Bài 1; Khái quát lịch sử Đảng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thị Diệu Thùy
Ngày gửi: 16h:32' 24-03-2026
Dung lượng: 393.3 KB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thị Diệu Thùy
Ngày gửi: 16h:32' 24-03-2026
Dung lượng: 393.3 KB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
Chuyên đề: KHÁI QUÁT LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NỘI DUNG BÀI GIẢNG
1
I. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, bước ngoặt quyết định của
cách mạng Việt Nam
2
II. Những thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh
đạo của Đảng
3
III. Những truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam
I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI, BƯỚC NGOẶT
QUYẾT ĐỊNH CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Tình hình xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Về chính
trị
Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, rồi từng bước thiết
lập chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta. Người Pháp
trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thi hành
chính sách cai trị chuyên chế.
Về kinh tế
Thực dân Pháp triệt để khai thác Đông Dương, thực hiện chính sách độc
quyền, kìm hãm sự phát triển kinh tế độc lập của nước ta.
Về văn
hóa-XH
Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, khuyến khích văn hoá nô dịch,
sùng Pháp, kìm hãm dân ta trong vòng tăm tối, dốt nát, lạc hậu, phục tùng sự
cai trị của chúng.
Quá trình khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp đã
làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn:
Hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản.
Nước ta từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến.
Trong xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc
Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ
yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai.
2. Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trước khi Đảng ra đời
Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào
chống thực dân Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau:
- Phong trào theo hệ tư tưởng nông dân, phong kiến.
- Phong trào theo hệ tư tưởng tư sản.
- Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản
3. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước
Ngày 3-6-1911,
Nguyễn Tất Thành lấy tên
là Văn Ba xin làm phụ
bếp trên tàu Đô đốc
Latútsơ Tơrêvin (Amiral
Latouche Tréville), một
tàu lớn vừa chở hàng vừa
chở khách của hãng Năm
Sao đang chuẩn bị rời
cảng Sài Gòn đi Mácxây
(Marseille), Pháp.
3. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội XVIII Đảng Xã hội Pháp ở Tours
3. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra nước ngoài, bắt
đầu đi tìm đường cứu nước.
Năm 1919, Người tham gia Đảng Xa hội Pháp.Tháng 6/1919 Người gửi bản Yêu sách
của nhân dân An Nam tới HN Vécxây, gây tiếng vang lớn trong dư luận quốc tế.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn
đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu
dân đúng đắn: Con đường cách mạng vô sản, Người đã không ngừng chuyền bá chủ nghĩa MácLênin vào trong nước (Báo Người cùng khổ, Nhân đạo, ...., tác phẩm “Bản án chế độ thực dân
Pháp”.
Tháng 11/1924, NAQ trở về Trung Quốc, trực tiếp chỉ đạo đào tạo bồi dưỡng những hạt
giống đỏ cho cách mạng, chuẩn bị thành lập chính Đảng vô sản ở Việt Nam.
4. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân phát
triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Vì vậy
các tổ chức đảng lần lượt được thành lập:
Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở
Bắc Kỳ.
Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở
Nam Kỳ.
Ngày 1-1-1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập
ở Trung Kỳ.
4. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
Từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng
sản họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự
chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng
Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược
vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
1
Đảng lãnh đạo và tổ chức các cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa giành
chính quyền – Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Qua 15 năm đầu tiên lãnh đạo cách mạng (1930 - 1945), trải qua các
cuộc đấu tranh gian khổ, với ba cao trào cách mạng lớn (1930 - 1931, 1936 1939, 1939 - 1945), khi thời cơ đến, Đảng đã lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa
Tháng Tám năm 1945 thành công.
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Dân tộc ta bước sang kỷ nguyên
mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
2
Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng và tiến
hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược (1945 - 1975)
a) Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng (1945-1946)
Ngay khi vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phải đối mặt với
những khó khăn, thách thức nghiệm trọng:
- Giặc đói
- Giặc dốt
- Giặc ngoại xâm
Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những chủ trương, quyết sách
đúng đắn trên tất cả các lĩnh vực, đã động viên được sức mạnh của toàn dân củng cố, giữ
vững chính quyền cách mạng.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM DƯỚI
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
b) Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954)
Đêm ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả
nước đồng loạt đứng lên với quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức
mình là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta
vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM DƯỚI
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
c) Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược
(1954-1975)
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam
bước vào thời kỳ mới với đặc điểm là đất nước tạm thời chia làm hai miền với hai chế
độ chính trị - xã hội đối lập nhau.
Tiến hành
đồng thời
hai nhiệm vụ
chiến lược
Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng
miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh của cách mạng cả nước.
tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam,
chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, thực
hiện thống nhất nước nhà.
Trải qua 21 năm chiến đấu kiên cường, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân
dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, được sự đồng tình ủng hộ
của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đã lần lượt đánh thắng các cuộc chiến
lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại bằng
không quân, hải quân ở miền Bắc.
Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với thắng lợi
của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
mở ra thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, thống nhất đi lên CNXH trên phạm vi cả
nước.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM DƯỚI SỰ
LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
3
Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa (từ năm 1975 đến nay)
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong 10 năm (1975-1985), Việt Nam đã vượt
qua những khó khăn, trở ngại, thu được những thành tựu quan trọng.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cũng còn nhiều mặt hạn chế; nền kinh tế
có mặt mất cân đối nghiêm trọng, tỷ lệ lạm phát cao quá mức, đất nước lâm
vào khủng hoảng kinh tế - xã hội.
- Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), Đảng đã nghiêm khắc kiểm điểm,
khẳng định những mặt làm được, phân tích rõ những sai lầm, khuyết điểm, đặc
biệt là khuyết điểm chủ quan, duy ý chí trong lãnh đạo kinh tế. Đại hội đã đề ra
đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
- Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII 1991 của Đảng đã thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến
lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
- Đại hội VIII của Đảng (từ ngày 22/6 đến ngày 01/7/1996) đã nhận định:
“Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
rất quan trọng. Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 - 1995 đã được hoàn
thành về cơ bản.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) Đại hội ban
hành Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010, đề ra mục tiêu sớm
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
- Đại hội X đã 2006 bổ sung, phát triển nhiều vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặt ra nhiệm vụ tổng kết 20 năm
thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Chiến lược 2001 - 2010.
Đại hội XI của Đảng năm 2011 đã tiến hành tổng kết 20 năm thực hiện
Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010 và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010.
Đại hội đã bổ sung, sửa đổi cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai
đoạn 2011-2020…
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Đại
hội XI đã rút ra một số kinh nghiệm:
1
Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và
mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH
2
Phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững
3
Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội
4
Đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức
5
Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo
III. NHỮNG TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
Bản lĩnh chính trị
vững vàng, kiên
định mục tiêu lý
tưởng cách mạng
Kiên định chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, nắm
vững ngọn cờ độc lập
dân tộc và CNXH
Kiên định nguyên
tắc tập trung dân
chủ trong tổ chức
và hoạt động của
Đảng
NHỮNG
TRUYỀN
THỐNG
QUÝ BÁU
CỦA ĐẢNG
CSVN
Tinh thần
độc lập, tự
chủ và sáng
tạo.
Trung thành với lợi
ích giai cấp, lợi ích
dân tộc, gắn bó mật
thiết với nhân dân
Giữ gìn đoàn kết
nội bộ, đoàn kết
quốc tế
KẾT LUẬN
Những truyền thống quý báu của Đảng là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân quốc tế, là sức
mạnh bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng.
Đó là kết quả của quá trình vun trồng, xây đắp bền bỉ, là sự hy sinh, phấn đấu
không mệt mỏi của các thế hệ đảng viên của Đảng.
Những truyền thống đó có ý nghĩa dân tộc và quốc tế sâu sắc, thể hiện tinh thần
cách mạng triệt để, trình độ trí tuệ ngày càng được nâng cao của Đảng ta.
Học tập, nghiên cứu lịch sử và truyền thống của Đảng để tự hào về Đảng và góp phần
giữ vững, kế thừa, phát huy những truyền thống đó, làm cho Đảng ngày càng trong sạch,
vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm thời đại
mới.
NỘI DUNG BÀI GIẢNG
1
I. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, bước ngoặt quyết định của
cách mạng Việt Nam
2
II. Những thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh
đạo của Đảng
3
III. Những truyền thống quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam
I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI, BƯỚC NGOẶT
QUYẾT ĐỊNH CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Tình hình xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Về chính
trị
Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam, rồi từng bước thiết
lập chế độ thống trị của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta. Người Pháp
trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thi hành
chính sách cai trị chuyên chế.
Về kinh tế
Thực dân Pháp triệt để khai thác Đông Dương, thực hiện chính sách độc
quyền, kìm hãm sự phát triển kinh tế độc lập của nước ta.
Về văn
hóa-XH
Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, khuyến khích văn hoá nô dịch,
sùng Pháp, kìm hãm dân ta trong vòng tăm tối, dốt nát, lạc hậu, phục tùng sự
cai trị của chúng.
Quá trình khai thác thuộc địa triệt để của thực dân Pháp đã
làm cho xã hội Việt Nam có những biến đổi lớn:
Hai giai cấp mới ra đời: giai cấp công nhân và giai cấp tư sản.
Nước ta từ chế độ phong kiến chuyển sang chế độ thuộc địa nửa phong kiến.
Trong xã hội tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc
Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ
yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai.
2. Phong trào đấu tranh của nhân dân ta trước khi Đảng ra đời
Từ năm 1858 đến trước năm 1930, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào
chống thực dân Pháp đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau:
- Phong trào theo hệ tư tưởng nông dân, phong kiến.
- Phong trào theo hệ tư tưởng tư sản.
- Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng vô sản
3. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước
Ngày 3-6-1911,
Nguyễn Tất Thành lấy tên
là Văn Ba xin làm phụ
bếp trên tàu Đô đốc
Latútsơ Tơrêvin (Amiral
Latouche Tréville), một
tàu lớn vừa chở hàng vừa
chở khách của hãng Năm
Sao đang chuẩn bị rời
cảng Sài Gòn đi Mácxây
(Marseille), Pháp.
3. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội XVIII Đảng Xã hội Pháp ở Tours
3. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước
Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) ra nước ngoài, bắt
đầu đi tìm đường cứu nước.
Năm 1919, Người tham gia Đảng Xa hội Pháp.Tháng 6/1919 Người gửi bản Yêu sách
của nhân dân An Nam tới HN Vécxây, gây tiếng vang lớn trong dư luận quốc tế.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn
đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin. Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu
dân đúng đắn: Con đường cách mạng vô sản, Người đã không ngừng chuyền bá chủ nghĩa MácLênin vào trong nước (Báo Người cùng khổ, Nhân đạo, ...., tác phẩm “Bản án chế độ thực dân
Pháp”.
Tháng 11/1924, NAQ trở về Trung Quốc, trực tiếp chỉ đạo đào tạo bồi dưỡng những hạt
giống đỏ cho cách mạng, chuẩn bị thành lập chính Đảng vô sản ở Việt Nam.
4. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân phát
triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Vì vậy
các tổ chức đảng lần lượt được thành lập:
Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở
Bắc Kỳ.
Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở
Nam Kỳ.
Ngày 1-1-1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập
ở Trung Kỳ.
4. Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
Từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng
sản họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự
chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng
Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược
vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
1
Đảng lãnh đạo và tổ chức các cuộc đấu tranh cách mạng, khởi nghĩa giành
chính quyền – Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Qua 15 năm đầu tiên lãnh đạo cách mạng (1930 - 1945), trải qua các
cuộc đấu tranh gian khổ, với ba cao trào cách mạng lớn (1930 - 1931, 1936 1939, 1939 - 1945), khi thời cơ đến, Đảng đã lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa
Tháng Tám năm 1945 thành công.
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Dân tộc ta bước sang kỷ nguyên
mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
2
Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng và tiến
hành thắng lợi các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm
lược (1945 - 1975)
a) Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng (1945-1946)
Ngay khi vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã phải đối mặt với
những khó khăn, thách thức nghiệm trọng:
- Giặc đói
- Giặc dốt
- Giặc ngoại xâm
Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những chủ trương, quyết sách
đúng đắn trên tất cả các lĩnh vực, đã động viên được sức mạnh của toàn dân củng cố, giữ
vững chính quyền cách mạng.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM DƯỚI
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
b) Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954)
Đêm ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả
nước đồng loạt đứng lên với quyết tâm “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức
mình là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta
vượt qua mọi khó khăn, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM DƯỚI
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
c) Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược
(1954-1975)
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam
bước vào thời kỳ mới với đặc điểm là đất nước tạm thời chia làm hai miền với hai chế
độ chính trị - xã hội đối lập nhau.
Tiến hành
đồng thời
hai nhiệm vụ
chiến lược
Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng
miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh của cách mạng cả nước.
tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam,
chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, thực
hiện thống nhất nước nhà.
Trải qua 21 năm chiến đấu kiên cường, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân
dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, được sự đồng tình ủng hộ
của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đã lần lượt đánh thắng các cuộc chiến
lược chiến tranh của đế quốc Mỹ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại bằng
không quân, hải quân ở miền Bắc.
Bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với thắng lợi
của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
mở ra thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, thống nhất đi lên CNXH trên phạm vi cả
nước.
II. NHỮNG THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM DƯỚI SỰ
LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
3
Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa (từ năm 1975 đến nay)
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong 10 năm (1975-1985), Việt Nam đã vượt
qua những khó khăn, trở ngại, thu được những thành tựu quan trọng.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cũng còn nhiều mặt hạn chế; nền kinh tế
có mặt mất cân đối nghiêm trọng, tỷ lệ lạm phát cao quá mức, đất nước lâm
vào khủng hoảng kinh tế - xã hội.
- Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), Đảng đã nghiêm khắc kiểm điểm,
khẳng định những mặt làm được, phân tích rõ những sai lầm, khuyết điểm, đặc
biệt là khuyết điểm chủ quan, duy ý chí trong lãnh đạo kinh tế. Đại hội đã đề ra
đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
- Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII 1991 của Đảng đã thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến
lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000.
- Đại hội VIII của Đảng (từ ngày 22/6 đến ngày 01/7/1996) đã nhận định:
“Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
rất quan trọng. Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 - 1995 đã được hoàn
thành về cơ bản.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) Đại hội ban
hành Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010, đề ra mục tiêu sớm
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
- Đại hội X đã 2006 bổ sung, phát triển nhiều vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặt ra nhiệm vụ tổng kết 20 năm
thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Chiến lược 2001 - 2010.
Đại hội XI của Đảng năm 2011 đã tiến hành tổng kết 20 năm thực hiện
Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010 và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010.
Đại hội đã bổ sung, sửa đổi cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai
đoạn 2011-2020…
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Đại
hội XI đã rút ra một số kinh nghiệm:
1
Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và
mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH
2
Phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững
3
Phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội
4
Đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức
5
Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo
III. NHỮNG TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
Bản lĩnh chính trị
vững vàng, kiên
định mục tiêu lý
tưởng cách mạng
Kiên định chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, nắm
vững ngọn cờ độc lập
dân tộc và CNXH
Kiên định nguyên
tắc tập trung dân
chủ trong tổ chức
và hoạt động của
Đảng
NHỮNG
TRUYỀN
THỐNG
QUÝ BÁU
CỦA ĐẢNG
CSVN
Tinh thần
độc lập, tự
chủ và sáng
tạo.
Trung thành với lợi
ích giai cấp, lợi ích
dân tộc, gắn bó mật
thiết với nhân dân
Giữ gìn đoàn kết
nội bộ, đoàn kết
quốc tế
KẾT LUẬN
Những truyền thống quý báu của Đảng là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp
của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân quốc tế, là sức
mạnh bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng.
Đó là kết quả của quá trình vun trồng, xây đắp bền bỉ, là sự hy sinh, phấn đấu
không mệt mỏi của các thế hệ đảng viên của Đảng.
Những truyền thống đó có ý nghĩa dân tộc và quốc tế sâu sắc, thể hiện tinh thần
cách mạng triệt để, trình độ trí tuệ ngày càng được nâng cao của Đảng ta.
Học tập, nghiên cứu lịch sử và truyền thống của Đảng để tự hào về Đảng và góp phần
giữ vững, kế thừa, phát huy những truyền thống đó, làm cho Đảng ngày càng trong sạch,
vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm thời đại
mới.
 








Các ý kiến mới nhất