Bài thực hành Sinh học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần An Dung
Ngày gửi: 15h:06' 01-08-2010
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 78
Nguồn:
Người gửi: Trần An Dung
Ngày gửi: 15h:06' 01-08-2010
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 78
Số lượt thích:
0 người
Các bệnh truyền nhiễm
ở Tuyên Quang
Báo cáo thực hành
Bệnh cúm gia cầm (H5N1)
Bệnh cúm lợn (H1N1)
Sởi
Hội chứng AIDS
Bệnh cúm gia cầm (H5N1)
I. Nguyên nhân
Virus H5N1
Do virus cúm type A là H5N1 gây ra. Bệnh có thể lây lan rất nhanh, làm chết hàng loạt nhiều loại gia cầm, bệnh có thể lây sang người, gây thiệt hại nghiêm trọng đối với kinh tế và xã hội.
II. Triệu chứng, bệnh tích
Gia cầm sốt cao, chảy nước mắt, nước dãi, ủ rũ, đứng tụm vào một chỗ, lông xù, phù đầu và mặt, da tím tái, chân xuất huyết.
Mào và tích xưng to, phù quanh mi mắt. Ở vịt có hiện tượng mắt bị “kéo màng”, có triệu chứng thần kinh như quay vòng, ngoẹo đầu.
Xuất huyết ở hầu hết nội tạng, đặc biệt thấy rõ ở manh tràng, dạ dày tuyến, đường hô hấp,phần da không có lông và chân: xoang bụng tích nước hoặc viêm dính.
Gia cầm có thể chết nhanh trong 24 giờ
Ở gia cầm:
- Triệu chứng của bệnh cúm gia cầm cũng giống bệnh cúm thông thường:
- Sốt cao đột ngột, thường sốt liên tục trên 38 độ C, đôi khi rét run, mặt đỏ.
- Đau đầu, đau mỏi cơ ở chân, tay, lưng, đau tăng lên khi ho, có thể đau quanh hốc mắt, có thể nổi hạch.
- Ho hoặc là ho khan, Khó thở.
- Bệnh diễn biến nhanh dẫn đến viêm phổi nặng, suy hô hấp cấp, suy đa phủ tạng và tử vong nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời.
- Bệnh khởi phát trung bình một tuần sau khi tiếp xúc với gia cầm bị bệnh
Ở người:
Chân xuất huyết
Mào, tích sưng, phù
Phát hiện sớm, báo cáo kịp thời cho cán bộ thú y và chính quyền.
Không đưa gia cầm và sản phẩm gia cầm ra, vào vùng có dịch.
Tiêu hủy gia cầm chết, mắc bệnh và tất cả các gia cầm còn khỏe trong phạm vi thôn, ấp, bản có dịch.
Vệ sinh, khử trùng tiêu độc chuồng trại.
Tiêm phòng bao vây xung quanh vùng có ổ dịch trong phạm vi 5km.
IV.Phòng, trị bệnh
Phun thuốc
Tiêu hủy gia cầm chết
Cảnh báo
cho người dân
Phòng và tránh dịch
Văcxin
phòng cúm gia cầm
Tiêm văcxin
phòng cúm cho gà
Bệnh cúm lợn(H1N1)
I. Nguyên nhân
Bệnh Cúm lợn là bệnh truyền nhiễm cấp tính đường hô hấp do virut Influenza gây nên. Virút này có tính thích nghi chọn lọc với phổi, đặc biệt thích nghi với hệ thống phế quản. Sau 24 giờ kể từ khi xâm nhập và cơ thể đã xuất hiện những triệu chứng của bệnh làm rối loạn chức năng đường hô hấp và gây ra những triệu chứng, bệnh tích điển hình.
Virus H1N1
II. Cách lây nhiễm
Viruts cúm lợn có nhiều ở nước mắt, nước mũi của lợn mắc bệnh, từ đây virut có thể lây lan từ lợn ốm sang lợn khoẻ qua tiếp súc, vận chuyển hoặc có thể qua thức ăn nước uống, vật dụng chuồng nuôi.
III. Triệu chứng, bệnh tích
Về triệu chứng của bệnh: Thời gian nung bệnh từ 1- 2 ngày, bệnh lây lan nhanh, mạnh, đàn lợn mẫn cảm có thể đột ngột phát bệnh hô hấp cho hầu hết lợn. Lợn bệnh thường sốt, mệt mỏi, lờ đờ, da mẩn đỏ, bỏ ăn, chảy nhiều nước mũi, nước mắt, viêm kết mạc mắt, mắt thường có nhử (triệu chứng này giống với bệnh dịch tả lợn). Lợn thường xuyên có biểu hiện hắt hơi, ho và thở không đều. Nếu không có vi trùng khác kế phát thì lợn phục hồi dần sau 5 – 7 ngày song cũng có thể con vật nặng lên hoặc kế phát bệnh khác lợn sẽ chết. Tỷ lệ chết do cúm lợn thường thấp.
Biểu hiện bệnh tích: Tập trung chủ yếu ở đường hô hấp, viêm phổi với những đám đỏ trên các thuỳ, đặc biệt là ở thuỳ đỉnh, thuỳ tim, trong phế quản có dịch nhầy, đôi khi dịch nhầy trở lên đông đặc.
Lợn nhiễm bệnh
Người bị mắc cúm H1N1
IV.Phòng, trị bệnh
Đối với bệnh cúm lợn do virut gây nên, hiện tại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu do vậy lấy biện pháp phòng bệnh là chủ yếu. Về nguyên tắc phòng bệnh cúm lợn chủ yếu là vệ sinh phòng bệnh và nâng cao sức đề kháng.
Do vi rút cúm lợn thường lây nhiễm qua tiếp súc trực tiếp, nếu phát hiện lợn bệnh có các triệu chứng như trên cần khẩn chương cách ly lợn ốm để nhanh chóng hạn chế lây lan. Phun thuốc sát trùng toàn bộ khu vực có lợn ốm và khu vực chuồng nuôi để ngăn chặn mầm bệnh. Một số loại thuốc sát trùng nên dùng là BKA, Han Iod, Vikol, Biocid .... Việc phun thuốc sát trùng tốt nhất phun theo định kỳ để phòng bệnh cúm lợn cũng như một số bệnh truyền nhiễm khác.
Nâng cao sức đề kháng cho lợn bằng cách chăm sóc nuôi dưỡng tốt, hàng ngày bổ sung thuốc bổ trợ, đồng thời tiêm phòng đầy đủ các loại vác xin theo đúng quy trình để tránh hiện tượng khi lợn mắc bệnh cúm sẽ kế phát các bệnh truyền nhiễm khác.
Phun thuốc phòng bệnh
Thuốc trị bệnh cúm lợn
HIV/AIDS
I. Nguyên nhân
AIDS là chữ tắt hiểu theo tiếng Việt là:"Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải "
AIDS do một loại vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người ,gọi tắt là HIV, thuộc nhóm Retrovirus, tấn công vào tế bào limphô T của người.
Virus HIV
II. Cách lây nhiễm
HIV lây truyền qua ba con đường: Tình dục, đường máu và mẹ truyền sang con (Lúc mang thai, khi sinh hoặc khi cho con bú), sử dụng ma túy
Tóm tắt các cách lây truyền HIV/AIDS
Lây qua đường tình dục
Lây qua đường máu
Tiêm chích ma túy
Lây từ mẹ sang con
III. Triệu chứng, bệnh tích
Sau khi nhiễm HIV, cơ thể sẽ trải qua 4 giai đoạn bệnh lý như sau:
Giai đoạn sơ nhiễm: Lúc mới nhiễm HIV sẽ có một vài biểu hiện như sốt mệt mỏi, nhức đau tay chân... kiểu như bị cảm cúm.
Giai đoạn nhiễm trùng không triệu chứng: Giai đoạn này, cơ thể gần như bình thường, không có biểu hiện triệu chứng. Lúc này bạch cầu chỉ bị tiêu diệt ít không đáng kể. Virus tiếp tục sinh sôi nẩy nở, nhìn bề ngoài không ai có thể biết được bệnh nhân đã bị nhiễm HIV, ngay cả chính bản thân người bệnh (nếu chưa xét nghiệm máu). Thời gian này kéo dài từ 5-10 năm.
Giai đoạn có liên quan đến AIDS: Sau vài tháng đến vài năm từ lúc bị nhiễm sẽ xuất hiện các triệu chứng như sút cân, sốt dai dẳng, đỗ mồ hôi ban đêm, nổi hạch, tiêu chảy... Các triệu chứng kéo dài hoặc tái đi tái lại báo hiệu tình trạng hệ miễn dịch đã bắt đầu suy sụp.
Giai đoạn bệnh AIDS: Thực sự tương đương với hệ miễn dịch bị tàn phá gần hết, người bệnh chết dễ dàng vì các nhiễm trùng cơ hội như viêm màng não, viêm phổi, viêm ruột hoặc ung thư mạch máu, ung thư hạch... Giai đoạn này thường kéo dài không quá 2 năm. Kết quả là cơ thể chết vì tê liệt và điên dại
Con đường của HIV/AIDS
IV.Cách phòng và trị bệnh
Hiện nay chưa có thuốc chữa AIDS đặc hiệu, chỉ có thuốc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh. Một số loại thuốc có thể ngăn cản sự nhân lên của virus nhưng mới đang ở trong giai đoạn thử nghiệm.
Mức độ phát triển của bệnh còn phụ thuộc vào thể lực của người bệnh, vì vậy, chế độ luyện tập, ăn uống, sinh hoạt của người bệnh rất có ý nghĩa.
Phòng tránh: sống lành mạnh, thực hiên các biện pháp vệ sinh y tế, không tiêm chích ma túy…
Tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS
SỞI
Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đường hô hấp, rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em. Bệnh biểu hiện bằng tình trạng viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp, đường tiêu hóa và phát ban đặc hiệu ngoài da.
I. Nguyên nhân mắc bệnh
Tác nhân gây bệnh là virus thuộc nhóm RNA paramyxovirus. Virus sởi xâm nhập niêm mạc đường hô hấp trên, vào máu, sinh sản ở hệ lưới mô bào. Virus có mặt ở họng và máu bệnh nhân từ cuối thời kỳ ủ bệnh cho đến sau khi ban mọc một thời gian; và có thể tồn tại trong không khí ít nhất 34 giờ, nhưng không chịu được khô hanh.
II. Triệu chứng, bệnh tích
Ở thể thường, bệnh lành tính. Thời kỳ ủ bệnh chừng 10-12 ngày, có khi ngắn hơn (7 ngày), có khi dài hơn (20 ngày), thường không có biểu hiện gì. Trong một số trường hợp sau khi tiếp xúc với trẻ ốm, trẻ sốt nhẹ trong 5-6 ngày rồi khỏi, và 3-4 ngày sau mới sốt cao và chảy nước mắt nước mũi, hoặc đi tướt, trớ. Trẻ sơ sinh có thể bị xuống cân mặc dù trẻ vẫn bú bình thường.
Tiếp đến là thời kỳ khởi phát, dài 4-5 ngày. Hai triệu chứng nổi bật là sốt và viêm họng. Trẻ đột ngột sốt cao 39-39,5 độ C, vẻ mệt mỏi, kèm theo nhức đầu, đau cơ, khớp; chảy nước mũi, chảy nước mắt, mắt đỏ, ho nhiều, ho khan, có khi bị tiêu chảy.
Sang ngày thứ hai, các triệu chứng trên nặng thêm. Trẻ ho nhiều, ho khan, đôi khi ho từng cơn, khàn giọng. Có khi bệnh bắt đầu bằng những cơn thở rít (do viêm thanh quản): trẻ chỉ hơi sổ mũi, ban đêm bỗng nổi cơn ho, vùng dậy mê hoảng như nghẹt thở, nhưng rồi cơn lui dần và trẻ lại nằm ngủ; có khi gần sáng lại lên cơn nữa và khi hết hẳn thì bắt đầu mọc sởi. Lúc này, khám miệng thấy trên nền đỏ thẫm của niêm mạc má có những chấm trắng nhỏ độ 1mm hơi nổi gợn lên (dấu hiệu Koplik). Có khi chỉ có 2-3 nốt ở phần niêm mạc má đối diện với răng hàm số 1. Các nốt này chỉ tồn tại 24-48 giờ và thường lặn hết sau khi sởi mọc 1 ngày.
Bệnh nhân bị sởi
Thời kỳ mọc sởi (5-7 ngày)
Phần lớn ban mọc ở sau tai, chân tóc rồi lan dần theo trình tự: mặt, cổ, lưng, bụng và chân tay. Đến ngày thứ ba, ban mọc khắp người, ban mọc dầy nhất ở những nơi hay cọ xát hoặc phơi nắng. Có khi các nốt ban hợp với nhau thành từng vầng. Các nốt sởi hình tròn hoặc bầu dục, có màu đỏ hồng nhạt, sờ vào mịn như nhung, ấn vào biến mất, da xung quanh vẫn bình thường. Khi sởi mọc hết thì trẻ hết sốt và sởi bắt đầu bay. Ban sởi bay cũng theo trình tự như khi mọc, để lại các vết thâm và bong da nhỏ như rắc phấn nom vằn như da hổ.
Các vùng da sởi bị biến chứng
Vùng da bị sởi
Thường sau 1 tuần ban sởi bay hết và chỉ sau 2 tuần trẻ trở lại bình thường
Thời kỳ hồi phục
Sởi ác tính: ban mọc ít, trẻ sốt cao, mê sảng, xuất huyết, đi tiểu ít... có thể dẫn đến tử vong; hoặc biến chứng do bội nhiễm vi khuẩn gây viêm tai giữa, viêm phế quản - phổi, viêm thanh quản (xảy ra sớm, trong những ngày đầu khi mới mọc sởi), viêm não, sơ nhiễm lao hoặc lao tiến triển, viêm cơ tim, viêm miệng hoại tử, khô loét giác mạc do thiếu vitamin A. Điều đáng quan tâm là sau sởi trẻ dễ bị suy dinh dưỡng nặng.
IV.Cách phòng và trị bệnh
Cần tiêm phòng vacxin sởi cho trẻ theo lịch sau:
Mũi 1: Khi trẻ tròn 9 tháng tuổi.
Mũi 2: Tiêm nhắc lại trong chiến dịch tiêm nhắc vacxin sởi
Hàng ngày vệ sinh da dẻ, răng - miệng, mắt để tránh nhiễm khuẩn, lở loét da: rửa mặt, lau mắt, lau người bằng nước ấm; thường xuyên lau miệng bằng khăn sạch, mềm (nhúng nước đã đun sôi để nguội). Với trẻ lớn, cho súc miệng nước muối (pha loãng có độ mặn như nước mắt). Nhỏ mắt, nhỏ mũi thuốc kháng sinh.
Tiêm phòng bệnh
Cách li người bệnh
Điều trị bệnh sởi
Danh sách tổ 3
Nguyễn Đăng Khánh
Nguyễn Thành Quang
Vũ Hải Đăng
Lê Hải Đăng
Hà Như Ngọc
Nguyễn Huệ Chi
Bùi Nguyễn Ánh Dương
Vũ Hưng Hải
Nguyễn Thế Anh
The End
ở Tuyên Quang
Báo cáo thực hành
Bệnh cúm gia cầm (H5N1)
Bệnh cúm lợn (H1N1)
Sởi
Hội chứng AIDS
Bệnh cúm gia cầm (H5N1)
I. Nguyên nhân
Virus H5N1
Do virus cúm type A là H5N1 gây ra. Bệnh có thể lây lan rất nhanh, làm chết hàng loạt nhiều loại gia cầm, bệnh có thể lây sang người, gây thiệt hại nghiêm trọng đối với kinh tế và xã hội.
II. Triệu chứng, bệnh tích
Gia cầm sốt cao, chảy nước mắt, nước dãi, ủ rũ, đứng tụm vào một chỗ, lông xù, phù đầu và mặt, da tím tái, chân xuất huyết.
Mào và tích xưng to, phù quanh mi mắt. Ở vịt có hiện tượng mắt bị “kéo màng”, có triệu chứng thần kinh như quay vòng, ngoẹo đầu.
Xuất huyết ở hầu hết nội tạng, đặc biệt thấy rõ ở manh tràng, dạ dày tuyến, đường hô hấp,phần da không có lông và chân: xoang bụng tích nước hoặc viêm dính.
Gia cầm có thể chết nhanh trong 24 giờ
Ở gia cầm:
- Triệu chứng của bệnh cúm gia cầm cũng giống bệnh cúm thông thường:
- Sốt cao đột ngột, thường sốt liên tục trên 38 độ C, đôi khi rét run, mặt đỏ.
- Đau đầu, đau mỏi cơ ở chân, tay, lưng, đau tăng lên khi ho, có thể đau quanh hốc mắt, có thể nổi hạch.
- Ho hoặc là ho khan, Khó thở.
- Bệnh diễn biến nhanh dẫn đến viêm phổi nặng, suy hô hấp cấp, suy đa phủ tạng và tử vong nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời.
- Bệnh khởi phát trung bình một tuần sau khi tiếp xúc với gia cầm bị bệnh
Ở người:
Chân xuất huyết
Mào, tích sưng, phù
Phát hiện sớm, báo cáo kịp thời cho cán bộ thú y và chính quyền.
Không đưa gia cầm và sản phẩm gia cầm ra, vào vùng có dịch.
Tiêu hủy gia cầm chết, mắc bệnh và tất cả các gia cầm còn khỏe trong phạm vi thôn, ấp, bản có dịch.
Vệ sinh, khử trùng tiêu độc chuồng trại.
Tiêm phòng bao vây xung quanh vùng có ổ dịch trong phạm vi 5km.
IV.Phòng, trị bệnh
Phun thuốc
Tiêu hủy gia cầm chết
Cảnh báo
cho người dân
Phòng và tránh dịch
Văcxin
phòng cúm gia cầm
Tiêm văcxin
phòng cúm cho gà
Bệnh cúm lợn(H1N1)
I. Nguyên nhân
Bệnh Cúm lợn là bệnh truyền nhiễm cấp tính đường hô hấp do virut Influenza gây nên. Virút này có tính thích nghi chọn lọc với phổi, đặc biệt thích nghi với hệ thống phế quản. Sau 24 giờ kể từ khi xâm nhập và cơ thể đã xuất hiện những triệu chứng của bệnh làm rối loạn chức năng đường hô hấp và gây ra những triệu chứng, bệnh tích điển hình.
Virus H1N1
II. Cách lây nhiễm
Viruts cúm lợn có nhiều ở nước mắt, nước mũi của lợn mắc bệnh, từ đây virut có thể lây lan từ lợn ốm sang lợn khoẻ qua tiếp súc, vận chuyển hoặc có thể qua thức ăn nước uống, vật dụng chuồng nuôi.
III. Triệu chứng, bệnh tích
Về triệu chứng của bệnh: Thời gian nung bệnh từ 1- 2 ngày, bệnh lây lan nhanh, mạnh, đàn lợn mẫn cảm có thể đột ngột phát bệnh hô hấp cho hầu hết lợn. Lợn bệnh thường sốt, mệt mỏi, lờ đờ, da mẩn đỏ, bỏ ăn, chảy nhiều nước mũi, nước mắt, viêm kết mạc mắt, mắt thường có nhử (triệu chứng này giống với bệnh dịch tả lợn). Lợn thường xuyên có biểu hiện hắt hơi, ho và thở không đều. Nếu không có vi trùng khác kế phát thì lợn phục hồi dần sau 5 – 7 ngày song cũng có thể con vật nặng lên hoặc kế phát bệnh khác lợn sẽ chết. Tỷ lệ chết do cúm lợn thường thấp.
Biểu hiện bệnh tích: Tập trung chủ yếu ở đường hô hấp, viêm phổi với những đám đỏ trên các thuỳ, đặc biệt là ở thuỳ đỉnh, thuỳ tim, trong phế quản có dịch nhầy, đôi khi dịch nhầy trở lên đông đặc.
Lợn nhiễm bệnh
Người bị mắc cúm H1N1
IV.Phòng, trị bệnh
Đối với bệnh cúm lợn do virut gây nên, hiện tại chưa có thuốc điều trị đặc hiệu do vậy lấy biện pháp phòng bệnh là chủ yếu. Về nguyên tắc phòng bệnh cúm lợn chủ yếu là vệ sinh phòng bệnh và nâng cao sức đề kháng.
Do vi rút cúm lợn thường lây nhiễm qua tiếp súc trực tiếp, nếu phát hiện lợn bệnh có các triệu chứng như trên cần khẩn chương cách ly lợn ốm để nhanh chóng hạn chế lây lan. Phun thuốc sát trùng toàn bộ khu vực có lợn ốm và khu vực chuồng nuôi để ngăn chặn mầm bệnh. Một số loại thuốc sát trùng nên dùng là BKA, Han Iod, Vikol, Biocid .... Việc phun thuốc sát trùng tốt nhất phun theo định kỳ để phòng bệnh cúm lợn cũng như một số bệnh truyền nhiễm khác.
Nâng cao sức đề kháng cho lợn bằng cách chăm sóc nuôi dưỡng tốt, hàng ngày bổ sung thuốc bổ trợ, đồng thời tiêm phòng đầy đủ các loại vác xin theo đúng quy trình để tránh hiện tượng khi lợn mắc bệnh cúm sẽ kế phát các bệnh truyền nhiễm khác.
Phun thuốc phòng bệnh
Thuốc trị bệnh cúm lợn
HIV/AIDS
I. Nguyên nhân
AIDS là chữ tắt hiểu theo tiếng Việt là:"Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải "
AIDS do một loại vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người ,gọi tắt là HIV, thuộc nhóm Retrovirus, tấn công vào tế bào limphô T của người.
Virus HIV
II. Cách lây nhiễm
HIV lây truyền qua ba con đường: Tình dục, đường máu và mẹ truyền sang con (Lúc mang thai, khi sinh hoặc khi cho con bú), sử dụng ma túy
Tóm tắt các cách lây truyền HIV/AIDS
Lây qua đường tình dục
Lây qua đường máu
Tiêm chích ma túy
Lây từ mẹ sang con
III. Triệu chứng, bệnh tích
Sau khi nhiễm HIV, cơ thể sẽ trải qua 4 giai đoạn bệnh lý như sau:
Giai đoạn sơ nhiễm: Lúc mới nhiễm HIV sẽ có một vài biểu hiện như sốt mệt mỏi, nhức đau tay chân... kiểu như bị cảm cúm.
Giai đoạn nhiễm trùng không triệu chứng: Giai đoạn này, cơ thể gần như bình thường, không có biểu hiện triệu chứng. Lúc này bạch cầu chỉ bị tiêu diệt ít không đáng kể. Virus tiếp tục sinh sôi nẩy nở, nhìn bề ngoài không ai có thể biết được bệnh nhân đã bị nhiễm HIV, ngay cả chính bản thân người bệnh (nếu chưa xét nghiệm máu). Thời gian này kéo dài từ 5-10 năm.
Giai đoạn có liên quan đến AIDS: Sau vài tháng đến vài năm từ lúc bị nhiễm sẽ xuất hiện các triệu chứng như sút cân, sốt dai dẳng, đỗ mồ hôi ban đêm, nổi hạch, tiêu chảy... Các triệu chứng kéo dài hoặc tái đi tái lại báo hiệu tình trạng hệ miễn dịch đã bắt đầu suy sụp.
Giai đoạn bệnh AIDS: Thực sự tương đương với hệ miễn dịch bị tàn phá gần hết, người bệnh chết dễ dàng vì các nhiễm trùng cơ hội như viêm màng não, viêm phổi, viêm ruột hoặc ung thư mạch máu, ung thư hạch... Giai đoạn này thường kéo dài không quá 2 năm. Kết quả là cơ thể chết vì tê liệt và điên dại
Con đường của HIV/AIDS
IV.Cách phòng và trị bệnh
Hiện nay chưa có thuốc chữa AIDS đặc hiệu, chỉ có thuốc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh. Một số loại thuốc có thể ngăn cản sự nhân lên của virus nhưng mới đang ở trong giai đoạn thử nghiệm.
Mức độ phát triển của bệnh còn phụ thuộc vào thể lực của người bệnh, vì vậy, chế độ luyện tập, ăn uống, sinh hoạt của người bệnh rất có ý nghĩa.
Phòng tránh: sống lành mạnh, thực hiên các biện pháp vệ sinh y tế, không tiêm chích ma túy…
Tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS
SỞI
Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đường hô hấp, rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em. Bệnh biểu hiện bằng tình trạng viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp, đường tiêu hóa và phát ban đặc hiệu ngoài da.
I. Nguyên nhân mắc bệnh
Tác nhân gây bệnh là virus thuộc nhóm RNA paramyxovirus. Virus sởi xâm nhập niêm mạc đường hô hấp trên, vào máu, sinh sản ở hệ lưới mô bào. Virus có mặt ở họng và máu bệnh nhân từ cuối thời kỳ ủ bệnh cho đến sau khi ban mọc một thời gian; và có thể tồn tại trong không khí ít nhất 34 giờ, nhưng không chịu được khô hanh.
II. Triệu chứng, bệnh tích
Ở thể thường, bệnh lành tính. Thời kỳ ủ bệnh chừng 10-12 ngày, có khi ngắn hơn (7 ngày), có khi dài hơn (20 ngày), thường không có biểu hiện gì. Trong một số trường hợp sau khi tiếp xúc với trẻ ốm, trẻ sốt nhẹ trong 5-6 ngày rồi khỏi, và 3-4 ngày sau mới sốt cao và chảy nước mắt nước mũi, hoặc đi tướt, trớ. Trẻ sơ sinh có thể bị xuống cân mặc dù trẻ vẫn bú bình thường.
Tiếp đến là thời kỳ khởi phát, dài 4-5 ngày. Hai triệu chứng nổi bật là sốt và viêm họng. Trẻ đột ngột sốt cao 39-39,5 độ C, vẻ mệt mỏi, kèm theo nhức đầu, đau cơ, khớp; chảy nước mũi, chảy nước mắt, mắt đỏ, ho nhiều, ho khan, có khi bị tiêu chảy.
Sang ngày thứ hai, các triệu chứng trên nặng thêm. Trẻ ho nhiều, ho khan, đôi khi ho từng cơn, khàn giọng. Có khi bệnh bắt đầu bằng những cơn thở rít (do viêm thanh quản): trẻ chỉ hơi sổ mũi, ban đêm bỗng nổi cơn ho, vùng dậy mê hoảng như nghẹt thở, nhưng rồi cơn lui dần và trẻ lại nằm ngủ; có khi gần sáng lại lên cơn nữa và khi hết hẳn thì bắt đầu mọc sởi. Lúc này, khám miệng thấy trên nền đỏ thẫm của niêm mạc má có những chấm trắng nhỏ độ 1mm hơi nổi gợn lên (dấu hiệu Koplik). Có khi chỉ có 2-3 nốt ở phần niêm mạc má đối diện với răng hàm số 1. Các nốt này chỉ tồn tại 24-48 giờ và thường lặn hết sau khi sởi mọc 1 ngày.
Bệnh nhân bị sởi
Thời kỳ mọc sởi (5-7 ngày)
Phần lớn ban mọc ở sau tai, chân tóc rồi lan dần theo trình tự: mặt, cổ, lưng, bụng và chân tay. Đến ngày thứ ba, ban mọc khắp người, ban mọc dầy nhất ở những nơi hay cọ xát hoặc phơi nắng. Có khi các nốt ban hợp với nhau thành từng vầng. Các nốt sởi hình tròn hoặc bầu dục, có màu đỏ hồng nhạt, sờ vào mịn như nhung, ấn vào biến mất, da xung quanh vẫn bình thường. Khi sởi mọc hết thì trẻ hết sốt và sởi bắt đầu bay. Ban sởi bay cũng theo trình tự như khi mọc, để lại các vết thâm và bong da nhỏ như rắc phấn nom vằn như da hổ.
Các vùng da sởi bị biến chứng
Vùng da bị sởi
Thường sau 1 tuần ban sởi bay hết và chỉ sau 2 tuần trẻ trở lại bình thường
Thời kỳ hồi phục
Sởi ác tính: ban mọc ít, trẻ sốt cao, mê sảng, xuất huyết, đi tiểu ít... có thể dẫn đến tử vong; hoặc biến chứng do bội nhiễm vi khuẩn gây viêm tai giữa, viêm phế quản - phổi, viêm thanh quản (xảy ra sớm, trong những ngày đầu khi mới mọc sởi), viêm não, sơ nhiễm lao hoặc lao tiến triển, viêm cơ tim, viêm miệng hoại tử, khô loét giác mạc do thiếu vitamin A. Điều đáng quan tâm là sau sởi trẻ dễ bị suy dinh dưỡng nặng.
IV.Cách phòng và trị bệnh
Cần tiêm phòng vacxin sởi cho trẻ theo lịch sau:
Mũi 1: Khi trẻ tròn 9 tháng tuổi.
Mũi 2: Tiêm nhắc lại trong chiến dịch tiêm nhắc vacxin sởi
Hàng ngày vệ sinh da dẻ, răng - miệng, mắt để tránh nhiễm khuẩn, lở loét da: rửa mặt, lau mắt, lau người bằng nước ấm; thường xuyên lau miệng bằng khăn sạch, mềm (nhúng nước đã đun sôi để nguội). Với trẻ lớn, cho súc miệng nước muối (pha loãng có độ mặn như nước mắt). Nhỏ mắt, nhỏ mũi thuốc kháng sinh.
Tiêm phòng bệnh
Cách li người bệnh
Điều trị bệnh sởi
Danh sách tổ 3
Nguyễn Đăng Khánh
Nguyễn Thành Quang
Vũ Hải Đăng
Lê Hải Đăng
Hà Như Ngọc
Nguyễn Huệ Chi
Bùi Nguyễn Ánh Dương
Vũ Hưng Hải
Nguyễn Thế Anh
The End
 








Các ý kiến mới nhất