Tuần 4. Bài ca ngất ngưởng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Hoàng Long
Ngày gửi: 14h:54' 07-09-2021
Dung lượng: 510.6 KB
Số lượt tải: 275
Nguồn:
Người gửi: Lê Hoàng Long
Ngày gửi: 14h:54' 07-09-2021
Dung lượng: 510.6 KB
Số lượt tải: 275
Số lượt thích:
0 người
BÀI CA NGẤT NGƯỞNG
- Nguyễn Công Trứ -
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả: (1778 – 1858)
a) Cuộc đời con người
- Quê quán : Uy Viễn , Nghi Xuân , Hà Tĩnh
- Sinh ra trong một nhà nho nghèo .
- Lúc nhỏ chăm học nhưng thi lận đận, năm 41 tuổi mới đỗ đạt
- Con đường làm quan dưới triều Nguyễn không bằng phẳng: thăng chức, giáng chức thất thường
Là người tài năng trên nhiều lĩnh vực : Xã hội, văn hoá , kinh tế , quân sự...
Người có nhân cách đáng quý
b) Sự nghiệp văn học
- Sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm, thể loại yêu thích là hát nói
- Nội dung: thể hiện rõ cốt cách của một người tài tử cá tính, dám vượt lên trên những luật lệ của lễ giáo phong kiến
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh ra đời: khoảng năm 1848
- Thể loại: hát nói
- Nội dung tác phẩm: Tổng kết cuộc đời đầy sóng gió của tác giả
- Bố cục
+ 6 câu đầu: “Ngất ngưởng” khi làm quan
+ 10 câu tiếp: “Ngất ngưởng” khi về hưu
+ 3 câu cuối: Khẳng định bản thân
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc Bình Tây cờ Đại tướng,
Có khi về Phủ Doãn Thừa Thiên.
Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
“Ngất ngưởng” khi cáo quan, về hưu
“Ngất ngưởng” khi Khẳng định bản thân
“Ngất ngưởng” chốn quan trường
II. ĐỌC HIỂU
1. Tìm hiểu từ Ngất ngưởng
- Trong cuộc sống hàng ngày : “Ngất ngưởng” là Tư thế lắc lư, nghiêng ngả, không vững ( người say rượu)
- Nghĩa ẩn dụ trong bài : Thái độ sống ngông nghênh vượt ra ngoài, coi thường khuôn phép của xã hội phong kiến, khác người , khác đời => ngông
Tư tưởng sống của người có tài, có nhân cách
2) Ngất ngưởng khi làm quan: 6 câu đầu
“Vũ trụ nội mạc phi phận sự”
Toàn chữ Hán :
Mọi việc trong khoảng trời đất này đều là phận sự của ta
=> Câu nói thể hiện : Sự tự tin, ý thức sâu sắc về vai trò, trách nhiệm và tài năng của bản thân
“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”
- Cách xưng danh “ông Hi Văn”: biệt hiệu
- Khi ra làm quan phải theo khuôn phép , mất tự do như con chim giam trong lồng .
* 4 câu tiếp :
Những tài năng và danh vị xã hội
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc Bình Tây cờ Đại tướng,
Có khi về Phủ Doãn Thừa Thiên.
- Thủ khoa: đỗ đầu Giải Nguyên kì thi Hương năm 1819 trường Nghệ An.
- Tham tán: đứng đầu đội quan văn tham chiến (Tham tán đại thần đi dẹp loạn ở Cao Bằng)
- Tổng đốc Đông: đứng đầu tỉnh (hoặc vài tỉnh) - Tổng đốc Hải Dương và Quảng Yên.
- Tổng đốc Đông: đứng đầu tỉnh (hoặc vài tỉnh) - Tổng đốc Hải Dương và Quảng Yên.
- Phủ doãn Thừa Thiên: chức quan đầu tỉnh có Kinh đô (ở đây là phủ Thừa Thiên)
=> Tác giả sử dụng nghệ thuật liệt kê : Để tóm tắt quá trình làm việc , những tài năng và danh vị xã hội, cống hiến hết mình , tận lực giúp dân giúp nước
3) Ngất ngưởng khi về hưu ( câu 7 – câu 16 )
“Đô môn giải tổ chi niên ”
Toàn chữ Hán :
Năm ở kinh đô cởi trả ấn để về hưu
*Phong cách sống khác đời khác người , chơi ngông :( câ 8-12)
“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”
+ Cưỡi bò vàng, đeo đạc ngựa
+ Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
+ Lên chùa, dẫn theo người hầu là nữ
=> Người ta về hưu thường cưỡi ngựa mang theo lính mỗi khi đi dạo hay đi chùa . Còn ông có một phong cách khác thường là cưỡi bò đeo đạc ngựa và đem theo người hầu nữ , hình ảnh này rất dí dỏm khiến ông Bụt cũng phải nực cười
*Quan niệm sống:( câu 13-14)
“Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.”
- Người thái thượng :
Người không quan niệm chuyện dược mất
- Đông phong :
Gió vào mùa xuân
Dù được hay mất , phú quý hay bần hàn , kẻ khen hay người chê ông đều bỏ ngoài tai và tâm hồn luôn phơi phới như ngọn gió xuân
* Tự đánh giá mình ( câu 15-16)
“Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không tiên, không vướng tục”
Nghệ thuật :
Liệt kê
+
Điệp từ :
Khi
Ca
Tửu
Cắc
Tùng
Không
Phật
Tiên
Vướng tục
Với nghệ thuật điệp tư , tác giả đã liệt kê ra những thú vui riêng và cách sống độc đáo của mình: ông tự đánh giá mình không phải đấng thần linh và cũng không phải người trần tục bình thường , mà ông chính ông, một người luôn trung thành với vua
4. Khẳng định bản thân ( 3 câu cuối)
“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”
- Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú :Ông tự xếp mình ngang hàng với các danh tướng và những người nổi tiếng ở Trung Quốc là vì ông là người có tài thật sự
- Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung :Ông là người luôn sống trung thành với vua , trước sau như một
- Trong triều ai ngất ngưởng như ông: Lần cuối ông khẳng định , trong triều không ai “ ngông” như ông
Ông So sánh mình với các danh tướng thời xưa để khẳng định tài năng và lòng trung thành với vua và So sánh mình với các vị quan trong triều để nhấn mạnh sự khác biệt về thái độ và quan niệm sống.
III. TỔNG KẾT
1. Nội dung:
Ngất ngưởng là cach NCT thể hiện bản lĩnh cá nhân trong cuộc sống
2. Nghệ thuật:
Hát nói là thể loại tổng hợp giữa ca nhạc và thơ , có tính chất tự do phóng khoáng , thích hợp với việc thể hiện con người cá nhân
Củng cố
NGẤT NGƯỞNG
Cách sống đẹp,
có bản lĩnh
Hết lòng vì vua, vì nước, bất chấp mọi được – mất, khen –chê.
Ý thức rõ giá trị bản thân: tài năng, địa vị, bản chất.
DẶN DÒ
- Nguyễn Công Trứ -
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả: (1778 – 1858)
a) Cuộc đời con người
- Quê quán : Uy Viễn , Nghi Xuân , Hà Tĩnh
- Sinh ra trong một nhà nho nghèo .
- Lúc nhỏ chăm học nhưng thi lận đận, năm 41 tuổi mới đỗ đạt
- Con đường làm quan dưới triều Nguyễn không bằng phẳng: thăng chức, giáng chức thất thường
Là người tài năng trên nhiều lĩnh vực : Xã hội, văn hoá , kinh tế , quân sự...
Người có nhân cách đáng quý
b) Sự nghiệp văn học
- Sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm, thể loại yêu thích là hát nói
- Nội dung: thể hiện rõ cốt cách của một người tài tử cá tính, dám vượt lên trên những luật lệ của lễ giáo phong kiến
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh ra đời: khoảng năm 1848
- Thể loại: hát nói
- Nội dung tác phẩm: Tổng kết cuộc đời đầy sóng gió của tác giả
- Bố cục
+ 6 câu đầu: “Ngất ngưởng” khi làm quan
+ 10 câu tiếp: “Ngất ngưởng” khi về hưu
+ 3 câu cuối: Khẳng định bản thân
Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc Bình Tây cờ Đại tướng,
Có khi về Phủ Doãn Thừa Thiên.
Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
“Ngất ngưởng” khi cáo quan, về hưu
“Ngất ngưởng” khi Khẳng định bản thân
“Ngất ngưởng” chốn quan trường
II. ĐỌC HIỂU
1. Tìm hiểu từ Ngất ngưởng
- Trong cuộc sống hàng ngày : “Ngất ngưởng” là Tư thế lắc lư, nghiêng ngả, không vững ( người say rượu)
- Nghĩa ẩn dụ trong bài : Thái độ sống ngông nghênh vượt ra ngoài, coi thường khuôn phép của xã hội phong kiến, khác người , khác đời => ngông
Tư tưởng sống của người có tài, có nhân cách
2) Ngất ngưởng khi làm quan: 6 câu đầu
“Vũ trụ nội mạc phi phận sự”
Toàn chữ Hán :
Mọi việc trong khoảng trời đất này đều là phận sự của ta
=> Câu nói thể hiện : Sự tự tin, ý thức sâu sắc về vai trò, trách nhiệm và tài năng của bản thân
“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”
- Cách xưng danh “ông Hi Văn”: biệt hiệu
- Khi ra làm quan phải theo khuôn phép , mất tự do như con chim giam trong lồng .
* 4 câu tiếp :
Những tài năng và danh vị xã hội
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc Bình Tây cờ Đại tướng,
Có khi về Phủ Doãn Thừa Thiên.
- Thủ khoa: đỗ đầu Giải Nguyên kì thi Hương năm 1819 trường Nghệ An.
- Tham tán: đứng đầu đội quan văn tham chiến (Tham tán đại thần đi dẹp loạn ở Cao Bằng)
- Tổng đốc Đông: đứng đầu tỉnh (hoặc vài tỉnh) - Tổng đốc Hải Dương và Quảng Yên.
- Tổng đốc Đông: đứng đầu tỉnh (hoặc vài tỉnh) - Tổng đốc Hải Dương và Quảng Yên.
- Phủ doãn Thừa Thiên: chức quan đầu tỉnh có Kinh đô (ở đây là phủ Thừa Thiên)
=> Tác giả sử dụng nghệ thuật liệt kê : Để tóm tắt quá trình làm việc , những tài năng và danh vị xã hội, cống hiến hết mình , tận lực giúp dân giúp nước
3) Ngất ngưởng khi về hưu ( câu 7 – câu 16 )
“Đô môn giải tổ chi niên ”
Toàn chữ Hán :
Năm ở kinh đô cởi trả ấn để về hưu
*Phong cách sống khác đời khác người , chơi ngông :( câ 8-12)
“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”
+ Cưỡi bò vàng, đeo đạc ngựa
+ Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi
+ Lên chùa, dẫn theo người hầu là nữ
=> Người ta về hưu thường cưỡi ngựa mang theo lính mỗi khi đi dạo hay đi chùa . Còn ông có một phong cách khác thường là cưỡi bò đeo đạc ngựa và đem theo người hầu nữ , hình ảnh này rất dí dỏm khiến ông Bụt cũng phải nực cười
*Quan niệm sống:( câu 13-14)
“Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.”
- Người thái thượng :
Người không quan niệm chuyện dược mất
- Đông phong :
Gió vào mùa xuân
Dù được hay mất , phú quý hay bần hàn , kẻ khen hay người chê ông đều bỏ ngoài tai và tâm hồn luôn phơi phới như ngọn gió xuân
* Tự đánh giá mình ( câu 15-16)
“Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không tiên, không vướng tục”
Nghệ thuật :
Liệt kê
+
Điệp từ :
Khi
Ca
Tửu
Cắc
Tùng
Không
Phật
Tiên
Vướng tục
Với nghệ thuật điệp tư , tác giả đã liệt kê ra những thú vui riêng và cách sống độc đáo của mình: ông tự đánh giá mình không phải đấng thần linh và cũng không phải người trần tục bình thường , mà ông chính ông, một người luôn trung thành với vua
4. Khẳng định bản thân ( 3 câu cuối)
“Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung,
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”
- Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú :Ông tự xếp mình ngang hàng với các danh tướng và những người nổi tiếng ở Trung Quốc là vì ông là người có tài thật sự
- Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung :Ông là người luôn sống trung thành với vua , trước sau như một
- Trong triều ai ngất ngưởng như ông: Lần cuối ông khẳng định , trong triều không ai “ ngông” như ông
Ông So sánh mình với các danh tướng thời xưa để khẳng định tài năng và lòng trung thành với vua và So sánh mình với các vị quan trong triều để nhấn mạnh sự khác biệt về thái độ và quan niệm sống.
III. TỔNG KẾT
1. Nội dung:
Ngất ngưởng là cach NCT thể hiện bản lĩnh cá nhân trong cuộc sống
2. Nghệ thuật:
Hát nói là thể loại tổng hợp giữa ca nhạc và thơ , có tính chất tự do phóng khoáng , thích hợp với việc thể hiện con người cá nhân
Củng cố
NGẤT NGƯỞNG
Cách sống đẹp,
có bản lĩnh
Hết lòng vì vua, vì nước, bất chấp mọi được – mất, khen –chê.
Ý thức rõ giá trị bản thân: tài năng, địa vị, bản chất.
DẶN DÒ
 







Các ý kiến mới nhất