Tìm kiếm Bài giảng
Bài 1. Các phương châm hội thoại

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Hiền
Ngày gửi: 22h:01' 22-11-2021
Dung lượng: 154.5 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Hiền
Ngày gửi: 22h:01' 22-11-2021
Dung lượng: 154.5 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
1. Cô giáo nhìn em bằng đôi mắt.
2. Tôi nhìn thấy con lợn to bằng con trâu.
Nhận xét về nội dung của 2 câu trên.
Câu 1: nói thừa ; câu 2: nói điêu
Truyện cười: Ông làm sao thế?
- Mục đích nhà triết học muốn hỏi người nông dân là một địa chỉ cụ thể nào đó.
- Thông tin trong câu trả lời của người nông dân không đáp ứng được mong muốn của nhà triết học.
- Vì người nông dân trả lời điều mà nhà triết học cũng đã biết rồi. Câu trả lời vừa thừa lại vừa thiếu. Không đem lại thông tin gì mới mà nhà triết học muốn biết.
-> Câu trả lời của người nông dân vừa thừa, vừa thiếu thông tin.
Kết luận
- Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung.
- Nội dung của lời nói phải đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thiếu, không thừa.
Truyện cười: Quả bí khổng lồ
Truyện phê phán tính nói khoác.
Kết luận
Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng chứng xác thực.
Bài tập a (TL/9)
- Truyện vui “Sông Hồng ở đâu?” vi phạm phương châm về lượng.
- Truyện vui “Nói có đầu có đuôi” vi phạm phương châm về lượng.
Bài tập b (TL/9)
Ăn đơm nói đặt
-> vu khống, đặt điều, bịa chuyện cho người khác.
Ăn ốc nói mò
-> nói không có căn cứ.
Ăn không nói có
-> vu khống, bịa đặt.
Cãi chày cãi cối
-> cố tranh cãi, nhưng không có lí lẽ gì cả.
Khua môi múa mép
-> nói năng ba hoa, khoác lác, phô trương.
Nói dơi nói chuột
-> nói lăng nhăng, linh tinh, không xác thực.
Hứa hươu hứa vượn
-> hứa để được lòng rồi không thực hiện lời hứa.
Các thành ngữ trên đều chỉ những cách nói, nội dung nói không tuân thủ phương châm về chất.
Bài tập c (TL/9)
Người nói đã tuân thủ phương châm về chất. Người nói muốn báo cho người nghe biết tính xác thực của nhận định hay thông tin mà mình đưa ra chưa được kiểm chứng.
2. Tôi nhìn thấy con lợn to bằng con trâu.
Nhận xét về nội dung của 2 câu trên.
Câu 1: nói thừa ; câu 2: nói điêu
Truyện cười: Ông làm sao thế?
- Mục đích nhà triết học muốn hỏi người nông dân là một địa chỉ cụ thể nào đó.
- Thông tin trong câu trả lời của người nông dân không đáp ứng được mong muốn của nhà triết học.
- Vì người nông dân trả lời điều mà nhà triết học cũng đã biết rồi. Câu trả lời vừa thừa lại vừa thiếu. Không đem lại thông tin gì mới mà nhà triết học muốn biết.
-> Câu trả lời của người nông dân vừa thừa, vừa thiếu thông tin.
Kết luận
- Khi giao tiếp, cần nói cho có nội dung.
- Nội dung của lời nói phải đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc giao tiếp, không thiếu, không thừa.
Truyện cười: Quả bí khổng lồ
Truyện phê phán tính nói khoác.
Kết luận
Khi giao tiếp, đừng nói những điều mà mình không tin là đúng hay không có bằng chứng xác thực.
Bài tập a (TL/9)
- Truyện vui “Sông Hồng ở đâu?” vi phạm phương châm về lượng.
- Truyện vui “Nói có đầu có đuôi” vi phạm phương châm về lượng.
Bài tập b (TL/9)
Ăn đơm nói đặt
-> vu khống, đặt điều, bịa chuyện cho người khác.
Ăn ốc nói mò
-> nói không có căn cứ.
Ăn không nói có
-> vu khống, bịa đặt.
Cãi chày cãi cối
-> cố tranh cãi, nhưng không có lí lẽ gì cả.
Khua môi múa mép
-> nói năng ba hoa, khoác lác, phô trương.
Nói dơi nói chuột
-> nói lăng nhăng, linh tinh, không xác thực.
Hứa hươu hứa vượn
-> hứa để được lòng rồi không thực hiện lời hứa.
Các thành ngữ trên đều chỉ những cách nói, nội dung nói không tuân thủ phương châm về chất.
Bài tập c (TL/9)
Người nói đã tuân thủ phương châm về chất. Người nói muốn báo cho người nghe biết tính xác thực của nhận định hay thông tin mà mình đưa ra chưa được kiểm chứng.
 








Các ý kiến mới nhất