Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bạn cần biết

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thị Hằng
Ngày gửi: 15h:44' 19-01-2015
Dung lượng: 763.5 KB
Số lượt tải: 84
Số lượt thích: 0 người
MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH

Mục tiêu bài giảng
Bạn nắm được 3 khái niệm cơ bản liên quan đến tỷ số giới tính.
Nắm được thực trạng MCBGTKS hiện nay.
Nắm được nguyên nhân, hệ lụy, của MCBGTKS
Nắm được các giải pháp giảm thiểu MCBGTKS, từ đó hướng tới tuyên truyền cung cấp kiến thức, thay đổi hành vi nhằm giảm thiểu tình trạng MCBGTKS.
Tỷ số giới tính chung: Là số nam trên 100 nữ trong một khoảng thời gian xác định thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh.
Tỷ số giới tính khi sinh: Là số bé trai được sinh ra còn sống trên 100 bé gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh.
Mất cân bằng giới tính khi sinh: Là số bé trai được sinh ra còn sống vượt trên ngưỡng bình thường so với 100 bé gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh. (110 trở lên là MCBGTKS).
Một số khái niệm cơ bản:
TÌNH HÌNH MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH
1. Tại một số nước Châu Á:
TSGTKS bắt đầu tăng từ những năm 70 cùng với sự xuất hiện của các kỹ thuật công nghệ cao của ngành y tế như: siêu âm, kỹ thuật chọc ối...
TSGTKS của Trung Quốc và Hàn Quốc liên tục tăng đến năm 1990 là 115 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái.
Năm 2000 do các chính sách can thiệp hữu hiệu Hàn Quốc đã khống chế được tình trạng này đưa TSGTKS về đúng với quy luật tự nhiên
Trung Quốc mặc dù áp dụng rất nhiều biện pháp tích cực nhưng TSGTKS vẫn tăng đến năm 2010 là 122,8 trẻ em nam /100 trẻ em nữ
2. Tại Việt Nam
Thực trạng
TSGTKS tăng có đặc điểm khác với các nước trong khu vực.
Giai đoạn 79-99, cứ 10 năm thì TSGTKS lại tăng 1%.(1979: 105, 1989: 106, 1999: 107)
Giai đoạn 2006-2010 TSGTKS tăng gần 1%/năm bằng 10 năm của các giai đoạn trước đây (Năm 2006 là 110, 2007 là 111, 2008 là 112, 2009 là 111, 2010 là 112).
TÌNH HÌNH MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH
Đặc điểm của TSGTKS ở Việt Nam
TSGTKS tăng cao ngay từ lần sinh thứ nhất.
Việt Nam, TSGTKS đã cao ngay trong lần sinh đầu tiên: lần sinh thứ nhất 110,2 TE nam /100 TE nữ; lần sinh thứ hai 109; lần sinh thứ ba trở lên là 115,5.
TSGTKS của Ấn Độ ở lần sinh thứ 2 là 120 TE nam /100 TE nữ, lần sinh thứ 3 lên tới >130 TE nam /100 TE nữ
Trung Quốc với chính sách 1 con rưỡi nên TSGTKS lần sinh thứ 2 đã lên tới trên 150 TE nam /100 TE nữ.
Từ những năm 2000, do mức sinh giảm nhanh, việc tiếp cận các kỹ thuật lựa chọn giới tính trước sinh dễ dàng, “quy luật dừng” ở Việt Nam cũng đã có những sự thay đổi: một mặt, một số cặp vợ chồng đã chủ động tìm kiếm các kỹ thuật lựa chọn giới tính trước sinh ngay từ lần sinh thứ nhất; nếu chưa được như mong muốn, họ sẽ tìm kiếm dịch vụ trong những lần có thai sau
TÌNH HÌNH MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH
Đặc điểm của TSGTKS ở Việt Nam
TSGTKS cao ở lần sinh cuối cùng
Trước đây, muốn có con trai chỉ có cách đẻ nhiều cho tới khi có con trai TSGTKS ở lần sinh cuối cùng rất cao. Đây là “quy luật dừng” hay nói cách khác là yếu tố giới tính đã quyết định việc dừng sinh đẻ hơn là số con đã có.
Khi mức sinh cao 6 con/phụ nữ, chỉ có khoảng 1,5% phụ nữ không có con trai.Giai đoạn 1988-1997, TSGTKS là 107 TE nam /100 TE nữ. Nhưng TSGTKS ở lần sinh cuối cùng lên tới 134,2 TE nam /100 TE nữ.
Khi có các kỹ thuật công nghệ cao thì “Quy luật dừng” bị phá vỡ các cặp vợ chồng đã chủ động lựa chọn giới tính thai nhi ở ngay lần sinh đầu để đạt 2 mục tiêu mô hình gia đình nhỏ và có con trai.
TÌNH HÌNH MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH
Đặc điểm của TSGTKS ở Việt Nam
TSGTKS khác biệt giữa các vùng trong cả nước.
TÌNH HÌNH MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH
Đặc biệt TSGTKS của Hà Nội 6 tháng đầu năm 2011:
Nhóm ≤ 107: Ba Đình, Cầu Giấy, Long Biên.
Nhóm >107 - 110: Thạch Thất
Nhóm >110 – 115: Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Thanh Trì, Sơn Tây, Thanh Oai, Tây Hồ, Gia Lâm, Hoàng Mai.
Nhóm > 115- 120: Thanh Xuân, Hoài Đức, Hà Đông, Mê Linh, Chương Mỹ.
Nhóm > 120 – 130: Từ Liêm, Phúc Thọ, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Đông Anh
Nhóm > 130: Đan Phượng, Quốc Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Ba Vì.
TÌNH HÌNH MẤT CÂN BẰNG
GIỚI TÍNH
TÌNH HÌNH MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH

Đặc điểm của TSGTKS ở Việt Nam

TSGTKS khác biệt giữa các vùng trong cả nước
TSGTKS giữa các vùng khác nhau trong đó cao nhất là vùng đồng bằng Sông Hồng trong đó có Hà Nội (117/100)
TSGTKS khác nhau giữa nông thôn (110,6) thành thị (110,7).
Riêng Đồng bằng Sông Hồng và Duyên hải Miền trung thì TSGTKS giữa nông thôn và thành thị chênh nhau 5 điểm % (nông thôn cao hơn thành thị). Do đặc thù về công việc các vùng này cần có con trai ở nông thôn mạnh mẽ hơn ở thành thị. Còn các vùng khác thì ngược lại (nguyên nhân do việc tiếp cận các dịch vụ lựa chọn giới tính khi sinh ở thành thị dễ dàng hơn nông thôn).
TÌNH HÌNH MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH
Đặc điểm của TSGTKS ở Việt Nam

TSGTKS cao ở những gia đình kinh tế khá giả, phụ nữ có học vấn cao và mức sinh thấp.
20% ở nhóm dân số nghèo nhất có TSGTKS là 105/100 và tỷ số này tăng dần khi mức sống tăng lên.
3 nhóm dân cư giàu nhất có TSGTKS là 112/100 và khi phân tích nhóm này thì trong lần sinh thứ 3 có TSGTKS là 133/100.
Nhóm phụ nữ không biết chữ TSGTKS là 107/100 và tăng dần theo trình độ học vấn. Đối với nhóm các bà mẹ có trình độ cao đẳng trở lên thì TSGTKS là 114/100.
Do họ biết chủ động sử dụng các BPTT hiệu quả, chủ động điều chỉnh số con mong muốn, có điều kiện về kinh tế để chi trả các dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh để đạt được 2 mục tiêu quy mô gia đình nhỏ và có con trai.
III. Nguyên nhân
1. Nguyên nhân chính
Tư tưởng Nho giáo truyền thống, cần có người nuôi dưỡng lúc về già và thờ tự sau này, để nối dõi tông đường,… dẫn đến tâm lý phải có con trai.
Do quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” tức là có một con trai thì cũng đã coi là có con còn có 10 con gái mà không có con trai thì cũng coi như chưa có con. Quan niệm này đã ăn sâu vào người dân hàng ngàn năm nay.
Người đàn ông là trụ cột gia đình, có quyền quyết định mọi việc. Con trai mới được vào nơi thờ tự, góp giỗ tổ tiên, sinh con ra phải lấy dòng họ bố cho nên gia đình không có con trai thì mất họ và tuyệt tự.
III. Nguyên nhân
2. Nhóm nguyên nhân phụ trợ
Chính sách dân số quy định, mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 hoặc 2 con. Để đạt 2 mục tiêu là gia đình ít con và có con trai các cặp vợ chồng đã sử dụng dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh như một cứu cánh.
Nhu cầu phát triển kinh tế gia đình: ở một số vùng kinh tế xã hội, nhiều công việc nặng nhọc, đặc biệt là công việc trong các ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp, khai thác khoáng sản, đi biển đánh bắt xa bờ,... đòi hỏi sức lao động cơ bắp của con trai.
Chế độ an sinh xã hội chưa đảm bảo, 70% dân số nước ta còn sống ở nông thôn, hầu hết không có lương hưu, họ cần sự chăm sóc, phụng dưỡng của con cái, hiện nay trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai
Do chính sách ưu tiên với nữ giới chưa thật thỏa đáng.
III. Nguyên nhân
3. Nguyên nhân trực tiếp
Do lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh như:
Áp dụng ngay từ trước lúc có thai: chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn,…;
Trong lúc thụ thai :chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y,…;
Khi đã có thai: siêu âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối,…) để chẩn đoán giới tính, nếu là thai trai thì họ để lại, nếu là thai gái thì bỏ đi...
IV. Hệ lụy của sự mất cân bằngGTKS
MCBGTKS sẽ dẫn đến hệ lụy khó lường về xã hội, an ninh, chính trị..
Nếu không can thiệp mạnh mẽ, đến năm 2025 Việt Nam sẽ thiếu nữ thừa nam trong độ tuổi kết hôn và phá vỡ cấu trúc Gia đình, một số nam giới phải kết hôn muộn và không có khả năng kết hôn.
Với một số nước Trung Quốc, Hàn Quốc phải kết hôn với người nước ngoài (nhập khẩu cô dâu).
Theo thống kê, từ 1998 - 31/12/2010 Hàn Quốc nhập khẩu 35.000 cô dâu; Đài Loan nhập khẩu 85.000 cô dâu. Chủ yếu là cô dâu người Việt Nam.
Đến nay, Việt Nam xuất khẩu 294.280 cô dâu sang các nước trong khu vực. Những cô dâu này tập trung chủ yếu ở những gia đình nghèo, thiếu việc làm, học vấn thập, gia đình đông con: các cô dâu lấy chồng hơn mình 10 tuổi là 100%, 15% từ 20- 30 tuổi.
IV. Hệ lụy của sự mất cân bằngGTKS
Với Việt Nam, khoảng 20 năm nữa giải pháp nhập khẩu cô dâu có thực hiện được không? Và nhập khẩu cô dâu ở đâu?
Gia tăng MCBGTKS làm gia tăng sự bất bình đẳng giới: Phụ nữ kết hôn sớm, tỷ lệ ly hôn và tảo hôn tăng cao, bạo hành giới, mua dâm, bán dâm, buôn bán phụ nữ gia tăng.
Theo dự báo: MCBGTKS cao ở những vùng có KT-XH phát triển, gia đình khá giả, phụ nữ có học vấn cao, KT-XH càng phát triển thì TSGTKS càng cao. Theo quy luật dự kiến TSTKS sẽ tăng cao về cả mặt địa lý (hiện nay có 17 tỉnh trên cả nước ở mức bình thường).
Tốc độ, thời gian kéo dài sự gia tăng này như thế nào còn tùy thuộc vào sự can thiệp của chúng ta.
IV. Hệ lụy của sự mất cân bằng GTKS
Các nhà khoa học đã dự kiến TSGTKSVN theo 3 kịch bản như sau:
Phương án tích cực: TSGTKS tăng lên khoảng 115 trẻ em nam /100 trẻ em nữ vào năm 2020 và giảm dần vè mức 105 trẻ em nam /100 trẻ em nữ vào năm 2025.
Phương án quá độ : TSGTKS tăng lên khoảng 120 trẻ em nam /100 trẻ em nữ vào năm 2020 và ở mức 105 trẻ em nam /100 trẻ em nữ vào năm 2030.
Phương án can thiệp: TSGTKS tăng 125 trẻ em nam /100 trẻ em nữ vào năm 2020 và tiếp tục tăng dần đến 2050.
Và căn cứ vào sự can thiệp của 3 phương án trên thì tới năm 2050 số nam giới sẽ thừa, không có khả năng kết hôn tương tự 2,5- 4,3 triệu người.
V. Các giải pháp
1. Nhận đinh chung
Nếu có những biện pháp can thiệp hợp lý, quyết tâm cao của cộng đồng sẽ là được giảm tình trạng MCBGTKS. (nhà nước có chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011–2020, lựa chọn phương án tích cực với mục tiêu: TSGTKS năm 2020 không vượt quá 115 và giảm dần về mức 105-107 vào năm 2025.
Chúng ta không thể giảm sinh ngay từ hôm nay được vì theo kinh nghiệm của các nước trong khu vực:
Hàn Quốc mất 20 năm đưa TSGTKS về mức tự nhiên đã tiến hành các can thiệp mạnh, chỉ khi bãi bỏ chính sách giảm sinh và thực hiện khuyến sinh mới đạt được.
Trung Quốc thi hành các chính sách quyết liệt và hà khắc mà TSGTKS vẫn tăng năm 2010 là 122,8 trẻ em nam /100 trẻ em nữ. (các chính sách của TQ: hỗ trợ, trợ cấp cho các gia đình không có con trai, …)
V. Các giải pháp
2. Các giải pháp
Giải quyết nguyên nhân trực tiếp
Thực hiện tốt PLDS; nghị định 104/2003/ND-CP ngày 16/5/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của PLDS; nghi định 114/2006/ND-CP ngày 9/10/2008 quy định xử phạt vi phạm hành chính về Dân số.
Tăng cường tuyên truyền thực hiện tốt luật bình đẳng giới ngày 29/11/2008, chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020.
Tuyên truyền vận động nhân dân không lựa chọn giới tính thai nhi với bất kỳ hình thức nào. Kiểm tra, giám sát, xử lý các cơ sở, cá nhân sản xuất, phát hành các tài liệu liên quan đến hướng dẫn lựa chọn giới tính thai nhi.
V. Các giải pháp
2.Các giải pháp
Giải quyết nguyên nhân trực tiếp
Tuyên truyền vận động, kiểm tra, giảm sát, xử lý các dịch vụ y tế trong và ngoài nhà nước xét nghiệm siêu âm phát hiện giới tính, nạo phá thai với lý do lựa chọn giới tính. (75,2% phụ nữ 15-49 sinh con trong 24 tháng trước sinh điều tra có biết giới tính thai nhi, 83% biết giới tính thia nhi khi tuổi thai từ 15-28 tuần tuổi)
Với Việt Nam, nguyên nhân thứ 3 việc lựa chọn giới tính thai nhi có thể khác các nước trong khu vực là các cặp vợ chồng lựa chọn giới tính thai nhi ở giai đoạn trước khi có thai nhiều hơn là trong khi có thai.Mặt khác, việc nạo phá thai chủ yếu ở dưới 13 tuần tuổi, lúc này, siêu âm chưa phát hiện được giới tính.
Việc tuyên truyền cần tập trung nhiều vào đối tượng chuẩn bị có thai? Thì sẽ hiệu quả cao hơn chỉ tập trung vào các dịch vụ y tế và các đối tượng đang có thai.
V. Các giải pháp
2. Các giải pháp
Giải quyết nguyên nhân thứ 2 (Nguyên nhân phụ trợ)
Cần có sự đầu tư lớn của nhà nước về kinh phí để giải quyết vấn đề này. (Trung Quốc: có những biện pháp rất quyết liệt nhưng TSGTKS vẫn tăng, còn Hàn Quốc khi có chính sách khuyến sinh và phá bỏ chính sách giảm sinh tỷ số này mới về mức tự nhiên). Việt Nam chưa thể phá bỏ chính sách giảm sinh vì vẫn còn 28 tỉnh thành phố chưa đạt MSTT, người dân vẫn mong muốn có nhiều con. (2006: 90% phụ nữ có 1 con muốn có 3 con và sinh thêm con, 61% phụ nữ có 2 con muốn sinh thêm con, 50% phụ nữ có 3 con muốn sinh thêm con).
Nếu chủ quan sẽ có thể tăng sinh trở lại, xảy ra hiện tượng bùng nổ dân số lần 2. Việc kiểm soát mức sinh phải hết sức linh hoạt.
V. Các giải pháp
2. Các giải pháp
Giải quyết nguyên nhân thứ nhất (Nguyên nhân cơ bản)
Phải có sự cam kết chặt chẽ của các cấp lãnh đạo trong việc tăng cường chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát. Cần có sự chung tay góp sức của các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, những người có uy tín trong cộng đồng, cần có một cơ quan chuyên trách đủ mạnh để điều phối các hoạt động.
Tổ chức, chỉ đạo một, mở rộng triển khai các mô hình thử nghiệm có hiệu quả can thiệp là giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh.
V. Các giải pháp
2. Các giải pháp
Thực hiện tốt đồng thời 3 giải pháp: những can thiệp cụ thể sẽ làm người dân nhận thức đúng thực trạng hệ lụy của tình trạng MCBGTKS ở Việt Nam và có hành việc đúng để làm giảm tình trạng MCBGTKS.
Tăng cường công tác truyền thông thay đổi hành vi, chuyển hướng về cơ cấu ngành nghề, đảm bảo an sinh xã hội, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật những cá nhân, tổ chức sản xuất, phát hành tài liệu có liên quan đến lựa chọn GTKS, những cơ sở y tế có liên quan đến lựa chọn GT thai nhi.
Xác định từ nhận thức đến việc thay đổi hành vi, phong tục tập quán có tự ngàn đời nay không thể dễ dàng một sớm một chiều được mà đòi hỏi phả kiên trì, bền bỉ, lâu dài. Nhưng chúng ta sẽ khóng chế được sự MCBGTKS và sẽ đưa tỷ số này về chỉ số sinh học tự nhiên.
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!
 
Gửi ý kiến