Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

KNTT - Bài 3. Lịch sử và văn hóa truyền thống địa phương em

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mac Van Duong
Ngày gửi: 13h:55' 24-09-2024
Dung lượng: 3.9 MB
Số lượt tải: 305
Số lượt thích: 0 người
2. Tìm hiểu và kể
chuyện về danh
nhân

Kể lại câu chuyện về một danh nhân ở địa phương
(theo gợi ý dưới đây):

Tên
danh
nhân

Danh nhân đó
gắn với câu
chuyện nào?
Kể vắn tắt nội
dung câu
chuyện.

Em học
được
điều gì
từ danh
nhân
đó?

Triệu Thị Trinh (226-248)
Triệu Thị Trinh, mà dân gian gọi là Bà Triệu, hay Triệu Trinh
Nương, sinh ngày 02 tháng 10 năm Bính Ngọ (226) tại miền núi Quan
Yên, quận Cửu Chân, nay thuộc huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Dân
gian truyền lại rằng, từ nhỏ, Triệu Thị Trinh đã tỏ ra là người mạnh mẽ,
thông minh, tài sắc khác thường. Năm 17, 18 tuổi,  Triệu Trinh Nương
cùng anh là Triệu Quốc Đạt chiêu mộ trai tráng, tập hợp quân sĩ dấy
binh khởi nghĩa ở đất Quan Yên, được dân chúng khắp vùng nô nức
tham gia. Ngày này, vùng đất này vẫn còn lưu truyền nhiều huyền thoại
về nữ anh hùng.
Từ miền đất Quan Yên, Bà Triệu cùng nghĩa quân vượt sông Chu tiến về ngàn Nưa, sau đó vượt
sông Mã ra Bồ Điền, nay thuộc xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc.  Từ căn cứ Phú Điền - nghĩa quân nhanh
chóng thu phục được các thành, ấp ở quận Cửu Chân và một số vùng của quận Giao Chỉ. Cuộc khởi nghĩa
lan rộng như vũ bão và làm “ Chấn động Giao Châu” lúc bấy giờ.
Năm 248, Ngô Triều phải phái Lục Dận đem theo tám nghìn quân tinh nhuệ để đàn áp cuộc khởi nghĩa của
Bà Triệu. Do lực lượng nghĩa quân còn non trẻ, không đủ sức chống lại một đạo quân lớn hơn mình gấp
bội, trong một trận huyết chiến với quân thù, trước thế mạnh và mưu kế hiểm độc, đê hèn của giặc, bà
Triệu đã tuẫn tiết ở núi Tùng, xã Phú Điền, huyện Hậu Lộc vào ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn (năm 248)
lúc bà 22 tuổi xuân.

LÊ LỢI (Lê Thái Tổ).
     Sinh năm 1385; Mất năm 1433.
     Quê quán: Xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá
* Cuộc đời và sự nghiệp:
         Lê Lợi - Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Khởi nghĩa Lam
Sơn, người sáng lập ra nhà Hậu Lê. 
        Lê Lợi xuất thân là hào trưởng, có uy tín và ảnh hưởng lớn trong
vùng. Quân Minh nhiều lần dụ ra làm quan, nhưng đều từ chối.
        Năm 1416, Lê Lợi cùng 18 người bạn thân tín mở lễ hội thề Lũng
Nhai.
        Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, xưng là Bình Định Vương,
được nhân dân và hào kiệt khắp nơi hưởng ứng. 
        Dưới sự lãnh đạo và tài cầm quân của Lê Lợi, nghĩa quân ngày
càng phát triển lớn mạnh, trở thành đội quân tinh nhuệ có tổ chức, kỷ
luật nghiêm gắn bó với dân. 
        Trong 10 năm chiến đấu, Lê Lợi đã chỉ huy đánh hàng trăm trận,
giải phóng đất nước. Khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng
chống Minh (1418 -1427).
        Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, đặt lại tên nước là Đại Việt, đóng
đô ở Đông Quan, đến năm 1430, đổi là Đông Kinh, lập lại quan hệ bình
thường với nhà Minh, ban phép “ngụ binh cư nông”, tổ chức việc học
tập, thi cử tuyển lựa nhân tài cho đất nước. 
        Sau đó Nguyễn Trãi viết bia Vĩnh Lăng (Lam Sơn, Thanh Hoá)
ghi lại công lao, sự nghiệp vĩ đại của Lê Lợi.

Thám hoa Nguyễn Sư Lộ (1519 - ...)

Cụ Nguyễn Sư Lộ sinh năm 1519, là trưởng nam của
cụ Nguyễn Thái Bảo và Từ Hạnh phu nhân, quê ở làng Bột
Hưng, tổng Hành Vỹ, nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa,
tỉnh Thanh Hóa.
Cụ chăm học từ thuở bé, năm 1554 thi đỗ Chế khoa đệ
giáp nhất Tiến sĩ, cập đệ đệ tam danh, được ghi trên bia Tiến sĩ
tại Văn Miếu (Hà Nội). Thời Tiền Lê, cụ giữ chức Lại Bộ Hữu
Thị Lang, được phong tước Đoan Túc Hầu.
Nhưng vì yêu quý nghề dạy học nên cụ đã xin nghỉ
việc triều đình, về quê mở trường dạy học cho lớp trai trẻ và
con cháu trong làng.
Ở bên đường trước cửa nhà cụ có một tấm đá, ngoài giờ dạy học trong nhà, cụ thường ra ngồi
nghỉ trên tấm đá, sĩ tử trong vùng hoặc người qua đường thường hỏi cụ những điều còn nghi hoặc để
mở mang học vấn. Cụ ôn tồn chỉ bảo tường tận cho những người đó. Nhân dân trong vùng trân trọng
và trìu mến gọi cụ là Sư Lộ, có nghĩa là thầy giáo bên đường. Do đó cụ có tên là Nguyễn Sư Lộ.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Tô Vĩnh Diện
Anh hùng Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928, quê quán xã Nông
Trường, huyện Nông Cống (nay là huyện Triệu Sơn), tỉnh Thanh
Hoá. Anh sinh trưởng trong một gia đình nghèo, lên 8 tuổi đã phải
đi ở cho địa chủ, phải chịu bao cảnh áp bức bất công. Năm 1946,
anh tham gia dân quân ở địa phương. Năm 1949, anh xung phong
vào bộ đội.
Tháng 5 năm 1953, Quân đội ta thành lập các đơn vị pháo
cao xạ để chuẩn bị đánh lớn. Tô Vĩnh Diện được điều về làm Tiểu
đội trưởng pháo cao xạ, thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung
đoàn 367. Trong quá trình hành quân cơ động trên chặng đường
hơn 1000 km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ,
anh luôn luôn gương mẫu, đảm nhiệm những công việc khó khăn
nặng nề nhất.
Khi bộ đội ta kéo pháo qua những chặng đường khó khăn
nguy hiểm, anh xung phong giữ càng lái để bảo đảm an toàn cho
khẩu pháo. Kéo pháo vào đã gian khổ, hy sinh, kéo pháo ra càng
gay go ác liệt, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu
đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ đường dây kéo pháo, xem xét từng
đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những
nguy hiểm bất ngờ xẩy ra.

Ngày 01/02/1954, anh Tô Vĩnh Diện đã
hi sinh tại rừng Pá Có, sườn phía tây Pha
Sung, thuộc xã Nà Nhạn, huyện Điện Biên,
tỉnh Điện Biên. Tấm gương hy sinh vô cùng
anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ
mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
Ngày 7/5/1955, Tô Vĩnh Diện được Chủ
tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trao
tặng Huân chương Quân công hạng Nhì, 
Huân chương chiến công hạng Nhất và được
truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân. Anh đã trở thành anh hùng
Pháo cao xạ đầu tiên của quân đội ta ngã
xuống trên mặt trận Điện Biên Phủ, sự hi sinh
của anh đã đi vào lịch sử như một huyền thoại
- quên mình cứu pháo.

Tấm gương Nguyễn Bá Ngọc
 Nguyễn Bá Ngọc sinh năm 1952 tại xã Quảng Trung huyện Quảng
Xương, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1965, khi đang học lớp 4B trường PTCS
Quảng Trung, Ngọc là một học sinh chăm ngoan học giỏi và rất hay giúp
đỡ bạn bè. Cũng năm đó giặc Mĩ mở rộng chiến tranh và cho máy bay
đánh phá các tỉnh miền Bắc nước ta, chúng ném bom cả trường học, bệnh
viện...
          Sáng ngày 4 tháng 4 năm 1965 đế quốc Mĩ cho máy bay bắn phá vào
xã Quảng Trung, quê hương của Nguyễn Bá Ngọc. Bố mẹ đi làm đồng,
Ngọc một mình đưa các em nhỏ xuống hầm tránh bom. Trong lúc bom đạn
đang gầm rú, Ngọc bỗng nghe tiếng khóc bên nhà bạn Khương. Không
quản nguy hiểm Ngọc ra khỏi hầm và băng mình sang nhà Khương. Bạn
Khương đã bị thương nặng, hai em của Khương đang sợ hãi gào khóc.
Ngọc vội lấy thân mình che chở cho hai em và dìu các em xuống hầm. Cứu
được hai em nhỏ an toàn, nhưng Ngọc bị trúng bom bi của giặc. Mặc dù đã
được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng do vết thương quá nặng Nguyễn
Bá Ngọc đã anh dũng hy sinh vào lúc 2 giờ sáng ngày 5-4-1965, khi ấy
Ngọc mới bước sang tuổi 14.

Giới thiệu về một lễ hội hoặc một danh nhân tiêu
biểu ở địa phương em.
Thảo luận
nhóm 4

Lựa chọn 1 lễ hội hoặc 1 danh
nhân tiêu biểu để giới thiệu

Lập và hoàn thiện bảng (theo gợi ý dưới đây) về một số nét
văn hoá truyền thống tiêu biểu của địa phương em.

Tên di tích

Các bước
thực hiện

Một số nét văn hóa
truyền thống
Chuẩn bị

Thời gian
dự kiến

Mục đích
tham gia

Tham khảo: Kế hoạch cho buổi tham quan
tìm hiểu về di tích Lam Kinh (Thọ Xuân)
- Tên di tích: Lam Kinh (Thọ Xuân)
- Mục đích tham quan: tìm hiểu về công đức của Lê Lợi, qua đó góp phần
bồi đắp lòng yêu nước, tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc.
- Thời gian dự kiến: ngày …./ tháng …../ năm 2023.
- Chuẩn bị: kinh phí, vật phẩm để dâng hương (hương, hoa, hoa quả,…), đồ
ăn nhẹ,…
- Các bước thực hiện:
+ Liên hệ để thuê xe và thống nhất với bên vận chuyển về thời gian, địa
điểm, lịch trình
+ Khi đến Lam Kinh: làm lễ dâng hương trước sân Rồng, sau đó tham quan,
tìm hiểu di tích theo sự hướng dẫn của Hướng dẫn viên du lịch; tổ chức
một số trò chơi dân gian, như: nhảy bao bố, kéo co,…
468x90
 
Gửi ý kiến