KHỞI ĐỘNG:QUAN SÁT HAI BỨC TRANH DƯỚI ĐÂY EM
HÃY TƯỞNG TƯỢNG CHUYỆN GÌ SẼ XẢY RA NẾU Ý TƯỞNG, BÀI
VIẾT CỦA EM BỊ NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG NHƯ LÀ CỦA RIÊNG
MÌNH?
Nếu ý tưởng hoặc bài viết của bạn bị người khác sử dụng như
của riêng họ, bạn có thể cảm thấy tức giận, tổn thương, bị coi
thường, mất đi sự tự tin và quyền sở hữu. Điều này
giống như việc tác phẩm bị đánh cắp, có thể
dẫn đến tranh cãi, mất uy tín hoặc gây ra
xung đột. Mặc dù có những trường hợp bị
đánh cắp có thể làm người khác hối hận và
thay đổi, nhưng hậu quả chính là sự mất mát
về mặt sáng tạo và công sức.
TIẾT 44:THỰC HÀNH
TIẾNG VIỆT
Một số lưu ý về
cách tham khảo
và trích dẫn tài
liệu
e
I. LÝ THUYẾT
1.Cách sử dụng tài
liệu tham khảo và
trích dẫn tài liệu
Vì sao khi viết, ta cần tham
khảo tài liệu từ các nguồn
khác nhau?
- Khi viết, cần tham khảo tài liệu từ các
nguồn khác nhau để tiếp cận vấn đề một
cách toàn diện và sâu sắc.
Tài liệu tham khảo có thể
được trích dẫn theo những
cách nào?
Tài liệu tham khảo có thể được trích dẫn
theo nhiều cách. Có thể chọn cách dẫn trực
tiếp hoặc cách dẫn gián tiếp tùy vào mục
đích của người viết.
? Khi trích dẫn tài liệu tham khảo, cần lưu ý điều gì?
Người viết cần nêu rõ tác giả được trích dẫn
và xuất xứ của tài liệu, đồng thời truyền tải
trung thực nội dung ý tưởng, thông tin được
trích dẫn để thể hiện sự tôn trọng đối với
công sức lao động của người khác và tránh
đạo văn.
Ví dụ:
(1) Trong mắt mọi người, Quỳnh chỉ là một thằng hề, để tiêu khiển,
để mua vui cho đám đông hồn nhiên, vô tâm: “Họ lấy anh làm trò
tiêu khiển. Anh giúp họ giải buồn hoặc thỏa mãn tính hiếu kì hoặc
lấp đầy những phút giây nhàn rỗi.”
(Trần Văn Toàn, Từ “Thằng quỷ nhỏ” của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ
về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi)
Ở ví dụ trên, tác giả đã trích dẫn theo cách đặt những
câu văn trích từ tác phẩm “Thằng quỷ nhỏ” của Nguyễn
Nhật Ánh trong dấu ngoặc kép. Đó là dẫn trực tiếp.
Ví dụ:
(2) Trần
Đình Sử quan niệm đọc văn chính là hành trình
người đọc khám phá ý nghĩa thú vị bên trong tác phẩm văn
chương, bởi theo ông, ý nghĩa của tác phẩm là điều có sức
hấp dẫn lớn đối với độc giả (“Đọc văn – cuộc chơi tìm ý
nghĩa”)
Ở ví dụ trên, ý kiến của nhà nghiên
cứu Trần Đình Sử được trích dẫn
theo lối gián tiếp.
Việc không dẫn nguồn tài liệu khi dùng lời
hoặc ý của người khác bị coi là đạo văn. Điều
này khác với việc trích dẫn theo cách gián
tiếp, vì khi trích dẫn gián tiếp, phần dẫn
không đặt trong dấu ngoặc kép nhưng
người viết vẫn nêu rõ tên tác giả và xuất xứ
của phần trích dẫn ( vào cuối câu hoặc
đoạn văn trích dẫn)
II.LUYỆN
TẬP
1. Bài tập 1/SGK101
PHIẾU HỌC TẬP
CÂU
a
b
CÁCH TRÍCH DẪN ĐÚNG
QUY ĐỊNH
KHẲNG ĐỊNH ĐÚNG QUY ĐỊNH
Bài tập 1: Trong hai cách trích dẫn tài liệu sau, cách nào đúng quy định?
Dựa vào đâu em xác định như vậy?
a. Cách 1: Một nền giáo dục phiến diện, có thể sản sinh ra những người nông
cạn về tinh thần, những con người một chiều kích.
Cách 2: Một nền giáo dục phiến diện, có thể sản sinh ra những người nông
cạn về tinh thần, “những con người một chiều kích” như Hơ-bớt Mác-kiu-dơ
(Herbert Marcuse) đã nói.
(Huỳnh Như Phương, Hãy cầm lấy và đọc)
Bài tập 1: Trong hai cách trích dẫn tài liệu sau, cách nào đúng quy định?
Dựa vào đâu em xác định như vậy?
b. Cách 1: Nhưng có một điều chắc chắn, để đi đến đích, em sẽ phải trải qua
không ít thử thách, gian nan. Những lúc như vậy, hãy luôn nhớ rằng, “Đường
đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e
sông.” (Nguyễn Bá Học).
(Theo Đoàn Công Lê Huy, Câu chuyện về con đường)
Cách 2: Nhưng có một điều chắc chắn, để đi đến đích, em sẽ phải trải qua
không ít thử thách, gian nan. Những lúc như vậy, hãy luôn nhớ rằng, đường đi
khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông.
PHIẾU HỌC TẬP ( PHIẾU CHẤM -Thang điểm:
10)
CÂU CÁCH TRÍCH DẪN ĐÚNG
QUY ĐỊNH
a
KHẲNG ĐỊNH ĐÚNG QUY ĐỊNH
-Tác giả đã tuân thủ các quy định về
- Cách trích dẫn thứ hai cách dẫn trực tiếp ( 1 điểm): đặt
(2 điểm)
phần dẫn trong dấu ngoặc kép
( 1 điểm) và ghi chú tên tác giả
( 1 điểm)
b - Cách trích dẫn thứ nhất -Tác giả đã tuân thủ các quy định về
(2 điểm)
cách dẫn trực tiếp ( 1 điểm): đặt
phần dẫn trong dấu ngoặc kép
( 1 điểm) và ghi chú tên tác giả
( 1 điểm)
BÀI TẬP 2/ SGK-102
PHIẾU HỌC TẬP
Câu
a
b
c
Dấu hiệu người viết Bài học trong việc
tuân thủ quy định khi tham khảo, trích
tham khảo tài liệu và
dẫn tài liệu
trích dẫn
Bài tập 2: Dấu hiệu nào trong các đoạn trích sau cho thấy người viết tuân
thủ quy định khi tham khảo tài liệu và trích dẫn? Từ đó, em rút ra bài
học gì trong việc tham khảo và trích dẫn tài liệu?
a. Vũ Nương trở về dương thế, nhưng chỉ hiện ra “ở giữa dòng mà nói vọng
vào: […] thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”. Ảo ảnh chập chờn và
mau chóng tan biến. Chia li là vĩnh viễn. Người chết chẳng thể nào sống lại:
“trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.
(Nguyễn Đăng Na, “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người)
Dấu hiệu cho thấy tác giả đã tuân thủ quy định khi tham khảo và trích dẫn tài
liệu là đặt phần dẫn trong dấu ngoặc kép.
Bài tập 2: Dấu hiệu nào trong các đoạn trích sau cho thấy người viết tuân
thủ quy định khi tham khảo tài liệu và trích dẫn? Từ đó, em rút ra bài
học gì trong việc tham khảo và trích dẫn tài liệu?
b. Sau này, tâm hồn thi ĩ, ngòi bút tài hoa của Hoàng cầm cũng khiến ta chẳng
thể nào quên nụ cười của những cô gái miền quê Kinh Bắc:
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng.
(Bên kia sông Đuống)
(Lê Quang Hưng, “Nắng mới” – sự thành thực của một tâm hồn giàu mơ
mộng)
Dấu hiệu cho thấy tác giả đã tuân thủ quy định khi tham khảo và trích dẫn tài
liệu là ghi rõ nguồn của hai câu thơ: “Những cô hàng xén răng đen/Cười như
mùa thu tỏa nắng (Trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” của tác giả Hoàng
Cầm)
Bài tập 2: Dấu hiệu nào trong các đoạn trích sau cho thấy người viết tuân
thủ quy định khi tham khảo tài liệu và trích dẫn? Từ đó, em rút ra bài
học gì trong việc tham khảo và trích dẫn tài liệu?
c. Từ hơn nửa thế kỉ trước đây, Nguyễn Tuân đã sớm cảm thấy cái sức truyền
cảm tuy kín đáo nhưng khó cưỡng lại ấy trong văn chương của Thạch Lam khi
viết một câu văn đúng và đẹp lạ lùng: “Đọc “Hai đứa trẻ”, thấy bận bịu vô
hạn về một tấm lòng quê hương êm mát và sâu kín.” (Nguyễn Tuân, “Thạch
Lam”, trích lại trong “Thạch Lam, văn và đời”)
(Đỗ Kim Hồi, Thạch Lam – Đôi điều cảm nhận)
Dấu hiệu cho thấy tác giả đã tuân thủ quy định khi tham khảo và trích dẫn tài
liệu là đặt phần dẫn trong dấu ngoặc kép, ghi rõ tên tác giả, tác phẩm trích dẫn
trong dấu ngoặc đơn bên cạnh.
Từ ba ví dụ trên, có thể rút ra bài học trong việc
tham khảo và trích dẫn tài liệu:
- Tùy vào mục đích viết và tính chất của văn bản,
người viết có thể trích dẫn theo nhiều cách và nêu
nguồn trích dẫn với các mức độ cụ thể khác nhau.
- Nêu rõ tác giả và xuất xứ của nguồn tài liệu.
- Truyền tải trung thực nội dung ý tưởng và thông tin
được trích dẫn.
LIÊN HỆ:Theo em, trong quá trình viết, sử dụng
tranh ảnh, biểu đồ, sơ đồ,…lấy từ Internet,
chúng ta có cần dẫn nguồn không? Vì sao?
Có nên dẫn nguồn:( VD: Nguồn internet,
đường link,…)
- Thể hiện sự tôn trọng ý tưởng của người khác.
- Sự văn minh của bản thân, tránh hành động
ĐẠO VĂN
Trích dẫn tài liệu là:
A. Lấy không ghi nguồn
C. Viết sáng tạo
B. Sao chép tác phẩm
D. Dùng lời người khác kèm nguồn
Mục đích của trích dẫn là:
B. Giảm suy nghĩ
A. Làm bài dài hơn giảm suy nghĩ
C. Tôn trọng tác giả, tăng độ tin cậy
D. Thay ý kiến cá nhân
Dùng ý tưởng người khác cần:
A. Không ghi nguồn
C. Bỏ qua nguồn
B. Ghi nguồn rõ ràng
D. Sao chép nguyên văn
Trích dẫn trực tiếp:
A. Không ngoặc kép
C. Viết lại ý
B. Có ngoặc kép
D. Không tên tác giả
Một trích dẫn đúng cần có:
A. Tên tác giả
C. Nguồn tài liệu
B. Tên tác giả, xuất xứ của tài liệu
D. Không cần thông tin
Phản biện : Có ý kiến cho rằng “Từ thiện
là phải thực hiện trong bóng tối”. Em có
đồng ý với ý kiến trên không? Tại sao ?
TỔ NGỮ VĂN – THPT CHUYÊN BẮC NINH
Hoạt động 2b: Tìm hiểu một số kĩ năng
rèn luyện tư duy phản biện trong môn
Ngữ văn
Nội dung 1: Tìm hiểu các đặt vấn đề có
tính tranh luận
Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập
GV: giới thiệu hoạt động tranh biện và chủ
đề của cuộc tranh biện
GV: phân công nhiệm vụ các nhóm: Mỗi
nhóm sẽ có 10 phút để chuẩn bị và thống
nhất phân công thành viên đại diện nhóm
tham gia tranh biện.
+ Nhóm 1: Đồng ý
+ Nhóm 2: Không đồng ý
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
HS lắng nghe và thực hiện nhiệm vụ theo
nhóm
Bước 3: Báo cáo thảo luận
HS tìm ý và sắp xếp ý tìm được theo ý kiến
mình bảo vệ.
Bước 4: Kết luận, nhận định
về tư tưởng của người cầm bút trước các vấn
đề xã hội hay vấn đề đặt ra từ tác phẩm văn
học.
+ Các vấn đề đặt ra có thể không mới, nhưng
đặt dưới các góc nhìn khác nhau, nhất là trong
một thời đại bùng nổ thông tin, khi học sinh
được tiếp cận với nhiều nguồn tin, nhận thức
sớm phát triển, thì những bài viết có tính phản
biện vẫn có thể đem đến một kiến giải mới.
Đó là lí do vì sao, nhiều khi bài làm của học
sinh còn sáng tạo hơn đáp án.
=> Chất văn được tạo nên từ nhiều yếu tố
mà m ột trong những yếu tố đó chính là chất
trí tuệ và tâm hồn của người viết. Đây cũng
chính là một yếu tố mà học sinh giỏi văn cần
phải đáp ứng được để tạo nên chất riêng.
II. Một số kĩ năng rèn luyện tư duy phản
biện trong môn Ngữ văn
1. Đặt ra vấn đề có tính tranh luận
- Việc đặt ra vấn đề có tính tranh luận có thể
thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác
nhau hoặc đặt ra các cách hiểu khác nhau đặt
ra từ một tác phẩm văn học.
Ví dụ thảo luận về vấn đề: Có ý kiến cho
rằng “Từ thiện là phải thực hiện trong
bóng tối”. Em có đồng ý với ý kiến trên
không? Tại sao?
Khi phát vấn, có học sinh đồng ý, có học
sinh không, GV chia lớp thành 2 nhóm
theo 2 luồng ý kiến rồi để các em tự tiến
hành tranh luận, phản biện với nhau:
“TỪ THIỆN LÀ PHẢI THỰC HIỆN
TRONG BÓNG TỐI”
Nhóm 1
(Đồng ý với ý kiến
Nhóm 2
(Không đồng ý với ý
TỔ NGỮ VĂN – THPT CHUYÊN BẮC NINH
trên) kiến trên)
- Từ thiện là hành
vi giúp người
nhưng không phải
tất cả hành động
giúp người nào
cũng được gọi là từ
thiện. Từ thiện
thường phải đi
chung với bất vụ lợi
(làm không vì lợi
ích riêng) và thiện
nguyện (tự nguyện
làm vì điều tốt), bởi
vậy nên từ thiện
nên diễn ra âm
thầm, lặng lẽ, mình
làm, mình biết, vậy
thôi.
- Nhưng có rất
nhiều hoạt động từ
thiện công khai đã
bị làm cho biến
tướng, mất đi ý
nghĩa nhân văn thực
sự của nó, khiến
người làm từ thiện
và người nhận từ
thiện đều bị soi
mói, phán xét, đặt
- Từ thiện là một việc
tốt, đã là việc tốt thì
nên có sự lan tỏa
trong cộng đồng, như
nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn từng viết: “Sống
trong đời sống cần có
một tấm lòng... để gió
cuốn đi”, nếu việc
thiện cũng được lan
tỏa như “gió cuốn đi”
thì lòng tốt mới được
nhân rộng cho cả
cộng đồng. Bởi vậy
các hoạt động từ thiện
nên công khai để tạo
ra những hiệu ứng
nhân văn, tích cực,
mạnh mẽ.
- Không thể chỉ vì
một vài hiện tượng
tiêu cực của một bộ
phận xã hội có nhận
thức không đầy đủ mà
cho rằng hoạt động từ
thiện cứ nên âm thầm,
lặng lẽ. Trước những
dư luận xấu như thế,
hoạt động từ thiện
càng phải công khai,
CÁC THẦY CÔ GIÁO VÀ CÁC EM HỌC
SINH VỀ DỰ GIỜ THĂM LỚP
MÔN NGỮ VĂN LỚP 9
KHỞI ĐỘNG:QUAN SÁT HAI BỨC TRANH DƯỚI ĐÂY EM
HÃY TƯỞNG TƯỢNG CHUYỆN GÌ SẼ XẢY RA NẾU Ý TƯỞNG, BÀI
VIẾT CỦA EM BỊ NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG NHƯ LÀ CỦA RIÊNG
MÌNH?
Nếu ý tưởng hoặc bài viết của bạn bị người khác sử dụng như
của riêng họ, bạn có thể cảm thấy tức giận, tổn thương, bị coi
thường, mất đi sự tự tin và quyền sở hữu. Điều này
giống như việc tác phẩm bị đánh cắp, có thể
dẫn đến tranh cãi, mất uy tín hoặc gây ra
xung đột. Mặc dù có những trường hợp bị
đánh cắp có thể làm người khác hối hận và
thay đổi, nhưng hậu quả chính là sự mất mát
về mặt sáng tạo và công sức.
TIẾT 44:THỰC HÀNH
TIẾNG VIỆT
Một số lưu ý về
cách tham khảo
và trích dẫn tài
liệu
e
I. LÝ THUYẾT
1.Cách sử dụng tài
liệu tham khảo và
trích dẫn tài liệu
Vì sao khi viết, ta cần tham
khảo tài liệu từ các nguồn
khác nhau?
- Khi viết, cần tham khảo tài liệu từ các
nguồn khác nhau để tiếp cận vấn đề một
cách toàn diện và sâu sắc.
Tài liệu tham khảo có thể
được trích dẫn theo những
cách nào?
Tài liệu tham khảo có thể được trích dẫn
theo nhiều cách. Có thể chọn cách dẫn trực
tiếp hoặc cách dẫn gián tiếp tùy vào mục
đích của người viết.
? Khi trích dẫn tài liệu tham khảo, cần lưu ý điều gì?
Người viết cần nêu rõ tác giả được trích dẫn
và xuất xứ của tài liệu, đồng thời truyền tải
trung thực nội dung ý tưởng, thông tin được
trích dẫn để thể hiện sự tôn trọng đối với
công sức lao động của người khác và tránh
đạo văn.
Ví dụ:
(1) Trong mắt mọi người, Quỳnh chỉ là một thằng hề, để tiêu khiển,
để mua vui cho đám đông hồn nhiên, vô tâm: “Họ lấy anh làm trò
tiêu khiển. Anh giúp họ giải buồn hoặc thỏa mãn tính hiếu kì hoặc
lấp đầy những phút giây nhàn rỗi.”
(Trần Văn Toàn, Từ “Thằng quỷ nhỏ” của Nguyễn Nhật Ánh nghĩ
về những phẩm chất của một tác phẩm viết cho thiếu nhi)
Ở ví dụ trên, tác giả đã trích dẫn theo cách đặt những
câu văn trích từ tác phẩm “Thằng quỷ nhỏ” của Nguyễn
Nhật Ánh trong dấu ngoặc kép. Đó là dẫn trực tiếp.
Ví dụ:
(2) Trần
Đình Sử quan niệm đọc văn chính là hành trình
người đọc khám phá ý nghĩa thú vị bên trong tác phẩm văn
chương, bởi theo ông, ý nghĩa của tác phẩm là điều có sức
hấp dẫn lớn đối với độc giả (“Đọc văn – cuộc chơi tìm ý
nghĩa”)
Ở ví dụ trên, ý kiến của nhà nghiên
cứu Trần Đình Sử được trích dẫn
theo lối gián tiếp.
Việc không dẫn nguồn tài liệu khi dùng lời
hoặc ý của người khác bị coi là đạo văn. Điều
này khác với việc trích dẫn theo cách gián
tiếp, vì khi trích dẫn gián tiếp, phần dẫn
không đặt trong dấu ngoặc kép nhưng
người viết vẫn nêu rõ tên tác giả và xuất xứ
của phần trích dẫn ( vào cuối câu hoặc
đoạn văn trích dẫn)
II.LUYỆN
TẬP
1. Bài tập 1/SGK101
PHIẾU HỌC TẬP
CÂU
a
b
CÁCH TRÍCH DẪN ĐÚNG
QUY ĐỊNH
KHẲNG ĐỊNH ĐÚNG QUY ĐỊNH
Bài tập 1: Trong hai cách trích dẫn tài liệu sau, cách nào đúng quy định?
Dựa vào đâu em xác định như vậy?
a. Cách 1: Một nền giáo dục phiến diện, có thể sản sinh ra những người nông
cạn về tinh thần, những con người một chiều kích.
Cách 2: Một nền giáo dục phiến diện, có thể sản sinh ra những người nông
cạn về tinh thần, “những con người một chiều kích” như Hơ-bớt Mác-kiu-dơ
(Herbert Marcuse) đã nói.
(Huỳnh Như Phương, Hãy cầm lấy và đọc)
Bài tập 1: Trong hai cách trích dẫn tài liệu sau, cách nào đúng quy định?
Dựa vào đâu em xác định như vậy?
b. Cách 1: Nhưng có một điều chắc chắn, để đi đến đích, em sẽ phải trải qua
không ít thử thách, gian nan. Những lúc như vậy, hãy luôn nhớ rằng, “Đường
đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e
sông.” (Nguyễn Bá Học).
(Theo Đoàn Công Lê Huy, Câu chuyện về con đường)
Cách 2: Nhưng có một điều chắc chắn, để đi đến đích, em sẽ phải trải qua
không ít thử thách, gian nan. Những lúc như vậy, hãy luôn nhớ rằng, đường đi
khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông.
PHIẾU HỌC TẬP ( PHIẾU CHẤM -Thang điểm:
10)
CÂU CÁCH TRÍCH DẪN ĐÚNG
QUY ĐỊNH
a
KHẲNG ĐỊNH ĐÚNG QUY ĐỊNH
-Tác giả đã tuân thủ các quy định về
- Cách trích dẫn thứ hai cách dẫn trực tiếp ( 1 điểm): đặt
(2 điểm)
phần dẫn trong dấu ngoặc kép
( 1 điểm) và ghi chú tên tác giả
( 1 điểm)
b - Cách trích dẫn thứ nhất -Tác giả đã tuân thủ các quy định về
(2 điểm)
cách dẫn trực tiếp ( 1 điểm): đặt
phần dẫn trong dấu ngoặc kép
( 1 điểm) và ghi chú tên tác giả
( 1 điểm)
BÀI TẬP 2/ SGK-102
PHIẾU HỌC TẬP
Câu
a
b
c
Dấu hiệu người viết Bài học trong việc
tuân thủ quy định khi tham khảo, trích
tham khảo tài liệu và
dẫn tài liệu
trích dẫn
Bài tập 2: Dấu hiệu nào trong các đoạn trích sau cho thấy người viết tuân
thủ quy định khi tham khảo tài liệu và trích dẫn? Từ đó, em rút ra bài
học gì trong việc tham khảo và trích dẫn tài liệu?
a. Vũ Nương trở về dương thế, nhưng chỉ hiện ra “ở giữa dòng mà nói vọng
vào: […] thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa”. Ảo ảnh chập chờn và
mau chóng tan biến. Chia li là vĩnh viễn. Người chết chẳng thể nào sống lại:
“trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.
(Nguyễn Đăng Na, “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người)
Dấu hiệu cho thấy tác giả đã tuân thủ quy định khi tham khảo và trích dẫn tài
liệu là đặt phần dẫn trong dấu ngoặc kép.
Bài tập 2: Dấu hiệu nào trong các đoạn trích sau cho thấy người viết tuân
thủ quy định khi tham khảo tài liệu và trích dẫn? Từ đó, em rút ra bài
học gì trong việc tham khảo và trích dẫn tài liệu?
b. Sau này, tâm hồn thi ĩ, ngòi bút tài hoa của Hoàng cầm cũng khiến ta chẳng
thể nào quên nụ cười của những cô gái miền quê Kinh Bắc:
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng.
(Bên kia sông Đuống)
(Lê Quang Hưng, “Nắng mới” – sự thành thực của một tâm hồn giàu mơ
mộng)
Dấu hiệu cho thấy tác giả đã tuân thủ quy định khi tham khảo và trích dẫn tài
liệu là ghi rõ nguồn của hai câu thơ: “Những cô hàng xén răng đen/Cười như
mùa thu tỏa nắng (Trong bài thơ “Bên kia sông Đuống” của tác giả Hoàng
Cầm)
Bài tập 2: Dấu hiệu nào trong các đoạn trích sau cho thấy người viết tuân
thủ quy định khi tham khảo tài liệu và trích dẫn? Từ đó, em rút ra bài
học gì trong việc tham khảo và trích dẫn tài liệu?
c. Từ hơn nửa thế kỉ trước đây, Nguyễn Tuân đã sớm cảm thấy cái sức truyền
cảm tuy kín đáo nhưng khó cưỡng lại ấy trong văn chương của Thạch Lam khi
viết một câu văn đúng và đẹp lạ lùng: “Đọc “Hai đứa trẻ”, thấy bận bịu vô
hạn về một tấm lòng quê hương êm mát và sâu kín.” (Nguyễn Tuân, “Thạch
Lam”, trích lại trong “Thạch Lam, văn và đời”)
(Đỗ Kim Hồi, Thạch Lam – Đôi điều cảm nhận)
Dấu hiệu cho thấy tác giả đã tuân thủ quy định khi tham khảo và trích dẫn tài
liệu là đặt phần dẫn trong dấu ngoặc kép, ghi rõ tên tác giả, tác phẩm trích dẫn
trong dấu ngoặc đơn bên cạnh.
Từ ba ví dụ trên, có thể rút ra bài học trong việc
tham khảo và trích dẫn tài liệu:
- Tùy vào mục đích viết và tính chất của văn bản,
người viết có thể trích dẫn theo nhiều cách và nêu
nguồn trích dẫn với các mức độ cụ thể khác nhau.
- Nêu rõ tác giả và xuất xứ của nguồn tài liệu.
- Truyền tải trung thực nội dung ý tưởng và thông tin
được trích dẫn.
LIÊN HỆ:Theo em, trong quá trình viết, sử dụng
tranh ảnh, biểu đồ, sơ đồ,…lấy từ Internet,
chúng ta có cần dẫn nguồn không? Vì sao?
Có nên dẫn nguồn:( VD: Nguồn internet,
đường link,…)
- Thể hiện sự tôn trọng ý tưởng của người khác.
- Sự văn minh của bản thân, tránh hành động
ĐẠO VĂN
Trích dẫn tài liệu là:
A. Lấy không ghi nguồn
C. Viết sáng tạo
B. Sao chép tác phẩm
D. Dùng lời người khác kèm nguồn
Mục đích của trích dẫn là:
B. Giảm suy nghĩ
A. Làm bài dài hơn giảm suy nghĩ
C. Tôn trọng tác giả, tăng độ tin cậy
D. Thay ý kiến cá nhân
Dùng ý tưởng người khác cần:
A. Không ghi nguồn
C. Bỏ qua nguồn
B. Ghi nguồn rõ ràng
D. Sao chép nguyên văn
Trích dẫn trực tiếp:
A. Không ngoặc kép
C. Viết lại ý
B. Có ngoặc kép
D. Không tên tác giả
Một trích dẫn đúng cần có:
A. Tên tác giả
C. Nguồn tài liệu
B. Tên tác giả, xuất xứ của tài liệu
D. Không cần thông tin
Phản biện : Có ý kiến cho rằng “Từ thiện
là phải thực hiện trong bóng tối”. Em có
đồng ý với ý kiến trên không? Tại sao ?
TỔ NGỮ VĂN – THPT CHUYÊN BẮC NINH
Hoạt động 2b: Tìm hiểu một số kĩ năng
rèn luyện tư duy phản biện trong môn
Ngữ văn
Nội dung 1: Tìm hiểu các đặt vấn đề có
tính tranh luận
Bước 1: Giao nhiệm vụ học tập
GV: giới thiệu hoạt động tranh biện và chủ
đề của cuộc tranh biện
GV: phân công nhiệm vụ các nhóm: Mỗi
nhóm sẽ có 10 phút để chuẩn bị và thống
nhất phân công thành viên đại diện nhóm
tham gia tranh biện.
+ Nhóm 1: Đồng ý
+ Nhóm 2: Không đồng ý
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
HS lắng nghe và thực hiện nhiệm vụ theo
nhóm
Bước 3: Báo cáo thảo luận
HS tìm ý và sắp xếp ý tìm được theo ý kiến
mình bảo vệ.
Bước 4: Kết luận, nhận định
về tư tưởng của người cầm bút trước các vấn
đề xã hội hay vấn đề đặt ra từ tác phẩm văn
học.
+ Các vấn đề đặt ra có thể không mới, nhưng
đặt dưới các góc nhìn khác nhau, nhất là trong
một thời đại bùng nổ thông tin, khi học sinh
được tiếp cận với nhiều nguồn tin, nhận thức
sớm phát triển, thì những bài viết có tính phản
biện vẫn có thể đem đến một kiến giải mới.
Đó là lí do vì sao, nhiều khi bài làm của học
sinh còn sáng tạo hơn đáp án.
=> Chất văn được tạo nên từ nhiều yếu tố
mà m ột trong những yếu tố đó chính là chất
trí tuệ và tâm hồn của người viết. Đây cũng
chính là một yếu tố mà học sinh giỏi văn cần
phải đáp ứng được để tạo nên chất riêng.
II. Một số kĩ năng rèn luyện tư duy phản
biện trong môn Ngữ văn
1. Đặt ra vấn đề có tính tranh luận
- Việc đặt ra vấn đề có tính tranh luận có thể
thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác
nhau hoặc đặt ra các cách hiểu khác nhau đặt
ra từ một tác phẩm văn học.
Ví dụ thảo luận về vấn đề: Có ý kiến cho
rằng “Từ thiện là phải thực hiện trong
bóng tối”. Em có đồng ý với ý kiến trên
không? Tại sao?
Khi phát vấn, có học sinh đồng ý, có học
sinh không, GV chia lớp thành 2 nhóm
theo 2 luồng ý kiến rồi để các em tự tiến
hành tranh luận, phản biện với nhau:
“TỪ THIỆN LÀ PHẢI THỰC HIỆN
TRONG BÓNG TỐI”
Nhóm 1
(Đồng ý với ý kiến
Nhóm 2
(Không đồng ý với ý
TỔ NGỮ VĂN – THPT CHUYÊN BẮC NINH
trên) kiến trên)
- Từ thiện là hành
vi giúp người
nhưng không phải
tất cả hành động
giúp người nào
cũng được gọi là từ
thiện. Từ thiện
thường phải đi
chung với bất vụ lợi
(làm không vì lợi
ích riêng) và thiện
nguyện (tự nguyện
làm vì điều tốt), bởi
vậy nên từ thiện
nên diễn ra âm
thầm, lặng lẽ, mình
làm, mình biết, vậy
thôi.
- Nhưng có rất
nhiều hoạt động từ
thiện công khai đã
bị làm cho biến
tướng, mất đi ý
nghĩa nhân văn thực
sự của nó, khiến
người làm từ thiện
và người nhận từ
thiện đều bị soi
mói, phán xét, đặt
- Từ thiện là một việc
tốt, đã là việc tốt thì
nên có sự lan tỏa
trong cộng đồng, như
nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn từng viết: “Sống
trong đời sống cần có
một tấm lòng... để gió
cuốn đi”, nếu việc
thiện cũng được lan
tỏa như “gió cuốn đi”
thì lòng tốt mới được
nhân rộng cho cả
cộng đồng. Bởi vậy
các hoạt động từ thiện
nên công khai để tạo
ra những hiệu ứng
nhân văn, tích cực,
mạnh mẽ.
- Không thể chỉ vì
một vài hiện tượng
tiêu cực của một bộ
phận xã hội có nhận
thức không đầy đủ mà
cho rằng hoạt động từ
thiện cứ nên âm thầm,
lặng lẽ. Trước những
dư luận xấu như thế,
hoạt động từ thiện
càng phải công khai,
 







Các ý kiến mới nhất