Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 8. Viết. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: trần thi thi
Ngày gửi: 17h:50' 13-03-2026
Dung lượng: 13.9 MB
Số lượt tải: 38
Số lượt thích: 0 người
Xem hình
ảnh
Đoán chủ đề

NGHỊ
LỰC
SỐNG

TINH THẦN
ĐOÀN KẾT

LÒNG
NHÂN
ÁI

Bài 8:
Truyện lịch sử và tiểu
thuyết
Viết
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG,
ĐẠO LÍ

I.
Định hướng

1. Khái niệm
- Bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bài văn thường tập trung làm
sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của một nhận định, một ý kiến về tư
tưởng, tình cảm hay quan niệm về lối sống, cách ứng xử ...
- Đề văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí thường lấy một câu danh ngôn,
tục ngữ, ca dao ... nào đó để nêu lên yêu cầu.
Đề 1. Suy nghĩ về câu tục ngữ. "Chết trong
còn hơn sống đục.".
Đề 2. Suy nghĩ về câu nói của danh tướng
Trần Bình Trọng: "Ta thà làm ma nước Nam
chứ không thèm làm vương đất Bắc."

2. Những điều cần chú ý
- Tìm hiểu kĩ nội dung, ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí được nêu trong
đề.
- Trình bày rõ ý kiến (đồng tình hay phản đối) của người viết về tư
tưởng, đạo lí ấy và lí giải vì sao.
- Tìm ý và lập dàn ý cho bài viết: Căn cứ vào đề để xác định cách
tìm ý cho phù hợp (đặt câu hỏi hoặc suy luận)
- Sử dụng lí lẽ và bằng chứng phù hợp để làm rõ ý kiến, tăng sức thuyết
phục cho bài viết

II.
Thực hành

Đề bài:
 Suy nghĩ về câu nói của danh tướng
Trần Bình Trọng: “Ta thà làm ma
nước Nam chứ không thèm làm
vương đất Bắc.”

1. Thực hành viết theo các bước
a. Chuẩn bị
- Đọc kĩ và tìm hiểu đề bài để định hướng cho bài viết:
+ Trọng tâm cần
làm rõ: tinh
thần bất khuất,
không chịu sống
nô lệ.

+ Kiểu văn bản
chính: nghị luận
về một tư tưởng,
đạo lí.

+ Phạm vi bằng chứng cần huy
động: bằng chứng thực tế; kiến thức
lịch sử, địa lí và thơ văn liên quan (ví
dụ: đoạn trích Bên bờ Thiên Mạc).

- Tìm hiểu nội dung, ý nghĩa câu nói của danh tướng Trần Bình
Trọng.

1. Thực hành viết theo các bước
b. Tìm ý và lập dàn ý
Think- pair- share
Định hướng
Câu nói của Trần Bình Trọng có ý nghĩa
gì?
Câu nói thể hiện tư tưởng, đạo lí sống
nào? Tại sao có thể nói như vậy?
Tư tưởng, đạo lí sống đó đã thể hiện như
thế nào (trong cuộc sống, văn học, nghệ
thuật, lịch sử,...)?
Giá trị của tư tưởng, đạo lí sống vừa nêu
là gì? Cần phê phán những biểu hiện
ngược lại với tư tưởng, đạo lí sống trên
như thế nào?

Dự kiến

Định hướng
Dự kiến
Câu nói của Trần Bình - Dùng cách nói khẳng định mạnh mẽ, lối so sánh:
Trọng có ý nghĩa gì?
ta thà…còn hơn
- Ma nước Nam: thà bị kẻ thì sát hại, chấp nhận
cái chết.
- Vương đất Bắc: đầu hàng quân giặc, trở thành
tay sai cho chúng để được sống sung sướng,
vương giả.
Câu nói thể hiện tư - Khẳng định tinh thần bất khuất, không cam
tưởng, đạo lí sống nào? chịu kiếp đời nô lệ.
Tại sao có thể nói như + Thể hiện khí tiết, phẩm cách, hào khí của một vị
vậy?
tướng.
+ Thể hiện sự hiên ngang, bất khuất.
+ Thể hiện tinh thần yêu nước.

Định hướng
Tư tưởng, đạo lí sống đó
đã thể hiện như thế nào
(trong cuộc sống, văn
học, nghệ thuật, lịch
sử,...)?
Giá trị của tư tưởng, đạo
lí sống vừa nêu là gì?
Cần phê phán những
biểu hiện ngược lại với
tư tưởng, đạo lí sống
trên như thế nào?

Dự kiến
- Bằng chứng từ thực tế, lịch sử: Trần Bình Trọng
không bị mua chuộc dụ dỗ bằng chức cao vọng
trọng, ông thà chấp nhận hi sinh chứ quyết không
làm lộ thông tin của triều đình…
- Bằng chứng thơ văn, nghệ thuật: chị Võ Thị Sáu,
anh hùng Nguyễn Văn Trỗi…
- Giá trị của đạo lí sống: định hướng về tư tưởng,
đánh thức thái độ, ý thức trách nhiệm của mỗi
người.
- Phê phán những biểu hiện luồn cúi, đê hèn, bán
nước, hại dân.

1. Thực hành viết theo các bước
– Lập dàn ý bằng cách sắp xếp các ý đã tìm được theo bố cục ba phần:
Mở bài - Giới thiệu Trần Bình Trọng và câu nói bất hủ.
- Phát triển các ý làm rõ cho vấn đề nêu ở mở bài:
+ Giải thích câu nói:
• Câu nói: “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất
Bắc." có nghĩa là gì?
• Tại sao “thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc"?
+ Chứng minh tính đúng đắn của câu nói:
Thân bài
• Các bằng chứng từ cuộc sống và lịch sử.
• Các bằng chứng từ thơ văn, nghệ thuật.
+ Bình luận câu nói:
• Khẳng định ý nghĩa và giá trị của câu nói.
• Phê phán tư tưởng, đạo lí sống ngược lại.
Kết bài - Khái quát lại các ý đã nêu và rút ra bài học cho thế hệ trẻ.

Dàn ý chung của bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.

Mở bài Nêu vấn đề cần bàn luận
- Giải thích vấn đề cần bàn luận (giải thích rõ nội dung, tư tưởng, đạo lí đó, đồng
thời giải thích rõ từ ngữ, khái niệm/thuật ngữ, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có))
- Phân tích và chứng minh
+ Nêu ra mặt đúng của tư tưởng, đạo lý đó
+ Dùng những lý lẽ, lập luận và dẫn chứng xảy ra trong xã hội thực tế để chứng
minh.
+ Chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống văn hóa xã
Thân hội
bài - Bình luận, mở rộng vấn đề
+ Bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến tư tưởng, đạo lý đó
+ Đưa ra dẫn chứng minh học, những tấm gương có thật trong đời sống
- Rút ra bài học và hành động
+ Đưa ra kết luận đúng để thuyết phục được người đọc và áp dụng đạo lý, tư tưởng
đó vào thực tiễn đời sống.
Kết bài Khẳng định lại ý kiến; rút ra giải pháp cho vấn đề.

1. Thực hành viết theo các bước
c. Viết
Khi viết, cần chú ý:
- Cách làm bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
- Quan hệ giữa các lí lẽ, bằng chứng trong bài nghị luận
- Cách chuyển ý giữa các đoạn văn

1. Thực hành viết theo các bước
d. Kiểm tra và chỉnh sửa
Phương diện
kiểm tra

Câu hỏi kiểm tra

Nội dung

- Mở bài: Đã giới thiệu khái quát vấn đề cần bàn luận chưa?
- Thân bài: Có giải thích câu nói, phân tích và chứng minh, bình luận và mở rộng câu
nói để làm sáng tỏ vấn đề đã nêu ở mở bài chưa?
+ Dẫn chứng, lí lẽ có rõ ràng, giàu sức thuyết phục không?
+ Có nêu được những suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc không?
- Kết bài: Đã khẳng định ý nghĩa của câu nói chưa? Nêu bài học cho thế hệ trẻ ngày
nay chưa?

Hình thức

- Bài viết đã có đủ ba phần chưa? Nội dung các phần có cân đối không?
- Bài viết đã đủ ý chưa? Các ý có phù hợp với vấn đề nghị luận và luận điểm không?
Có những ý nào trùng lặp nhau không?
- Giữa các đoạn đã có câu chuyển đoạn (liên kết đoạn) hay chưa?
- Đã kết hợp được các PTBĐ khác nhau khi viết hay chưa?
- Bài viết có mắc lỗi dùng từ, đặt câu, chính tả,... không?

Bài viết đáp ứng yêu cầu cần đạt ở mứuc độ nào?
Đánh giá chung - Em thấy hứng thú hay khó khăn nhất khi thực hiện phần nào trong tiến trình?

Đ



2. Rèn luyện kĩ năng viết: Quan hệ giữa vấn đề, ý kiến, lí lẽ và bằng
chứng, câu chuyển đoạn trong bài nghị luận
a. Cách thức
– Để có sức thuyết phục, văn nghị luận đòi hỏi việc trình bày vấn đề,
nêu ý kiến, lí lẽ và bằng chứng phải gắn bó chặt chẽ với nhau.
+ Vấn đề và ý kiến thường nêu khái quát ở phần mở bài; nhiều văn
bản thường nêu vấn đề ở nhan đề bài viết.

2. Rèn luyện kĩ năng viết: Quan hệ giữa vấn đề, ý kiến, lí lẽ và bằng
chứng, câu chuyển đoạn trong bài nghị luận
a. Cách thức
+ Vấn đề và ý kiến được làm sáng tỏ bằng các lí lẽ và bằng chứng theo
cách: nêu các ý lớn, tập trung làm sáng tỏ cho vấn đề, ý kiến; mỗi ý lớn là
một đoạn văn.
Đoạn 1 (ý 1)
Làm rõ vấn đề, ý kiến
Đoạn 2 (ý 2)

2. Rèn luyện kĩ năng viết: Quan hệ giữa vấn đề, ý kiến, lí lẽ và bằng
chứng, câu chuyển đoạn trong bài nghị luận
a. Cách thức
+ Mỗi đoạn văn gồm các lí lẽ và bằng chứng tập trung làm sáng tỏ cho ý
lớn.
Lí lẽ….
Đoạn 1 (ý 1)

Làm rõ ý 1
Dẫn chứng…

2. Rèn luyện kĩ năng viết: Quan hệ giữa vấn đề, ý kiến, lí lẽ và bằng
chứng, câu chuyển đoạn trong bài nghị luận
b. Câu chuyển đoạn
Để bài văn liền mạch, gắn bó nội dung giữa các phần với nhau, khi viết, cần
chú ý có các câu chuyển đoạn.
Ví dụ: “Giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, trong tác
phong, Hồ Chủ tịch cũng rất giản dị trong lời nói và bài viết ...”
(Phạm Văn Đồng, Đức tính giản dị của Bác Hồ).
 Đó là câu tác giả Phạm Văn Đồng dùng để chuyển từ đoạn nói về sự giản
dị trong đời sống  sang đoạn nêu lên sự giản dị trong cách viết, cách nói
của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Rèn luyện kĩ năng viết: Quan hệ giữa vấn đề, ý kiến, lí lẽ và bằng
chứng, câu chuyển đoạn trong bài nghị luận
b. Câu chuyển đoạn
Để bài văn liền mạch, gắn bó nội dung giữa các phần với nhau, khi viết, cần
chú ý có các câu chuyển đoạn.

c. Cách chuyển đoạn
Sử dụng các từ ngữ có tác dụng liên kết, hoặc câu để liên kết.
VD: Trước hết, bên cạnh đó, không những… mà còn,…
- Viết câu chuyển đoạn từ phần 1 (giải thích câu nói) sang phần 2 (chứng
minh tính đúng đắn của câu nói)

Ví dụ:
Lời thét mắng ấy thể hiện rõ quan điểm khẳng định Đại Việt là
một nước độc lập và có ý coi thường triều đình phương Bắc khi ông
chỉ gọi nhà Nguyên Mông là "đất Bắc". Lời thét mắng ấy của Trần
Bình Trọng khiến quân giặc giận tím mặt. Chúng giết ông ngay tức
khắc. Sử sách còn ghi lại thời điểm ấy là tháng Chạp năm Ất Dậu
(1285). Năm ấy, Trần Bình Trọng mới có 26 tuổi. Câu nói của ông đã
thể hiện tinh thần bất khuất và tấm lòng yêu nước to lớn của một vị
chính nhân quân tử. Câu nói ấy đến ngày nay vẫn còn truyền cảm
hứng cho nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam, để học biết sống và cống
hiến cho Tổ quốc.

CẶP ĐÔI CHIA
SẺ
Dựa vào dàn ý đã làm trong
mục 2.1. Thực hành viết theo
các bước, hãy lập sơ đồ quan
hệ giữa các đoạn văn trong
phần thân bài.

Nhóm 1: Đề 1. Suy nghĩ về câu
tục ngữ. "Chết trong còn hơn
sống đục.".

Nhóm 2: Đề 2. Suy nghĩ về câu
nói của danh tướng Trần Bình
Trọng: "Ta thà làm ma nước
Nam chứ không thèm làm vương
đất Bắc."

Bài viết tham khảo
Trong lịch sử nước Việt ta còn ghi lại rất nhiều câu nói bất hủ của các bậc anh
hùng dân tộc, làm rạng danh nước nhà. Một trong những câu nói bất hủ phải kể đến
là lời mắng: "Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc"
của danh tướng Trần Bình Trọng thời nhà Trần.
Câu chuyện Trần Bình Trọng hy sinh oanh liệt sau lời mắng nhiếc lũ giặc ngoại
xâm xảy ra dưới thời vua Trần Nhân Tông, trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 2 do sự chênh lệch quá lớn về quân số, mũi quân đánh chặn của Trần
Bình Trọng thất bại, Trần Bình Trọng bị bắt sống. Tuy nhiên, Trần Bình Trọng đã
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cầm chân địch khi chúng hoàn toàn mất dấu vết nhà
Trần sau trận đánh này.

Để moi móc thông tin, tướng giặc đã dùng mọi cách với Trần Bình Trọng, từ dọa
dẫm tới mềm mỏng. Nhưng Trần Bình Trọng quyết không nói nửa lời. Cuối cùng,
tướng giặc dụ dỗ sẽ xin phong vương nếu Trần Bình Trọng quy hàng, nhưng ông đã
khẳng khái thét mắng vào mặt chúng: "Ta thà làm ma nước Nam còn hơn làm
vương đất Bắc". Chúng ta có thể hiểu “ma nước Nam”: thà bị kẻ thì sát hại, chấp
nhận cái chết và “vương đất Bắc”: đầu hàng quân giặc, trở thành tay sai cho chúng
để được sống sung sướng, vương giả.
Lời thét mắng ấy thể hiện rõ quan điểm, khẳng định Đại Việt là một nước độc
lập và khẳng định tinh thần bất khuất, không cam chịu kiếp đời nô lệ. Bất bình
trước lời tuyên bố đó, quân địch đã giết ông ngay tức khắc. Sử sách còn ghi lại thời
điểm ấy là tháng Chạp năm Ất Dậu (1285). Năm ấy, Trần Bình Trọng mới có 26
tuổi. Câu nói của ông hơn thế nữa, đã thể hiện tinh thần bất khuất và tấm lòng yêu
nước to lớn của một vị chính nhân quân tử. Câu nói ấy đến ngày nay vẫn còn
truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam, để học biết sống và cống
hiến cho Tổ quốc.

Nhờ sự chiến đấu anh dũng và sự hy sinh oanh liệt, thà chết chứ không bị mua
chuộc, không bán nước cầu vinh, không làm lộ thông tin quân sự của triều đình,
của Trần Bình Trọng, triều đình nhà Trần mới có thời gian và điều kiện để chuẩn bị
lực lượng phản công. Sau đó chỉ vài tháng, quan quân nhà Trần đã dốc toàn lực
phản công, đập tan quân Nguyên Mông. Nhiều tướng giặc bị chém đầu tại trận,
trong đó có Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán. Cuộc chiến chống giặc Nguyên Mông lần
thứ 2 thắng lợi ròn rã nhờ công đóng góp không nhỏ của Trần Bình Trọng. Bởi thế,
khi xét công trạng, vua Nhân Tông đã truy phong ông là Bảo nghĩa vương.
Tiếp nối tinh thần yêu nước đó, Việt Nam tự hào trở thành một nước tuy nhỏ về
diện tích nhưng lớn mạnh về tinh thần hi sinh, quyết chiến để bảo vệ lãnh thổ. Chị
Võ Thị Sáu, anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, những cái tên rất quen thuộc đó đã ghi tên
mình vào tấm bia anh hùng, chiến sĩ hi sinh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vẹn tròn.

Câu nói ấy "Ta thà làm ma nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc"
rất đúng đắn, tưởng trừng đã tạo động lực to lớn của toàn nhân dân Việt Nam. Ấy
thế nhưng, vẫn còn một số thanh thiếu niên đi ngược lại với truyền thống đó: luồn
cúi, đê hèn, bán nước, hại dân….Thế những, đó chỉ là một phần nhỏ còn tồn tại
trong chúng ta ngày nay.
Cảm ơn tinh thần của Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng, cảm ơn những anh
hùng đã anh dũng hi sinh để chúng em ngày hôm nay được ngồi học trong môi
trường tốt đẹp, không khí trong lành. Trong em sẽ khắc ghi câu nói và tinh thần ấy,
dũng cảm vượt lên, cố gắng học tập vì một ngày mai tươi sáng của dân tộc.
 
Gửi ý kiến