Tiết 14. OBH: Đi cấy. TĐN: TĐN số 5

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Linh Anh
Ngày gửi: 22h:47' 19-02-2009
Dung lượng: 13.1 MB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Linh Anh
Ngày gửi: 22h:47' 19-02-2009
Dung lượng: 13.1 MB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
Nhiệt liệt chào mừng các Thầy giáo,
Cô giáo dự giờ Âm nhạc lớp 6
à
i
m
n
L
g
ê
N
đ
c
ò
L
ả
đ
ấ
T
t
r
á
i
h
a
ậ
y
t
L
à
T
h
1
5
4
3
2
6
Tên một bài hát của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước
Nốt nhạc đứng vị trí thứ 3 trong hàng 7 âm
Tên của một bài dân ca đồng bằng Bắc Bộ
Tựa đề bài TĐN số 3
Hai từ đầu tiên của bài hát
"Tiếng chuông và ngọn cờ"
Tiết 14
Ôn tập bài hát : Đi cấy
Ôn tập tập đọc nhạc : TĐN số 5
Âm nhạc thường thức: Một số
nhạc cụ Dân tộc phổ biến
Đi cấy
Dân ca: Thanh Hóa
Lên chùa bẻ một cành sen, lên chùa bẻ một cành sen ăn cơm bằng
đèn đi cấy sáng trăng. Ba bốn cô có hẹn cùng chăng có bạn cùng
chăng. Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài
thềm chơi trăng ngoài thềm ý rằng cầu cho
Cầu cho trong ấm êm êm lại ngoài êm
Sáo trúc là nh?c khí hoi ph? bi?n t?i Vi?t Nam
Được làm bằng tre, nứa, trúc, thổi ngang, (nên cũng có nơi gọi là sáo ngang)
Sáo có chiều dài 40-50cm, đường kính 1,5-2cm, ở phía đầu ống có một lỗ hinh bầu dục gọi là lỗ thổi
Âm thanh trong sáng, tươi tắn. Khi thổi sáo, thân sáo đặt nằm ngang bên phải, miệng đặt lên lỗ thổi.
Sáo có thể độc tấu, hoà tấu trong các dàn nhạc chèo, hát văn, tiểu nhạc. Ngoài ra sáo còn được cài vào diều thả lên cho gió thổi, người Việt gọi là "sáo diều"
- Dn B?u có tên ch? l D?c Huy?n C?m, l nh?c c? dn m?t dây c?a ngu?i Vi?t, g?y b?ng que ho?c mi?ng g?y.
Dn có hai lo?i l dn thân tre v dn h?p g?.
- Dn b?u du?c c?u t?o b?i m?t dây s?t m?c lên m?t chi?c h?p g? di kho?ng 1m, M?t d?u g?n vo c?n dn l m?t que tre nh? u?n cong n?i v?i m?t "h?p âm thanh" hình qu? b?u ? m?t d?u h?p, d?u dây kia g?n phía cu?i h?p.
Khi choi, cùng m?t lúc ngu?i ta dùng tay ph?i g?y lên dây dn, tay kia di?u ch?nh d? cang c?a dây b?ng cách u?n c?n dn d? t?o ra nh?ng âm thanh khác nhau.
Là nhạc khí dây gảy
Trước đây, đàn có 16 dây vì thế nên mới gọi là đàn thập lục (mười sáu). Đàn được gảy bằng các móng gảy lồng vào các đầu ngón tay.
Âm sắc của đàn thanh thoát trong trẻo. ở nước ta, đàn tranh được sử dụng trong âm nhạc của người Việt và người Việt gốc Hoa. đó là nhạc khí dùng để hoà tấu, độc tấu đệm cho hát và ngâm thơ. Nó có mặt trong nhiều thể loại ca nhạc nghi lễ tín ngưỡng cũng như đời thường.
- Đàn Nguyệt còn có tên gọi là Nguyệt cầm hay Đàn kìm
- Nhạc khí dây gảy của người Việt. Hộp cộng hưởng của đàn hình tròn dẹt trông giống như mặt trăng nên gọi là "đàn nguyệt".
Miền Bắc đàn Nguyệt đuợc sử dụng trong hát Chèo, hát Chầu văn. ở Miền Trung đàn Nguyệt gắn với ca Huế và ở Miền Nam đàn Nguyệt sử dụng trong các dàn nhạc Tài tử và Cải lương. Đàn nguyệt còn tham gia nhiều dàn nhạc Dân tộc khác như: Dàn nhạc Bát âm, dàn nhạc Lễ. Khi đệm cho hát Chầu văn chỉ cần một cây đàn Nguyệt cùng với hai nhạc khí Gõ cũng làm nên hiệu quả âm nhạc say đắm lòng người.
Đàn nhị
(Còn được gọi là đàn Cò)
Tên gọi "nhị" có nghĩa là "hai". Người Việt
đã dùng để đặt tên cho đàn bắt nguồn từ số lượng
cố định của dây đàn. Dùng cung để kéo
Phổ biến ở nhiều tộc từ Bắc tới Nam.
Người dân Nam bộ gọi là đàn Cò vì hình dáng giống như con cò, trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò, cần đàn như cổ cò, tiếng đàn lảnh lót như tiếng cò
Hộp cộng hưởng của loại đàn này có thể bằng gỗ hoặc một ống tre - nứa, một sọ dừa thậm trí cả mai rùa.
- Phát triển từ đàn Nhị nhưng to và dài hơn là đàn Gáo hay còn gọi là Đàn Hồ. đàn Gáo có màu âm trầm hơn đàn Nhị.
- Đàn Gáo luôn cặp kè chung với đàn Nhị trong các dàn nhạc sân khấu cổ truyền, Cải lương và trong phe văn của dan nhạc Lễ
- Gáo và Cò là sáng tạo ngôn ngữ có tính cách dân gian ở Nam Bộ. Miền Bắc gọi đàn Gáo là đàn Hồ
Nhạc cụ họ màng rung, chi vỗ của dân tộc Việt.
®ược gọi là "Trống Cơm" vì trước khi sử dụng, nhạc công dùng
cơm nóng nghiền nhuyễn gắn vào mặt trống để điều chỉnh độ cao
thấp của âm thanh.
Thân trống cơm có hình ống, hai đầu hơi múp, được làm từ một
khúc gỗ khoét rỗng dài khoảng 56 - 60 cm. Đường kính hai mặt
khoảng 15 - 17 cm
Hai ®Çu bịt bằng da trâu hoặc da bò, mặt trầm gọi là "mặt thổ", mặt cao là "mặt kim".
Một hệ thống dây chằng bằng da hoặc mây gọi là dây xạ có tác dụng làm căng, trùng hai mặt trống.
- Là nhạc cụ hòa tấu, được dùng trong nghi lễ phong tục và dàn nhạc chèo, âm thanh trống cơm trầm, vang, hơi đục.
Dàn nhạc Chèo
- Là nhạc khí gõ, họ màng rung của dân tộc Việt. Đúng như tên gọi Trống đế làm nhiệm vụ đế có nghĩa là lót, là chỗ dựa, làm điểm xuyết cho diễn viên khi biểu diễn và ca hát.
- Trống Đế có hai mặt hình tròn, đường kính khoảng 15 cm bưng bằng da nách của con trâu. Những nghệ nhân làm trống cho rằng da nách mỏng, dai và bền, đủ sức chịu đựng độ căng mặt trống. Tang trống cao khoảng 18 cm, khoét từ một khúc gỗ mít (gọi là tang liền). Dùi trống làm bằng gỗ cứng, dài khoảng 25 cm, một đầu to, một đầu nhỏ.
- Âm thanh Trống Đế nghe vui, cao, lảnh lót, hơi đanh nhưng gọn tiếng.
- Người ta đánh vào nhiều vị trí khác nhau trên trống đã tạo ra được nhiều âm thanh khác nhau Trống Đế có ở Việt Nam từ lâu đời. Trống được coi là nhạc khí gõ cao âm quan trọng, không thể thiếu trong sân khấu chèo truyền thống.
- Ngoài ra trống cũng được dùng trong một vài thể loại ca nhạc dân tộc khác như Ca Trù, Chầu Văn vv... Nhưng không phổ biến.
Dàn nhạc ả đào
Là nhạc cụ họ màng rung, chi gõ vỗ của tộc người Chăm
Ninh Thuận, Bình Thuận.
Trống chỉ có một mặt, đường kính khoảng 45 - 50 cm, bịt bằng
da hoẵng hoặc da dê. Tang trống liền làm từ gỗ lim hoặc gỗ cà chí
cao khoảng 9 cm. Mặt trống được căng bằng hai đai tròn làm từ
một đoạn mây song và một hệ thống dây chằng đan chéo nhau để
căng mặt trống. Từ giữa tang đến vành phía dưới là những con nêm
để căng trống khi bị trùng.
- Người đánh trống Paranưng được gọi là "ông thầy vỗ" vì khi
diễn tấu trống được đặt ở trước bụng, rồi sử dụng các ngón của
hai bàn tay vỗ (chứ không dùng dùi) vào những vị trí khác nhau trên mặt trống tạo các âm có mầu sắc: Tìn ; Tin; Tắc.
- Paranưng có chức năng vỗ nhịp đệm cho hát, hòa cùng nó thường là kèn Xaranai và trống Ghì Nằng. Người sử dụng Paranưng là ông Mưtuồn chủ lễ, có lẽ vì thế trống Paranưng trở thành một nhạc cụ quan trọng trong lễ hội của dân tộc Chăm.
1
2
3
4
Thập lục
Đàn nhị
Bầu, Sáo
Nhị, Thập lục
Sáo trúc
Tập đọc nhạc: TĐN số 5
Vào rừng hoa
Nhạc và lời: Việt Anh
Cầm tay nhau cùng đi chơi , đi khắp nơi hái bông hoa tươi
Vào đây chơi rừng hoa tươi , chim líu lo hát nghe vui vui.
Vào rừng xem hoa nghe tiếng chim rừng reo ca
Tìm vài bông hoa cùng hái đem về nhà
Vừa phải
Chúc các thầy cô giáo mạnh khoẻ, hạnh phúc.
Chúc các em học sinh học giỏi, hát hay.
Cô giáo dự giờ Âm nhạc lớp 6
à
i
m
n
L
g
ê
N
đ
c
ò
L
ả
đ
ấ
T
t
r
á
i
h
a
ậ
y
t
L
à
T
h
1
5
4
3
2
6
Tên một bài hát của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước
Nốt nhạc đứng vị trí thứ 3 trong hàng 7 âm
Tên của một bài dân ca đồng bằng Bắc Bộ
Tựa đề bài TĐN số 3
Hai từ đầu tiên của bài hát
"Tiếng chuông và ngọn cờ"
Tiết 14
Ôn tập bài hát : Đi cấy
Ôn tập tập đọc nhạc : TĐN số 5
Âm nhạc thường thức: Một số
nhạc cụ Dân tộc phổ biến
Đi cấy
Dân ca: Thanh Hóa
Lên chùa bẻ một cành sen, lên chùa bẻ một cành sen ăn cơm bằng
đèn đi cấy sáng trăng. Ba bốn cô có hẹn cùng chăng có bạn cùng
chăng. Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài
thềm chơi trăng ngoài thềm ý rằng cầu cho
Cầu cho trong ấm êm êm lại ngoài êm
Sáo trúc là nh?c khí hoi ph? bi?n t?i Vi?t Nam
Được làm bằng tre, nứa, trúc, thổi ngang, (nên cũng có nơi gọi là sáo ngang)
Sáo có chiều dài 40-50cm, đường kính 1,5-2cm, ở phía đầu ống có một lỗ hinh bầu dục gọi là lỗ thổi
Âm thanh trong sáng, tươi tắn. Khi thổi sáo, thân sáo đặt nằm ngang bên phải, miệng đặt lên lỗ thổi.
Sáo có thể độc tấu, hoà tấu trong các dàn nhạc chèo, hát văn, tiểu nhạc. Ngoài ra sáo còn được cài vào diều thả lên cho gió thổi, người Việt gọi là "sáo diều"
- Dn B?u có tên ch? l D?c Huy?n C?m, l nh?c c? dn m?t dây c?a ngu?i Vi?t, g?y b?ng que ho?c mi?ng g?y.
Dn có hai lo?i l dn thân tre v dn h?p g?.
- Dn b?u du?c c?u t?o b?i m?t dây s?t m?c lên m?t chi?c h?p g? di kho?ng 1m, M?t d?u g?n vo c?n dn l m?t que tre nh? u?n cong n?i v?i m?t "h?p âm thanh" hình qu? b?u ? m?t d?u h?p, d?u dây kia g?n phía cu?i h?p.
Khi choi, cùng m?t lúc ngu?i ta dùng tay ph?i g?y lên dây dn, tay kia di?u ch?nh d? cang c?a dây b?ng cách u?n c?n dn d? t?o ra nh?ng âm thanh khác nhau.
Là nhạc khí dây gảy
Trước đây, đàn có 16 dây vì thế nên mới gọi là đàn thập lục (mười sáu). Đàn được gảy bằng các móng gảy lồng vào các đầu ngón tay.
Âm sắc của đàn thanh thoát trong trẻo. ở nước ta, đàn tranh được sử dụng trong âm nhạc của người Việt và người Việt gốc Hoa. đó là nhạc khí dùng để hoà tấu, độc tấu đệm cho hát và ngâm thơ. Nó có mặt trong nhiều thể loại ca nhạc nghi lễ tín ngưỡng cũng như đời thường.
- Đàn Nguyệt còn có tên gọi là Nguyệt cầm hay Đàn kìm
- Nhạc khí dây gảy của người Việt. Hộp cộng hưởng của đàn hình tròn dẹt trông giống như mặt trăng nên gọi là "đàn nguyệt".
Miền Bắc đàn Nguyệt đuợc sử dụng trong hát Chèo, hát Chầu văn. ở Miền Trung đàn Nguyệt gắn với ca Huế và ở Miền Nam đàn Nguyệt sử dụng trong các dàn nhạc Tài tử và Cải lương. Đàn nguyệt còn tham gia nhiều dàn nhạc Dân tộc khác như: Dàn nhạc Bát âm, dàn nhạc Lễ. Khi đệm cho hát Chầu văn chỉ cần một cây đàn Nguyệt cùng với hai nhạc khí Gõ cũng làm nên hiệu quả âm nhạc say đắm lòng người.
Đàn nhị
(Còn được gọi là đàn Cò)
Tên gọi "nhị" có nghĩa là "hai". Người Việt
đã dùng để đặt tên cho đàn bắt nguồn từ số lượng
cố định của dây đàn. Dùng cung để kéo
Phổ biến ở nhiều tộc từ Bắc tới Nam.
Người dân Nam bộ gọi là đàn Cò vì hình dáng giống như con cò, trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò, cần đàn như cổ cò, tiếng đàn lảnh lót như tiếng cò
Hộp cộng hưởng của loại đàn này có thể bằng gỗ hoặc một ống tre - nứa, một sọ dừa thậm trí cả mai rùa.
- Phát triển từ đàn Nhị nhưng to và dài hơn là đàn Gáo hay còn gọi là Đàn Hồ. đàn Gáo có màu âm trầm hơn đàn Nhị.
- Đàn Gáo luôn cặp kè chung với đàn Nhị trong các dàn nhạc sân khấu cổ truyền, Cải lương và trong phe văn của dan nhạc Lễ
- Gáo và Cò là sáng tạo ngôn ngữ có tính cách dân gian ở Nam Bộ. Miền Bắc gọi đàn Gáo là đàn Hồ
Nhạc cụ họ màng rung, chi vỗ của dân tộc Việt.
®ược gọi là "Trống Cơm" vì trước khi sử dụng, nhạc công dùng
cơm nóng nghiền nhuyễn gắn vào mặt trống để điều chỉnh độ cao
thấp của âm thanh.
Thân trống cơm có hình ống, hai đầu hơi múp, được làm từ một
khúc gỗ khoét rỗng dài khoảng 56 - 60 cm. Đường kính hai mặt
khoảng 15 - 17 cm
Hai ®Çu bịt bằng da trâu hoặc da bò, mặt trầm gọi là "mặt thổ", mặt cao là "mặt kim".
Một hệ thống dây chằng bằng da hoặc mây gọi là dây xạ có tác dụng làm căng, trùng hai mặt trống.
- Là nhạc cụ hòa tấu, được dùng trong nghi lễ phong tục và dàn nhạc chèo, âm thanh trống cơm trầm, vang, hơi đục.
Dàn nhạc Chèo
- Là nhạc khí gõ, họ màng rung của dân tộc Việt. Đúng như tên gọi Trống đế làm nhiệm vụ đế có nghĩa là lót, là chỗ dựa, làm điểm xuyết cho diễn viên khi biểu diễn và ca hát.
- Trống Đế có hai mặt hình tròn, đường kính khoảng 15 cm bưng bằng da nách của con trâu. Những nghệ nhân làm trống cho rằng da nách mỏng, dai và bền, đủ sức chịu đựng độ căng mặt trống. Tang trống cao khoảng 18 cm, khoét từ một khúc gỗ mít (gọi là tang liền). Dùi trống làm bằng gỗ cứng, dài khoảng 25 cm, một đầu to, một đầu nhỏ.
- Âm thanh Trống Đế nghe vui, cao, lảnh lót, hơi đanh nhưng gọn tiếng.
- Người ta đánh vào nhiều vị trí khác nhau trên trống đã tạo ra được nhiều âm thanh khác nhau Trống Đế có ở Việt Nam từ lâu đời. Trống được coi là nhạc khí gõ cao âm quan trọng, không thể thiếu trong sân khấu chèo truyền thống.
- Ngoài ra trống cũng được dùng trong một vài thể loại ca nhạc dân tộc khác như Ca Trù, Chầu Văn vv... Nhưng không phổ biến.
Dàn nhạc ả đào
Là nhạc cụ họ màng rung, chi gõ vỗ của tộc người Chăm
Ninh Thuận, Bình Thuận.
Trống chỉ có một mặt, đường kính khoảng 45 - 50 cm, bịt bằng
da hoẵng hoặc da dê. Tang trống liền làm từ gỗ lim hoặc gỗ cà chí
cao khoảng 9 cm. Mặt trống được căng bằng hai đai tròn làm từ
một đoạn mây song và một hệ thống dây chằng đan chéo nhau để
căng mặt trống. Từ giữa tang đến vành phía dưới là những con nêm
để căng trống khi bị trùng.
- Người đánh trống Paranưng được gọi là "ông thầy vỗ" vì khi
diễn tấu trống được đặt ở trước bụng, rồi sử dụng các ngón của
hai bàn tay vỗ (chứ không dùng dùi) vào những vị trí khác nhau trên mặt trống tạo các âm có mầu sắc: Tìn ; Tin; Tắc.
- Paranưng có chức năng vỗ nhịp đệm cho hát, hòa cùng nó thường là kèn Xaranai và trống Ghì Nằng. Người sử dụng Paranưng là ông Mưtuồn chủ lễ, có lẽ vì thế trống Paranưng trở thành một nhạc cụ quan trọng trong lễ hội của dân tộc Chăm.
1
2
3
4
Thập lục
Đàn nhị
Bầu, Sáo
Nhị, Thập lục
Sáo trúc
Tập đọc nhạc: TĐN số 5
Vào rừng hoa
Nhạc và lời: Việt Anh
Cầm tay nhau cùng đi chơi , đi khắp nơi hái bông hoa tươi
Vào đây chơi rừng hoa tươi , chim líu lo hát nghe vui vui.
Vào rừng xem hoa nghe tiếng chim rừng reo ca
Tìm vài bông hoa cùng hái đem về nhà
Vừa phải
Chúc các thầy cô giáo mạnh khoẻ, hạnh phúc.
Chúc các em học sinh học giỏi, hát hay.
 







Các ý kiến mới nhất