Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

bác hồ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Vũ Nhật Minh
Ngày gửi: 16h:12' 14-10-2009
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 75
Số lượt thích: 0 người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
1) Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cộng đồng của dân tộc Việt Nam.
Quan điểm của CN Mác Lenin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.
Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới.
1.a) Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cộng đồng của dân tộc Việt Nam.

- Bác Hồ đã sớm nhận thức được vai trò của truyền thống yêu nước- đoàn kết của dân tộc. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là 1 truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành 1 làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước, lũ cướp nước.”
Đây cũng là cơ sở đầu tiên cho sự hình thành tư tưởng của Người về vấn đề đại đoàn kết dân tộc.


- Hồ Chí Minh đến với CN Mác Lênin vì CN này đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng.
1.b) Quan điểm của CN Mác Lenin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.
- Theo CN Mác Lê nin:
CM là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo lịch sử;
Giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò lãnh đạo CM phải trở thành dân tộc;
Liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của CM.
- Những quan điểm này giúp Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực, hạn chế sai xót  hình thành tư tưởng của Người về
đại đoàn kết dân tộc.


Người đã luôn chú ý nghiên cứu tổng kết những kinh nghiệm của phong trào yêu nước ở VN và thế giới, nhất là các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Điển hình là CM tháng 10 Nga. Những bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và giữ chính quyền CM, để xây dựng chế độ XHCN đã giúp bác thấy rõ tầm quan trọng của việc đoàn kết, tập hợp lực lượng.
1.c) Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới.

Và những kinh nghiệm được rút ra từ đó cũng là cơ sở thực tiễn cần thiết cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
2) Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.
Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc.
Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.
Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết của dân tộc; đồng thời phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin vào con người.

2.a) Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.

- Nguyên nhân thất bại của các cuộc đấu tranh cứu nước cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX ( Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…) là việc cả nước không đoàn kết thành một khối thống nhất.
- Đúc kết từ hiện thực CM vô sản thế giới, tiếp thu tinh hoa của CN Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận thấy rằng “ trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng con người, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thì chưa đủ; mà còn phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, phải xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc thì cách mạng mới có thể thành công, thành công đến nơi”.
- Do đó, đoàn kết dân tộc trở thành vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán, lâu dài và xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.
- Quá trình này cần quy tụ được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân. Trong từng giai đoạn, phải điều chỉnh phương pháp, chính sách cho phù hợp với từng đối tượng bởi nó là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng.
- Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều luận điểm về vấn đề này như:
“+ Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công;
+ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công.”

- Rõ ràng việc vận dụng thành công tư tưởng trên đã đưa dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: “Cách mạng tháng tám thành công, lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; lập lại hòa bình ở Đông Dương; giải phóng hoàn toàn miền Bắc; thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc…” (Trích Hồ Chí Minh toàn tập)
- Đối với Hồ Chí Minh, yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết là sức mạnh, là mạch nguồn của mọi thắng lợi. Bởi vì CM muốn thành công mà chỉ dựa vào đường lối đúng thì chưa đủ mà trên cơ sở đó, Đảng phải cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp phù hợp với từng giai đoạn. Từ đó mới tập hợp được quần chúng để tạo thực lực cho CM. Và thực lực đó chính là khối đại đoàn kết toàn dân đại đoàn kết là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và của mọi giai đoạn CM.(1)
Ở buổi ra mắt Đảng Lao Động VN ngày 3/3/1951, Bác Hồ đã tuyên bố trước toàn thể dân tộc mục đích của Đảng Lao Động VN gồm 8 chữ:
“Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ Quốc”.
- Bên cạnh đó, Người cũng nhấn mạnh vai trò to lớn của nhân dân.
Dân là gốc. đại đoàn kết là nhiệm vụ
CM là sự nghiệp của quần chúng, hàng đầu của cả nhân dân.(2)
do quần chúng, vì quần chúng.
Từ (1) và (2)  Nhiệm vụ và mục tiêu chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC.
Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, hướng dẫn, đoàn kết quần chúng tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập- tự do- hạnh phúc.
2.b) Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc
- Dân “mọi con dân nước Việt”.
“mỗi một người con Rồng cháu Tiên”.
không phân biệt “già, trẻ, trai, gái, giàu nghèo, quý tiện”.
không phân biệt tín ngưỡng.
không phân biệt đa hay thiểu số.
2.c) Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.
Dân vừa là mỗi con người, vừa là tập hợp quần chúng với những mối quan hệ cả quá khứ và hiện tại.
Dân là chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc.

Nói đến đại đoàn kết có nghĩa là phải tập hợp được mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh vì lợi ích, mục tiêu chung.
Người nói: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ Quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ Quốc thì ta đoàn kết với họ.”
- Ngoài ra, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh có lập trường giai cấp rõ ràng, đó là đại đoàn kết toàn dân với nồng cốt là khối liên minh công – nông – trí thức do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.
+ Người chỉ rõ: phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Công nông là cái nền của nhà, gốc cuả cây. Về sau, cộng thêm “lao động trí óc”.

Nền tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng được mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thề làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.
2.d) Thực hiện đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết của dân tộc; đồng thời phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin vào con người.

- Trong quá trình dựng nước và giữ nước của ông cha ta từ lâu đã nói lên điều đó. Truyền thống đó đã trở thành sức mạnh vô địch để cả dân tộc chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù, làm cho đất nước được trường tồn, bản sắc dân tộc được giữ vững.
- Ngón tay có ngón dài ngón ngắn nhưng đều nằm trên cùng một bàn tay. Người cũng có người này người kia nhưng đều cũng tổ tiên.Vậy nên ta phải có lòng khoan hồng, độ lượng. Bác Hồ nói: “…Con cháu Lạc Hồng ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với, đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải dùng tình cảm thân ái mà cảm hóa họ. Có thế mới thành đoàn kết, có thành đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang.”

Và cũng chính tư tưởng về tấm lòng nhân ái này đã vẽ nên bức chân dung tuyệt mĩ về một nhân cách cao đẹp của thế giới
-Hồ Chí Minh.
- Quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là quá trình tìm kiếm mô hình và cách thức tổ chức quần chúng nhân dân, nhằm tạo sức mạnh cho quần chúng trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình và giải phóng xã hội.

- Khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã rất chú ý đưa quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với từng giai cấp, từng ngành nghề, từng giới, từng lứa tuổi, từng tôn giáo phù hợp với từng giai đoạn của CM.
- Bên cạnh đó là sự kêu gọi người VN ở nước ngoài luôn hướng về tổ quốc, đều được coi là thành viên của mặt trận.

3) Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc.
Hình thức tổ chức của khối đại đoàn kết dân tộc là MTDT thống nhất.
Nguyên tắc cơ bản về xây dựng và hoạt động của MTDT thống nhất.
3.a) Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc là
Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, những lời kêu gọi mà phải là chiến lược CM, thành khẩu hiệu hành động của Đảng và dân tộc. Nó phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức. Tổ chức đó chính là Mặt trận dân tộc thống nhất.


Thất bại của những phong trào yêu nước trước khi Đảng ra đời là minh chứng nếu sự đoàn kết, sức mạnh của toàn dân nhưng chưa giác ngộ mục tiêu chiến đấu chung và hành động theo một đường lối chính trị đúng đắn.
3.b) Nguyên tắc cơ bản về xây dựng và hoạt động của MTDT thống nhất.


Thứ nhất:

Nền tảng của MTDT
NÔNG
CÔNG
TRÍ
Đảng lãnh đạo
- Phải trên cơ sở của khối liên minh cơ bản đó mà mở rộng Mặt trận, làm cho Mặt trận thực sự quy tụ được cả dân tộc, tập hợp được toàn dân, kết thành một khối vững chắc. Luôn luôn vận dụng đường lối, mục tiêu mà Đảng đề ra, từ đó phát huy rộng rãi khối đại đoàn kết.
NÔNG
CÔNG
TRÍ
NÔNG
CÔNG
Thứ hai: Đoàn kết phải xuất phát từ mục tiêu vì nước, vì dân, trên cơ sở yêu nước, thương dân, chống áp bức, bóc lột, nghèo nàn, lạc hậu.

Hồ Chí Minh cho rằng nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Sự đoàn kết lấy lợi ích tối cao cuả dân tộc, lợi ích căn bản của nhân dân lao động làm mục tiêu phấn đấu.
Và Người đã kết tinh vào tiêu chí của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là độc lập, tự do, hạnh phúc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.”
Thứ ba: Hoạt động của Mặt trận theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, bảo đảm đoàn kết ngày càng rộng rãi và bền vững.

- Do Mặt trận là một tổ chức chính trị gồm nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau nên khi có những lợi ích riêng biệt không phù hợp, Mặt trận sẽ giải quyết bằng việc nêu cao lợi ích chung của dân tộc bằng sự “vận động hiệp thương dân chủ”- vấn đề đem công khai cùng nhau bàn bạc để đi đến nhất trí loại trừ mọi sự áp đặt hoặc dân chủ hình thức.
Nếu giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích cá nhân trong Mặt trận sẽ góp phần thực hiện mục tiêu “ Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” mà Bác đã đề ra.
Thứ tư: Mặt trận dân tộc thống nhất là khối đoàn kết chặt chẽ, lâu dài, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Là một tập hợp nhiều giai tầng, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, nên giữa các thành viên của Mặt trận vẫn có những điểm khác nhau cần phải bàn bạc, hiệp thương dân chủ.
Phải khắc phục tình trạng đoàn kết xuôi chiều, đồng thời phải có tấm lòng nhân ái, khoan dung, độ lượng, học những cái tốt của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân.
Để giải quyết vấn đề này, một mặt, Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương châm “cầu đồng tồn dị” – lấy cái chung để hạn chế cái riêng, cái khác biệt; mặt khác, Người nêu rõ:“ Đoàn kết phải gắn với đấu tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết.”

Ý nghĩa tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.


Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc với cách mạng nước ta. Tư tưởng này có nhiều giá trị, biểu hiện tập trung ở những điểm chính sau:
- Đoàn kết là bài học hàng đầu và có tính chiến lược, quyết định mọi thành công. Biết đoàn kết thì vượt qua khó khăn thử thách, không đoàn kết, chia rẽ là thất bại.
- Đoàn kết phải có nguyên tắc, vì mục tiêu và lợi ích chung. Không đoàn kết một chiều, đoàn kết hình thức, nhất thời.
- Đoàn kết trong tổ chức, thông qua tổ chức để tạo nên sức mạnh. Đoàn kết cá nhân và đoàn kết tổ chức không tách rời nhau.
- Đoàn kết phải có nội dung thích hợp với từng địa phương, từng tổ chức, từng thời kỳ. Đoàn kết trong chính sách tập hợp các tầng lớp nhân dân.
- Đoàn kết đi liền với bao dung, thực hiện tính nhân đạo cao cả, hướng tới tương lai.
- Đoàn kết trong mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên cơ sở bảo vệ và tôn trọng lợi ích của mọi thành viên cộng đồng quốc gia, dân tộc, quốc tế./.
Đoàn kết là mong muốn lớn nhất của bác và suốt cuộc đời của mình Người đã dày công xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Và di chúc của Người để lại cho chúng ta cũng là minh chứng hùng hồn nhất cho những khắc khoải của Người: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.” (trích Di chúc của Bác)
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Quá trình nhận thức của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
Bác Hồ có niềm tin vững chắc vào sức mạnh dân tộc. Đó là chủ nghĩa yêu nước nồng nàn, là tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập, tự do, ý thức tự lập, tự cường….
Khát vọng đó chính là sức mạnh mà Bác Hồ ý thức được và ra sức giáo dục cán bộ, đảng viên và toàn dân ta quán triệt, giữ gìn và phát huy, biến thành hiện thực.

Khát vọng độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã thôi thúc Hồ Chí Minh hy sinh cả cuộc đời mình để thực hiện, và đó cũng là lý do hy sinh của bao thế hệ người Việt Nam hôm qua và hôm nay.
- Nhận thức của Bác Hồ về sức mạnh thời đại được hình thành từng bước, từ cảm tính đến lý tính, thông qua hoạt động thực tiễn mà kết luận.
Ra đi tìm đường cứu nước trong tư cách là người lao động, hòa mình trong môi trường hoạt động của giai cấp công nhân, Bác Hồ đã chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân các nước thuộc địa, Bác đã phát hiện ra mối tương đồng giữa các dân tộc bị áp bức
Bác làm phụ bếp
Người cho rằng trong hai hạng người đó, chỉ có hạng người nghèo, bị bóc lột là có tình hữu ái giai cấp thực sự.
Cơ sở đầu tiên để hình thành nhận thức: muốn giải phóng dân tộc mình cần thiết phải đoàn kết với các dân tộc khác cùng chung cảnh ngộ.
“Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”
- Bác cho rằng sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chính là kết hợp CN yêu nước chân chính với CN quốc tế vô sản, là phải xây dựng được khối liên minh chiến đấu giữa vô sản ở chính quốc với lao động ở thuộc địa, nhằm cùng lúc tiến công chủ nghĩa đế quốc ở hai đầu. CM vô sản ở chính quốc với CM ở thuộc địa phải cùng sánh vai nhau như thể "con chim hai cánh“.
Dùng “con chim 2 cánh” để giết “con đỉa 2 vòi”
Đỉa
- Người đã viết nhiều bài trên báo “Người cùng khổ” và báo “Nhân đạo” để truyền bá tư tưởng của mình trong giai cấp vô sản và nhân dân lao động khác cả ở chính quốc và cả thuộc địa.
Nguyễn Ái Quốc là linh hồn của tờ báo, vừa là chủ nhiệm, kiêm chủ bút, thủ quỹ, báo xuất bản bằng tiếng Pháp nhưng ở trang đầu còn có tên báo bằng chữ Ả rập và chữ Hán. Số đầu tiên của tờ báo ra ngày 1/4/1922, trong đó có lời kêu gọi nêu rõ: Báo Le Paria ra đời do sự thông cảm chung của các đồng chí ở Bắc-Trung Phi và Tây Phi thuộc Pháp, ở Ma-đa-gat-xca, ở Đông Dương, Ǎng ti…
Vì vậy, Bác Hồ ra sức kêu gọi hãy vì nền hòa bình thế giới, vì tự do và ấm no, những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại chống bọn áp bức.
- Báo kêu gọi họ đoàn kết lại để đấu tranh cho sự tiến bộ về vật chất và tinh thần của chính họ, hô hào họ tổ chức lại nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi những lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và hữu ái... Báo “Le Paria” là vũ khí chiến đấu. Sứ mệnh của nó đã rõ ràng: giải phóng con người.
Đây là một số hình ảnh Bác vẽ trong báo “Người cùng khổ” để lên án chế độ áp bức bóc lột của bọn thực dân.
Thêm vào đó, sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự hình thành, tồn tại và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã trở thành một nhân tố làm nên sức mạnh thời đại. Phong trào giải phóng dân tộc cùng với phong trào đấu tranh giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước tư bản đã góp phần làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, cũng tức là góp phần tích cực vào việc bảo vệ các nước xã hội chủ nghĩa.
Cũng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ cũng trở thành một nhân tố làm nên sức mạnh thời đại.

Người cũng chỉ rõ cho thanh niên thấy tầm quan trọng của việc ứng dụng khoa học kĩ thuật, từ đó Người nhắc nhở các thế hệ thanh niên tầm quan trọng của việc học tập.
“Non sông Việt Nam có vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần công học tập của các cháu.”
Khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc của Việt Nam,con đường cách mạng vô sản, cũng có nghĩa là Bác Hồ đã tìm được sức mạnh cho cách mạng Việt Nam, đó là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Càng về sau Người càng nhận thức được hoàn chỉnh tầm quan trọng và nội dung của việc kết hợp sức mạnh đó, coi đó là nhân tố cực kì quan trọng bảo đảm thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.
2) Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới.
Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Dựa vào sức mình là chính, tự chủ, tự lực, tự cường.
Có quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với tất cả các nước dân chủ” trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích, có lý, có tình.
2.a) Đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong sự gắn bó với cách mạng vô sản thế giới
Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động là thời đại đã chấm dứt sự tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra mối quan hệ quốc tế ngày càng rộng lớn giữa các dân tộc.
Do nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, Hồ Chí Minh đã sớm đến được với cánh tả của cách mạng Pháp, gặp được Luận cương của Lênin, tán thành Quốc tế III, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường CM vô sản.



Người viết: "Thời đại của CN tư bản lũng đoạn cũng là thời đại một nhóm nước lớn do bọn tư bản tài chính cầm đầu thống trị các nước phụ thuộc và nửa phụ thuộc, bởi vậy công cuộc giải phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng khít của CM vô sản.
Do đó mà trước hết nảy ra khả năng và sự cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung".
Sau khi nắm được đặc điểm của thời đại mới, Hồ Chí Minh đã hoạt động không mệt mỏi để gắn CM Việt Nam với CM thế giới.
Theo Người, "Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả". Do đó, cần phải "Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản".
Chính nhờ nắm bắt được đặc điểm và xu thế phát triển của thời đại mà Hồ Chí Minh đã xác định chính xác đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp CM đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường của CM vô sản.
2.b) Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng
Hồ Chí Minh là 1 nhà yêu nước chân chính, là nhà quốc tế chủ nghĩa trong sáng. Người đã suốt đời đấu tranh không mệt mỏi để củng cố và tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với các dân tộc khác.
Hồ Chí minh là người có đóng góp lớn vào lý luận Mác- Lênin về kết hợp chặt chẽ giữa CN yêu nước và CN quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Bác Hồ đã hoạt động không mệt mỏi để khôi phục sự đoàn kết quốc tế trên cơ sở những nguyên tắc của CN Mác Lenin và CN quốc tế vô sản.
Theo người: “ Đoàn kết quốc tế cũng là một nhân tố hết sức quan trọng giúp CM VN đi đến thắng lợi hoàn toàn của sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước đưa cả nước quá độ lên CN xã hội. Nhưng kết hợp quan điểm này cần chú ý phải đấu tranh chống mọi biểu hiện của CN Sô Vanh, CN dân tộc vị kỉ và mọi thứ CN cơ hội khác.
Dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình.
Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, bao giờ Hồ Chí Minh cũng tích cực quan tâm đến phát huy sức mạnh của dân tộc, coi nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định, còn nguồn lực ngoại sinh chỉ phát huy được tác dụng thông qua nguồn lực nội sinh.
Vì vậy, trong đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn nêu cao khẩu hiệu “tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp mình đã”.
2.c) Dựa vào sức mình là chính, tự chủ, tự lực, tự cường
Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập.
“Tự giải phóng” là tư tưởng, quan điểm lớn, xuyên suốt của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Người viết: Anh em làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của C. Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng mà anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.
Để tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới, Đảng ta và Hồ Chí Minh đề ra đường lối kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập, thống nhất của dân tộc mình với mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Người cho rằng: “Muốn tranh thủ được sức mạnh thời đại, ngoài sức mạnh cần thiết bên trong, còn phải có đường lối độc lập tự chủ đúng đắn mới tranh thủ được sức mạnh thời đại.”
Đảng và Bác đã đề ra đường lối kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập, thống nhất của dân tộc mình với mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CN XH.
Bác đã nhiều lần nhắc nhở: “ phải coi cuộc đấu tranh của bạn cũng như cuộc đấu tranh của ta… Người cùng một hội một thuyền phải giúp đỡ lẫn nhau.”
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình thế giới.

2.d) Có quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với tất cả các nước dân chủ” trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích, có lý, có tình.
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở 1 nước thuộc địa, phong kiến lạc hậu, bôn ba khắp thế giới đi tìm đường cứu nước, cứu dân nên Người thấu hiểu sâu sắc nỗi nhục mất nước của các dân tộc và sự thống khổ của nhân dân lao động tất cả các nước trên thế giới.
 Người luôn chăm lo xây dựng, vun đắp cho tình hữu nghị, hợp tác và đoàn kết giữa nhân dân các nước theo tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em”.
- Thực hiện quan điểm đối thoại hòa bình, bác Hồ đã vừa cứng rắn về nguyên tắc, về mềm dẻo về sách lược, “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Phong cách đối ngoại của bác là phong cach ứng xử có văn hóa, hạt nhân là ứng xử có lý có tình. Điều này được minh chứng rất cụ thể khi các nhà báo châu Âu viết bài về Bác.

- Trong đoàn kết hợp tác quốc tế cũng phải luôn chú trọng lợi ích của nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mình đã hưởng cái hay của người thì phải có cái hay cho người ta hưởng. Mình đừng chịu vay mà không trả”.
Cùng các đồng chí Lào đi thăm tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tại lễ đài bạn đã ứng khẩu mấy vần thơ sau để nói về tinh thần thân ái giữa 2 nước Việt- Lào
Thương nhau mấy núi cũng trèo,
 Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Việt – Lào hai nước chúng ta,
 Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.
Bác dành trọn một đời vì nước vì dân, vì nền hòa bình của nhân loại. Trước lúc Người đi xa, Người đã để lại cho nhân loại một bản di chúc thấm đẫm tính nhân văn. Chính qua bản di chúc này, chúng ta lại càng thấy rõ hơn tầm quan trọng trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
“VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI - là một người suốt đời phục vụ CM, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các Đảng anh em!
Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và CN quốc tế vô sản, có lý , có tình.
Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.”( trích Di chúc của Bác)
Cám ơn các bạn đã lắng nghe bài thuyết trình của lớp Tiểu học 2.
468x90
 
Gửi ý kiến