Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Các triều đại phong kiến ở Việt Nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đào Văn Nam
Ngày gửi: 22h:20' 28-11-2021
Dung lượng: 7.3 MB
Số lượt tải: 33
Số lượt thích: 0 người

SỰ CHUYỂN GIAO CÁC TRIỀU ĐẠI Ở VIỆT NAM
TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN NĂM 1945

I. VIỆT NAM THỜI DỰNG NƯỚC
1. Truyền thuyết Kinh Dương Vương
- Thủy tổ dân tộc ta là Kinh Dương Vương( Mộ lại làng An Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh)
- Kinh Dương Vương làm vua vào khoảng năm Nhâm tuất(2879 TCN) có con trai là Sùng Lãm( Lạc Long Quân) sinh bọc trăm trứng( 50 người con theo mẹ về núi, 50 theo cha xuống biển. Người con trưởng theo mẹ lên Phong Sơn, được tôn làm vua gọi là Hùng Vương.
2. Các đời vua Hùng
3. Nhà Thục và nước Âu Lạc( 257 – 207 TCN)
Theo truyền thuyết: An Dương Vương tên là Thục Phán( là cháu vua nước Thục, ko phải nước Thục ở Trung Quốc mà một bộ tộc đã đến vùng Bắc Bộ từ lâu sống xen kẽ với người Lạc Việt và người Thái




Chuyện tình Mị Châu – Trọng Thủy
- Nhà nước Âu Lạc rơi vào tay nhà Triệu:
+ Nhà nước Âu Lạc từng đánh thắng nhà Tần( 218 TCN). Theo truyền thuyết của người Việt thì Triệu Đà dùng kế nội gián bằng cuộc kết hôn giữa con trai mình, Trọng Thủy, và con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Sau khi nắm được bí mật quân sự của An Dương Vương thông qua con trai, Triệu Đà đã thành công trong việc chinh phục Âu Lạc, buộc An Dương Vương bỏ chạy và nhảy xuống biển tự tử, kết thúc thời kỳ An Dương Vương( 179 TCN)
II. NHÀ NƯỚC SAU CÔNG NGUYÊN( THỜI BẮC THUỘC 179 TCN – 938)
(Sau khi thôn tính được nước ta, nhà Hán đã đổi nước ta thành Giao Chỉ và chia làm 9 quận: Nam Hải, Thượng Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đạm Nhĩ. Mỗi quận đặt một viên Thái thú trông coi mọi việc trong quận)
1. Khởi ngĩa Hai Bà Trưng(40 – 43). Trưng Trắc – Trưng Nhị
- Nhà Đông Hán 2 lần đem quân sang xâm lược
+ Lần 1: 2/40 – Tô Định chỉ huy – Thất bại
+ Lần 2: 1/41 – Mã Viện chỉ huy – Thắng lợi.
- Khởi nghĩa thất bại, hai bà tự vẫn.
2. Khởi nghĩa Bà Triệu( Triệu Trinh Nương – Triệu Thị Trinh năm 248)
- Theo dã sử, Bà Triệu sinh năm 225. Bà cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt( một hào trưởng ở miền núi Quang Yên, quận Cửu Chân( Thanh Hóa)), chuẩn bị KN đánh giặc Ngô.
- Kết quả: Do địch mạnh(dưới sự chỉ huy của Lục Dận), có nội dán nên sau 6 tháng chống chọi bà đã hy sinh trên núi Tùng( Hậu Lộc – Thanh Hóa) khi mới 23 tuổi.
3. Khởi nghĩa Lý Bí , nhà nước Van Xuân( 544 – 602)
Lý Nam Đế( 503 – 548)
- Lý Bôn( Lý Bí) Sinh năm 503 quê huyện Thái Bình( nay đất Quốc Oai – Sơn Tây – Hà Tây)
- Năm 542 Lý Bí khởi nghĩa tấn công nhà Lương và giành thăng lợi bước đầu
- Năm 543 vua Lương tiếp tục huy động binh mã sang xâm lược - Thất bại
- Năm 544 Lý Bí tự xưng hoàng đế đặt tên nước là Vạn Xuân(ước muốn xã tắc truyền đến muôn đời)
- Năm 548 Lý Nam Đế qua đời và trao binh quyền cho Triệu Quang Phục( vị tướng trẻ có tài) tập hợp lực lượng cho quân về Dạ Trạch( Hưng Yên) củng cố, xây dựng lực lượng đánh quân Lương và giành thắng lợi
- Năm 557 Lý Phật Tử( một người trong họ) đem quân đánh Triệu Việt Vương để giành lại ngôi nhà Lý, không phân thắng bại, hai bên giảng hòa.
- Năm 571 Lý Phật Tử lại bất ngờ đem quân đánh Triệu Việt Vương. Do bất ngờ, không phòng bị , Triệu Việt Vương thua chạy và tự vẫn( đền thờ ông ở Nghĩa Hưng – Nam Định)
- Lý Phật tử xưng đế. Năm 602 nhà Tùy sai Lưu Phương sang dụ Lý Phật Tử đầu hàng. Lý Phật Tử sợ không địch nổi nên xin hàng. Nam Việt lại rơi vào tay nhà Tùy.
4. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan( Mai Hắc Đế) 722
- Mai Thúc Loan quê: Mai Phụ - Thạch Hà – Hà Tĩnh( Không ai nhớ năm sinh, ngày mất của ông)
- Mai Thúc Loan ở cuàng mẹ, gia cảnh bần hàn, phải đi làm mướn cho nhà giàu và kiếm củi trang trải cuộc sống…….
- Lớn lên Thúc Loan là một chàng trai có sức khỏe phi thường, là đô vật lừng danh, là thợ săn lành nghề
- Nhà Đường bắt nhân dân ta cống nạp “ quả lệ chi”( quả vải)( Vua Đường có ái Phi( Dương Quý Phi) thích ăn thứ quả lệ chi xinh xắn mà chỉ An Nam mới có.
- Do bị áp bức, và chịu nhiều uất ức khi cùng đoàn phu gánh vải sang cống nộp. Thúc Loan đã nổi dậy giết chết tên lính Đường
- Với tài năng và khí chất hơn người, Thúc Loan được quân dân tôn phong hoàng đế lấy vương hiệu là Mai Hắc Đế( vua đen họ Mai)
- Vua Đường mạnh, huy động lực lượng đánh vào thành Vạn An. Do địch mạnh, Mai Thúc Loan thất bại, bỏ chạy vào rừng sâu sau bị ốm rồi mất, nghĩa quân tan vỡ.
5. Khởi nghĩa Phùng Hưng – Bố Cái Đại Vương(791 – 802)
- Nhân lúc nhà Đường trên đất Việt bắt đầu suy yếu. Phùng Hưng cùng 2 em là Phùng Hải và Phùng Dĩnh hiệu triệu dân Việt nổi lên chống lại nhà Đường.
- Phùng Hưng xuất thân từ dòng dõi hào trưởng trên đất Đường Lâm( Hà Tây). Trong 3 anh em Phùng Hưng là người có sức khỏe và khí phách đặc biệt( tài đánh trâu, giết hổ)
- Năm 791 Phùng Hưng cùng các tướng lĩnh bao vây đánh thành Tống Bình( Đồng bằng Bắc Bộ ngày nay). Cao Chính Bình chỉ huy quân Đường phát ốm mà chết.
- Phùng Hưng cai quản việc nước được 7 năm thì qua đời( được nhân dân tôn hiệu là Bố cái Đại Vương), con trai là Phùng An lên nối ngôi được 2 năm thì bị vua Đường tiếp tục cử Triệu Xương đem quân sang đánh bại.
6. Thời kì tự chủ họ Khúc dấy nghiệp( 960 – 923)
1. Khúc Thừa Dụ(960 – 907),
2. Khúc Hạo(907 – 917),
3. Khúc Thừa Mỹ(917 – 923)
- Khúc Thừa Dụ( Ninh Thanh – Hải Dương) lãnh đạo nhân dân Giao Châu khôi phục quyền tự chủ đất nước( vị Tiết độ sứ đầu tiên của Việt Nam)
(Tiết độ sứ (節度使) ban đầu là chức võ quan cai quản quân sự một phiên trấn có nguồn gốc vào thời nhà Đường, Trung Quốc khoảng năm 710-711 nhằm đối phó với các mối đe dọa từ bên ngoài. Dần dần theo dòng thời gian, Tiết độ sự kiêm quản hành chính, tài chính địa phương và cuối cùng trở thành lãnh chúa cha truyền con nối.)
 
- Năm 905 Khúc Thừa Dụ tiến công thành Tống Bình( Hà Nội) đuổi giặc về nước tự xưng là Tiết độ sứ.
- Ông có nhiều cải cách, thay đổi: ( Cách ứng xử khôn khéo với bọn phương Bắc “ Độc lập thật sự, thần phục danh nghĩa”, bọn quan lại phương Bắc bị bãi bỏ thay bằng người Việt, giao quyền chỉ huy quân đội cho con trai là Khúc Hạo.
- Năm 907 Khúc Thừa Dụ qua đời và trao quyền lại cho con trai là Khúc Hạo. Năm 917 Khúc Hạo qua đời, truyền ngôi lại cho con là Khúc Thừa Mỹ. Năm 923 nhà Nam Hán sai tướng là Lý Khắc Chính đem quân sang và bắt được Khúc Thừa Mỹ và trấn thủ Giao Châu.
7. Dương Đình Nghệ và Kiều Công Tiễn( 931 – 938)
- Dương Đình Nghệ( một tướng của Khúc Hạo ở đất Ái Châu – Thanh Hóa). Chiêu mộ quân đánh đuổi Lý Khắc Chính và Lý Tiến, chiếm thành Đại La, tự xưng Tiết độ sứ. Được 6 năm thì bị Kiều Công Tiến( hào trưởng đất Phong Châu) giết hại đoạt chức Tiết độ sứ. Nhân dân bất bình, muốn trừ tên phản phúc để trừ hậu họa, Kiều Công Tiễn vội cầu cứu nhà Nam Hán.
III. NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN ĐỘC LẬP
1.Nhà Ngô: (939 – 965)
1.1. Ngô Quyền: Ngô Quyền là bộ tướng của Dương Đình Nghệ, sinh ngày 12/3/897 ở Đường Lâm( Bà Vì, Hà Tây)
- Sau khi đánh thắng quân Nam Hán trên Sông Bạch Đằng( 938) Ngô Quyền xưng vương , bãi bỏ chức tiết độ sứ, đóng đô ở Cổ Loa( Hà Nội)
- Để củng cố triều chính, Ngô Quyền đặt ra các chức qua văn, võ, quy định lễ nghi trong triều.
- Thời gian trị vì của Ngô Quyền ngắn ngủi( 6 năm) Từ năm 939 – 944( thọ 47 tuổi)
- Con nối ngôi là Ngô Xương Ngập( còn nhỏ) – Bị Cậu Dương Tam Kha cướp ngôi, tự xưng là Bình Vương
- Hậu Ngô: (950 – 965)
 
1.2. Ngô Xương Văn ( Nam Tấn Vương )
Sau khi gạt bỏ Dương Tam Kha, Ngô Xương Văn cùng anh trai Ngô Xương Ngập ( Thiên Sách) trông coi việc nước( cả 2 anh em đều là vua, sử gọi là Hậu Ngô vương)
+ Năm 954 Thiên Sách qua đời, nhà Ngô ngày một suy yếu. Năm 965 Nam Tấn Vương bị bắn chết. Con là Ngô Xương Xí nối ngôi giữ đất Bình Kiều( Thanh Hóa). Nhà Ngô truyền ngôi được 3 đời kéo dài 26 năm thì đất nước rơi vào loạn 12 sứ quân.
2. Nhà Đinh
2.1. Đinh Tiên Hoàng
( 968 – 979) – Niên hiệu Thái Bình(970 – 979)
( Đinh Tiên Hoàng có 3 người con trai: Đinh Liễn, Đinh Toàn và Đinh Hạng Lang)
Đền vua Đinh Tiên Hoàng
- Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, Châu Đại Hoàng( Hoa Lư - Ninh Bình), là con Đinh Công Trứ, một nha tướng của Dương Đình Nghệ. Cha mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh theo mẹ về quê, thường đi chơi với trẻ trâu, bắt chúng khoanh tay làm kiệu để ngồi cho chúng rước và lấy bông lau làm cờ bày trận đánh nhau.
- Nhờ thông minh, có khí phách hơn người, có tài thao lược nên khi Bộ Lĩnh dựng cờ dấy nghĩa, mong lập nghiệp lớn, dân làng theo ông rất đông.
- Do bất hòa với chú, Bộ Lĩnh cùng con trai là Đinh Liễn sang ở với sứ quân Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu( Vũ Thư – Thái Bình). (Trần Lãm (chữ Hán: 陳覧; ? - 967), hiệu Minh Công (明公), là một thủ lĩnh gốc người Hán, chiếm đóng ở vùng Bố Hải Khẩu (nay thuộc tỉnh Thái Bình, Việt Nam) thời loạn 12 sứ quân giữa thế kỷ 10 trong lịch sử Việt Nam. Là vị sứ quân trấn giữ vùng cửa biển châu thổ sông Hồng, có tiềm lực mạnh về kinh tế dựa vào lợi thế của nghề khai thác hải sản biển. Khi ông mất, tướng dưới quyền của ông là Đinh Bộ Lĩnh đã đem lực lượng về Hoa Lư và tiến hành đánh dẹp các thế lực khác thống nhất đất nước Đại Cồ Việt)
- Sau khi đáng bại Nam Tấn Vương, dụ hàng được các sứ quân của Ngô Xương Xí, phá được Đỗ Động Giang( Vùng đất rộng lớn phía Tây Nam – Hà Nội) của Nguyễn Cảnh Thạc. Từ đó Đinh Bộ Lĩnh đánh đâu được đấy, được tôn là Vạn Thắng Vương. Bộ lĩnh đã bình được các sứ quân, lập thành nghiệp đế.
- Năm 968 Van Thắng Vương lên ngôi hoàng đế lấy hiện là Tiên Hoàng đế , đặt quốc hiệu nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư( Ninh Bình)
- Tiên Hoàng bắt tay vào củng cố chính quyền( Nguyễn Bặc là Đinh Quốc Công, Lê Hoàn được phong thập đạo tướng quân, phong con trai Đinh Liễn là Nam Việt Vương), bổ sung chính sách ngoại giao( lệ sang triều cống phương Bắc).
- Sai lầm trong việc bỏ trưởng, lập ấu, cho con út là Hạng Lang làm thái tử. Con trưởng là Đinh Liễn theo cha nhiều trận mạc mà không được kế vị. Họa loạn gây nên ngay trong hoàng tộc.
- Năm 979 Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích giết chết(…Đỗ Thích bị triều thần tìm bắt). Đinh Toàn lên làm vua. Tiên Hoàng làm vua được 12 năm , thọ 56 tuổi.
2.2. Đinh Toàn( Phế Đế) 979 – 980.
+ Tiên Hoàng qua đời, triều đình lục đục tranh giành quyền lực nhưng bị Lê Hoàn dẹp yên. Nhà Tống thấy vậy muốn thừa thế sang lấy nước Việt. Giữa lúc nguy nan, lòng quân rối bời, Dương Vân Nga thay con trị nước cũng thấy chỉ có thập đạo tướng quân Lê Hoàn mới có khả năng gỡ rối được tình hình nghiêm trọng lúc này. Thái hậu Dương Vân Nga sẵn sàng quên đi quyền lợi gia đình, dòng họ đã lấy chiếc long bào choàng lên vai Lê Hoàn trong tiếng hò reo dậy trời của quân sĩ.
Như vậy nhà Đinh làm vua được 2 đời, cả thảy 14 năm . Lê Hoàn làm vua, Dương Vân Nga trở thành thái hậu.
3. Nhà tiền Lê( 980 – 1009)
3.1. Lê Đại Hành(980 – 1005)
( Có 04 hoàng tử: Long Dụ, Ngân Tích, Trung Tông Long Việt và Lê Long Đĩnh)
- Lê Hoàn sinh năm Tân Sửu(941) thuộc Xuân Lập – Thọ Xuân – Thanh Hóa trong một gia đình nghèo khổ “ Bố dỡ đó, mẹ xó chùa”. Bố mẹ mất sớm, Lê Hoàn làm con nuôi cho một vị quan người trong họ. Lớn lên theo Đinh Liễn và có công dẹp các sứ quân, được Tiên Hoàng trọng dụng phong thập đạo tướng quân.
- Năm 980 quân Tống theo đường thủy tấn công nước ta(Lúc này Lê Hoàn đã lên ngôi hoàng đế tức Lê Đại Hành) tổ chức đánh quân Tống trên cả 2 mặt trận Thủy, bộ và giành thắng lợi. Đại thắng năm 981 đã mở đầu kỉ nguyên Đại Việt bách thắng bon phong kiến phương Bắc.
- Lê Hoàn dốc sức chăm lo bảo vệ đất nước, có nhiều đổi mới( nội trị, ngoại giao đều xuất sắc).
- Năm 1005 Lê Hoàn mất, thọ 65 tuổi, làm vua được 24 năm.
3.2. Lê Trung Tông( 1005)
Sau khi Lê Hoàn qua đời, các hoàng tử tranh giành quyên lực. Kết quả Lê Trung Tông lên ngôi được 3 ngày thì bị em trai là Lê Long Đĩnh sai người vào cung giết chết, thọ 23 tuổi( là vị vua trị vì ngắn nhất lịch sử phong kiến Việt Nam cùng với vua Dục Đức thời Nguyễn sau này)
3.3. Lê Long Đĩnh
(1005 – 1009)
- Long Đĩnh là người bạo ngược, tàn ác( giết anh chiếm ngôi, lấy việc giết người làm trò chơi, lấy rơm tẩm quấn vào người rồi đốt cho đến chết, treo tù binh lên cây rồi chặt cho đổ, bỏ người vào sọt rồi đem thả xuống sông, lấy mía để lên đầu sư mà róc..)
- Là vị vua dâm dục vô độ, không quan tâm triều chính, lo vui chơi, hưởng lạc.
Vua ngọa triều( Vua mắc căn bệnh không ngồi được(bệnh trĩ) vua thường nằm thị triều)
Long Đĩnh làm vua được 04 năm rồi mất, thọ 24 tuổi. Con tên là Lê Cao Sạ còn bé, triều thần đã tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, sáng lập ra triều đại nhà Lý.

4. Nhà Lý(1010 – 1225)
(Nhà Lý tồn tại 215 năm trải qua 9 đời vua: 1. Lý Thái Tổ(Lý Công Uẩn)1010 – 1028( 19 năm), 2. Lý Thái Tông 1028 – 1054( 27 năm), 3. Lý Thánh Tông 1054 – 1072(17 năm), 4. Lý Nhân Tông 1072 – 1127(56 năm), 5. Lý Thần Tông 1128 – 1138(10 năm), 6. Lý Anh Tông 1038 – 1175(37 năm), 7. Lý Cao Tông 1176 – 1210(35 năm), 8. Lý Huệ Tông 1211 – 1225(14 năm), 9. Lý Chiêu Hoàng 1224 – 1225(1 năm).
4.1. Lý Công Uẩn( Lý Thái Tổ 1010 – 1028) – Hiệu: Thuận Thiên.
- Lý Công Uẩn là người khởi dựng triều Lý. Ông sinh năm 974 tại làng Cổ Pháp( Từ Sơn – Bắc Ninh), là con nuôi của thiền sư Lý Khánh Văn từ năm 3 tuổi và truyền thuyết vẫn cho rằng ông là con của Vạn Hạnh, anh ruột của Khánh Văn.
- Cũng theo truyền thuyết, thân sinh ra Lý Công Uẩn nhà nghèo đi làm ruộng thuê ở chùa Thiên Sơn( An Phong – Bắc Ninh) phải lòng một thiếu nữ rồi nàng có thai. Hai vợ chồng dẫn nhau đến khu rừng Báng mệt mỏi, dừng lại nghỉ. Chồng khát nước, đến chỗ giếng nước giữa rừng uống chẳng may sẩy chân chết đuối. Vợ lâu không thấy chồng đến xem thì đất đã đùn lấp giếng. Người phụ nữ bất hạnh than khóc một hồi xin vào ngủ ở chùa Ứng Tâm gần đấy. Sư trụ trì chùa Ứng Tâm đêm trước nằm mơ thấy long thần báo mộng rằng: “Ngày mai dọn chùa cho sạch có Hoàng đế đến”. Tỉnh dậy, nhà sư sai chú tiểu quét dọn sạch sẽ, túc trực từ sáng đến chiều chỉ thấy một người đàn bà có thai xin ngủ nhờ. Vài tháng sau bỗng có chuyện lạ: Một đêm khu tam quan của chùa rực sáng, hương thơm ngào ngạt. Nhà sư cùng bà hộ chùa ra xem thì thấy người đàn bà đã sinh một con trai, hai bàn tay có bốn chữ son: “Sơn hà xã tắc”. Sau đó trời bỗng nổi trận mưa to gió lớn, mẹ chú
bé chết ngay sau khi sinh con và chú bé theo học sư Vạn Hạnh ở chùa Tiên Sơn. Chú bé Lý Công Uẩn.
- Công Uẩn lớn lên có chí lớn khác người. Ông đến Hoa Lư làm qua nhà Tiền Lê đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ.
- Cuối triều tiền Lê lâm vào khủng hoảng và suy yếu. Khi Lê Long Đĩnh qua đời, vua kế vị Long Đĩnh còn nhỏ. Lý Công Uẩn chỉ huy quân túc vệ trong chốn cung cấm. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà tiền Lê nên các quan trong triều đã tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế tức vua Thái Tổ nhà Lý. Vua Thái Tổ thấy Hoa Lư hẹp bèn dời đô về La Thành. Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên liền đổi Đại La thành Thăng Long (tức Hà Nội bây giờ), đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức. Vua Thái Tổ chỉnh đốn việc cai trị , chia nước thành 24 lộ, gọi Hoàng Châu và Ái Châu là trại.
Vua Lý Thái Tổ trị vì 19 năm thì mất, thọ 55 tuổi, sinh được 5 hoàng tử.
4.2 Lý Thái Tông – Lý Phật Mã(1028 – 1054)
- Vua Lý Thái Tổ sinh các hoàng tử: Thái tử Phật Mã, Dực Thánh Vương, Khai Quốc Vương Bồ, Đông Chính Vương Lực, Võ Đức Vương Hoàng.
- Khi Vua Thái Tổ vừa mất, chưa kịp làm lễ tang, các hoàng tử Võ Đức Vương, Dực Thánh Vương, Đông Chính Vương đem quân vây Hoàng thành để tranh ngôi vua với Thái tử, nhờ có Lê Phụng Hiểu trung dũng xông ra chém chết Võ Đức Vương, hai hoàng tử kia bỏ chạy.
- Triều thần cùng Lê Phụng Hiểu phò Thái tử Phật Mã lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu Lý Thái Tông.
- Lý Thái Tông là vị vua anh minh và có nhiều đóng góp cho triều đại nhà Lý. Chính ông thân chinh đem quân đi dẹp cuộc nổi dậy của Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao; năm 1044sau cuộc chiến tranh với Chiêm Thành vua cho đại xá miễn một nửa tiền thuế để khoan sức dân; năm 1049 ông cho xây chùa Diên Hựu(Chùa Một Cột); năm 1042 vua cho ban hành Bộ Luật Hình thư là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta.
4.3. Lý Thánh Tông – Lý Nhật Tôn(1054 – 1072)
- Lý Thánh Tông tên húy là Nhật Tôn, sinh ngày 25 tháng 2 năm Quý Hợi (1023), là con bà Kim Thiên Thái Hậu họ Mai.
- Nhà sử học Ngô Sỹ Liên ghi trong “Đại Việt sử ký toàn thư”: “... Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc Vua tốt. Song nhọc sức xây tháp Báo Thiên, phí của dân làm cung Dâm Đàm, đó là chỗ kém”.
4.4. Lý Nhân Tông – Lý Càn Đức(1072 – 1128)
- Thái tử Càn Đức là con trưởng của Lý Thánh Tông, mẹ là bà Nguyên phi Ỷ Lan, sau là Thái hậu Linh Nhân, Thái tử sinh ngày 25 tháng Giêng năm Bính Ngọ (1066), khi Lý Thánh Tông mất, Thái tử lên ngôi Hoàng đế (1072) lúc mới 6 tuổi, Hoàng Thái hậu Ỷ Lan phải buông rèm nhiếp chính.
- Năm 1075, thời Tống Thần Tông, Vương An Thạch làm Tể tướng âm mưu xâm lược nước ta, Thái úy Lý Thường Kiệt biết rõ âm mưu xâm lược của nhà Tống nên đã đánh phá các căn cứ tập kết lương thực, vũ khí của chúng ở Châu Khâm, Châu Liêm, Châu Ung (Quảng Đông, Quảng Tây) rồi chủ động rút quân về nước lập phòng tuyến ở bờ nam sông Cầu để chặn giặc.
4.5. Lý Thần Tông – Lý Dương Hoán (1128 - 1138)
- Vua Lý Nhân Tông không có con trai, lập con của em trai là Sùng Hiền Hầu Dương Hoán lên làm Thái tử, kế vị Hoàng đế là vua Lý Thần Tông.
Vua Lý Thần Tông khuyến khích phát triển nông nghiệp, thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", cho binh lính đổi phiên, cứ lần lượt 6 tháng một được về làm ruộng, do vậy nhân dân no đủ, an cư lạc nghiệp.
4.6. Lý Anh Tông – Lý Thiên Tộ(1138 - 1175)
- Lý Thiên Tộ là con đích trưởng của Lý Thần Tông, con bà Lê Hoàng hậu, sinh tháng 4 năm Bính Thìn (1136), lên ngôi Hoàng đế năm 1138, lúc đó mới 3 tuổi. Lê Hoàng hậu cầm quyền nhiếp chính lại tư thông với Đỗ Anh Vũ làm cho triều đình đổ nát, sau nhờ có các trung thần như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Công Tín nên giữ vững được cơ đồ nhà Lý.
4.7. Lý Cao Tông – Lý Long Trát(1176 - 1210)
Lý Anh Tông mất, Thái tử Long Cán lúc đó chưa đầy 3 tuổi, bà Chiêu Linh Thái hậu muốn lập con cả của mình là Long Xưởng lên ngôi vua. Bà đem vàng bạc đút lót cho vợ Tô Hiến Thành, nhưng Tô Hiến Thành nhất định không nghe cứ theo di chiếu lập Long Cán lên làm vua, hiệu là Lý Cao Tông. Lớn lên Cao Tông chơi bời vô độ, chính sự hình pháp không rõ ràng, giặc cướp nổi lên như ong, đói kém liên miên, cơ nghiệp nhà Lý từ đó suy đồi.
4.8. Lý Huệ Tông – Lý Sảm(1211 - 1224)
- Thái tử Sảm lên ngôi Hoàng đế, hiệu là Huệ Tông, lập Trần Thị Dung làm nguyên phi, phong cho Trần Tự Khánh làm Chương Tín hầu, Tô Trung Tự làm Thái uý, Thuận Lưu Bá, Trần Thừa làm Nội thị phán thủ.
Thái tử Sảm sinh tháng 7 năm Giáp Dần (1194) con cả của Cao Tông và bà Hoàng hậu họ Đàm.
- Vua Huệ Tông thường rượu chè say khướt suốt ngày, bỏ bê triều chính. Huệ Tông không có con trai. Hoàng hậu Trần Thị Dung chỉ sinh được hai con gái. Con gái lớn là Thuận Thiên công chúa đã gả cho Phụng kiều vương Trần Liễu, công chúa thứ 2 là Phật Kim (công chúa Chiêu Thánh) mới 7 tuổi được làm Thái tử.
4.9. Lý Chiêu Hoàng – Lý Phật Kim(1224 - 1225)
- Dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Lý Huệ Tông bị ép đi tu, nhường ngôi vua cho con gái là công chúa Chiêu Thánh (lúc đó mới 7 tuổi) niên hiệu là Lý Chiêu Hoàng. Binh quyền về tay Trần Thủ Độ.
Cũng dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh (8 tuổi) là con ông Trần Thừa được đưa vào hầu cận Lý Chiêu Hoàng.
- Trần Cảnh được Chiêu Hoàng yêu mến, thường hay té nước, ném khăn trêu đùa. Trần Thủ Độ tung tin là Lý Chiêu Hoàng đã lấy chồng là Trần Cảnh.
Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng mở hội lớn ở điện Thiên An, trước bá quan văn võ, Chiêu Hoàng cởi hoàng bào mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế đổi niên hiệu là Kiến Trung năm thứ nhất, dựng lên triều đại nhà Trần từ đấy.
5. Nhà Trần(1225 – 1400)
( Nhà Trần trải qua 12 đời vua: 1. Trần Thái Tông(1225 – 1258), 2. TrầnThánh Tông(1258 – 1278), 3. Trần Nhân Tông(1279 – 1293), 4. Trần Anh Tông(1293 – 1314, 5. Trần Minh Tông(1314 – 1329), 6. Trần Hiến Tông(1329 – 1341), 7. Trần Dụ Tông(1341 – 1469), 8. Trần Nghệ Tông(1370 – 1372), 9. Trần Duệ Tông(1372 – 1377), 10. Trần Phế Đế(1377 – 1388), 11. Trần Thuận Tông(1388 – 1398),12. Trần Thiếu Đế(1398 – 1400)
5.1. Trần Thái Tông(1225 – 1258) – Hiệu Kiến Trung
- Trần Cảnh( Trần Thái Tông sinh năm 1218) (là con trai thứ của Trần Thừa), cùng tuổi với Lý Chiêu Hoàng.
- Nhờ Trần Thụ Độ thu xếp, Lý Chiêu Hoàng đã lấy Trần Cảnh và nhường ngôi cho Trần Cảnh vào năm 1225, lên làm vua, lấy niên hiệu là Trần Thái Tông.
- Chiêu Thánh Hoàng hậu lấy Trần Cảnh 12 năm mà không có con, tức đã 19 tuổi. Trong khi triều Trần đang rất cần có Hoàng tử. Bởi vậy Trần Thụ Độ đã bắt vua Thái Tông bỏ Chiêu Tháng giáng xuống làm công chúa, rồi đem người chị của Chiêu Thánh là Thuận Thiên( vợ của Trần Liễu) đã có thai vào làm Hoàng hậu. Trần Liễu tức giận đem quân làm loạn( Trần Thụ Độ: Là chú của Trần Cảnh, người có công xây dựng sự ngiệp triều Trần, là nhà chính trị sáng suốt khôn ngoan, Ông đề cao tư tưởng pháp trị, đề ra luật lệ quy chế hành chính và gương mẫu thực hiện, hết lọng, tận tâm vì triều đình. Ông từng có câu nói nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống quấn Nguyên Mông lần thứ nhất: “ Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo)
- Thái Tông bỏ trốn lên chùa tỏ ý phản đối Trần Thụ Độ nhưng mọi việc cũng đã được thu xếp, ổn thỏa. Thái Tông về triều tiếp tục lo triều chính. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất( 1258) cùng Trần Quốc Tuấn( con trai của Trần Liễu) Thái Tông đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt quyết chống giặc và giành thắng lợi.
- Trần Thái Tông đã trở thành một ông vua anh hùng cứu nước, một tư tưởng sâu sắc, một cốt cách độc đáo, đề cao: “ quốc gia, xã tắc” . Là người có tính cách đặc biệt: Lúc làm vua thì thân làm tướng đi đánh giặc: “ xông vào mũi tên hòn đạn”, làm vua nhưng xem thường vinh hoa phú quý, có thể từ bỏ ngai vàng không chút luyến tiếc.
Năm 1258 Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng( con thứ vì Quốc Khang con trưởng là con của Trần Liễu con nuôi). Triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái Thượng hoàng để cùng coi việc nước. Thái Tông trị vì được 38 năm, làm Thái Thượng hoàng 19 năm thì mất, thọ 60 tuổi.
5.2. Trần Thánh Tông (1258 - 1278)
Trần Thánh Tông (12 tháng 10 năm 1240 – 3 tháng 7 năm 1290) tên húy Trần Hoảng  là vị hoàng đế thứ hai của Hoàng triều Trần nước Đại Việt, ở ngôi từ ngày 30 tháng 3 năm 1258 đến ngày 8 tháng 11 năm 1278. Sau đó ông làm Thái thượng hoàng từ cuối năm 1278 cho đến khi qua đời năm 1290. Ông thường được sử sách mô tả là một hoàng đế tài giỏi, giữ vững được cơ nghiệp của triều đại và nền độc lập của quốc gia.
Trần Hoảng là đích trưởng tử của Trần Thái Tông, đã góp phần chỉ huy quân đội đẩy lùi cuộc xâm lược của người Mông Cổ năm 1258. Không lâu sau kháng chiến thắng lợi, Hoàng đế Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Hoảng, tức Hoàng đế Thánh Tông. Trong thời kỳ cầm quyền của mình, Trần Thánh Tông đã ban hành nhiều chính sách nhằm hoàn thiện nền hành chính, giáo dục, kinh tế, bảo trợ Phật giáo, trọng dụng quan viên, tướng lĩnh có tài và duy trì sự hòa hợp, kỷ cương trong triều đình. Về đối ngoại, Trần Thánh Tông phải đương đầu với tham vọng bành trướng của đế quốc Nguyên-Mông cường thịnh ở phương Bắc. Ông đã thực thi một chính sách ngoại giao mềm mỏng, cống nạp Nhà Nguyên 3 năm 1 lần, nhưng cự tuyệt mọi yêu sách của vua Nguyên đòi ông cống người, cống voi, đích thân sang chầu, gửi quân giúp tỉnh Vân Nam, nộp sổ sách dân số,... Ngoài ra ông tích cực
chỉnh đốn quân đội, tổ chức tuần tra biên giới để đề phòng sự xâm lược của người Nguyên.
5.3. Trần Nhân Tông(1279- 1293)
Trần Nhân Tông (sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308) tên khai sinh là Trần Khâm, là vị hoàng đế thứ ba của Hoàng triều Trần nước Đại Việt. Ông trị vì từ ngày 8 tháng 11 năm 1278 đến ngày 16 tháng 4 năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được sử Việt đánh giá là một vị vua anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ XIII, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng cương thổ đất nước. Ngoài ra, ông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
Là đích trưởng tử của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã được truyền ngôi vào tháng 11 năm 1278 – lúc ông chưa đầy 20 tuổi. Vị hoàng đế trẻ sớm phải đương đầu với hiểm họa xâm lược từ đế quốc Mông – Nguyên hùng mạnh ở phương Bắc. Do vậy, ngay sau khi lên ngôi Trần Nhân Tông đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao sức mạnh kinh tế và ổn định chính trị – xã hội của Đại Việt, đồng thời xây dựng quan hệ tích cực với nước láng giềng phía nam là Chiêm Thành. Năm 1285, hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt huy động đã một lực lượnglớn (theo Đại Việt sử ký toàn thư là 50 vạn người) tấn công Đại Việt. Quân dân Đại Việt ban đầu gặp nhiều tổn thất; nhưng dưới sự chỉ huy của vua Nhân Tông, Thượng hoàng Thánh Tông và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, người Việt đã dần dần xoay chuyển tình thế và đánh bật quân Nguyên ra khỏi đất nước. Sau đó, 2 vua Trần và Hưng Đạo vương tiếp tục lãnh đạo dân Việt đánh bại một cuộc xâm lược khác của Mông – Nguyên vào năm 1287.
Sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược của người Mông Cổ, Trần Nhân Tông đã khôi phục được sự hưng thịnh của Đại Việt đồng thời thực thi phương sách ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn với nhà Nguyên. Năm 1293, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Thuyên (tức vua Trần Anh Tông) và lên làm Thái thượng hoàng. Sau đó Nhân Tông xuất gia tu hành theo đạo Phật và lấy hiệu Trúc Lâm Đại sĩ; nhưng ông vẫn tham gia điều hành chính sự, đánh dẹp quân Ai Lao xâm phạm biên giới và mở rộng bờ cõi về phương Nam bằng phương pháp ngoại giao. Trần Nhân Tông cũng chính là vị tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam và tinh thần nhập thế.
5.4. Trần Anh Tông(1293 – 1314)
Trần Anh Tông (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1276 – 21 tháng 4 năm 1320) tên khai sinh là Trần Thuyên, là vị hoàng đế thứ tư của Hoàng triều Trần nước Đại Việt. Ông ở ngôi từ tháng 4 năm 1293 đến tháng 4 năm 1314, rồi làm Thái thượng hoàng từ năm 1314 đến khi qua đời. Được đánh giá là một vị hoàng đế anh minh, chăm lo quốc sự, triều đại của Anh Tông chứng kiến một giai đoạn phát triển hưng thịnh của Đại Việt sau 3 lần kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông.
Trần Thuyên là đích trưởng tử của Trần Nhân Tông (vua thứ 3 triều Trần). Năm 1293, sau khi đánh bại các đợt xâm lược của Nguyên-Mông, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử Thuyên, tức Hoàng đế Anh Tông. Theo bộ chính sử Đại Việt, Đại Việt Sử ký Toàn thư, Trần Anh Tông ban đầu khá buông thả, mê rượu chè, nhưng sau khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông nghiêm khắc răn bảo, đã chịu tu sửa mình, trở thành một hoàng đế anh minh sáng suốt, tin dùng những nhân tài như Trương Hán Siêu, Đoàn Nhữ Hài, Nguyễn Trung Ngạn (ban văn) và Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật (ban võ). Trong thời kỳ trị vì của ông, Đại Việt phát triển hưng thịnh, dù phải chống lại một số đợt xâm lấn của Ai Lao trên hướng Tây. Vua Anh Tông sử dụng tướng tài Phạm Ngũ Lão đánh bại quân Ai Lao. Ông còn ngăn chặn sự lấn chiếm của người Nguyên ở biên giới phía Bắc, và mở rộng lãnh thổ Đại Việt về phương Nam thông qua cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa (em gái ông) với vua Chiêm Thành. Sau khi nhường ngôi cho con là Trần Mạnh (tức vua Trần Minh Tông) vào năm 1314, Thượng hoàng Anh Tông tiếp tục hỗ trợ Minh Tông cai quản nước Việt.
Giống như các tiên đế, Trần Anh Tông là một Phật tử mộ đạo. Năm 1299, Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm – giáo hội thống nhất đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Trần Anh Tông đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của giáo hội này, qua việc khuyến khích các thiền sư phái Trúc Lâm thuyết pháp ở nhiều nơi, cúng dường tiền của, vật liệu cho việc xây chùa, tháp và vận động các thành viên hoàng gia làm thế. Ông cũng hay sáng tác thơ ca, nhưng ngày nay chỉ còn 12 bài chép trong Việt âm thi tập.
5.5. Trần Minh Tông(1314 – 1392)
Trần Minh Tông (sinh ngày 4 tháng 10 năm 1300 – 10 tháng 3 năm 1357) tên thật là Trần Mạnh, là vị hoàng đế thứ năm của Hoàng triều Trần nước Đại Việt. Ông giữ ngôi từ ngày 3 tháng 4 năm 1314 đến ngày 15 tháng 3 năm 1329, sau đó làm Thái thượng hoàng đến khi qua đời. Thời kỳ của ông và cha ông được mệnh danh là thời kỳ hưng thịnh của vương triều nhà Trần, được sử gia xưng tụng là Anh Minh Thịnh Thế.
Trần Mạnh là con thứ tư của Trần Anh Tông, được vua cha lập làm thái tử năm 1305. Năm 1314, Anh Tông nhường ngôi lên làm Thượng hoàng, Trần Mạnh đăng cơ ở tuổi 14, tức Hoàng đế Minh Tông. Ông được sử cũ khen ngợi là một hoàng đế anh minh, trọng dụng các quan viên có năng lực như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hài, Phạm Sư Mạnh,..., dùng luật nghiêm minh và duy trì sự hưng thịnh kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, cuối thời ông trị vì, mâu thuẫn trở nên gay gắt giữa các phe đối lập trong triều đưa đến những vụ thanh toán tàn khốc mà nhà vua tỏ ra bất lực. Về đối ngoại, Minh Tông giữ được quan hệ ổn định với Nguyên-Mông; ở phương Nam, ông buộc Chiêm Thành phải thần phục dù đến năm 1326, người Chiêm thoát lệ thuộc vào Đại Việt.
Cũng như các đời vua trước, Trần Minh Tông ưa chuộng Phật giáo, nhưng cũng trọng dụng Nho thần, và hay sáng tác thơ, văn. Tuy nhiên, trong lúc lâm chung, ông đã sai đốt hầu hết các tập thơ của mình, và ngày nay chỉ còn 25 bài thơ chép rải rác trong Toàn Việt thi lục, Trần triều thế phả hành trạng, Việt âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thư và Nam Ông mộng lục. Ngoài ra, ông cũng viết bài tựa cho tập Đại hương hải ấn thi của Trần Nhân Tông.
5.6. Trần Hiền Tông(1329 – 1341)
Trần Hiến Tông (sinh ngày 17 tháng 5 năm 1319 – 11 tháng 6 năm 1341) là vị hoàng đế thứ sáu của triều đại nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, trị vì trong 13 năm (1329 - 1341).
Hiến Tông tuy cai trị trên danh nghĩa nhưng việc điều khiển triều chính đều do Thái thượng hoàng Trần Minh Tông xử lý. Trong thời gian này, Thượng hoàng dấy binh đi dẹp loạn Ngưu Hống ở Đà Giang, đánh quân Ai Lao xâm phạm bờ cõi.
Dưới triều Trần Hiến Tông, biên giới phía Bắc và phía Nam tương đối ổn định. Thời gian trị vì của Hiến Tông, nhà Trần không tổ chức khoa thi nào để chọn nhân tài. Vào năm Đinh Sửu (1337) có xuống chiếu cho các quan trong triều cũng như ngoài các lộ, hàng năm xét những thuộc viên do mình quản lý, người nào siêng năng cẩn thận thì giữ lại, còn người nào không làm được thì truất bỏ.
Từ năm 1333 đến năm 1338 chỉ trong vòng 6 năm, đã có nhiều thiên tai lớn xảy ra như lụt lội, bão gió, động đất. Vì vậy Trần Hiến Tông hạ lệnh cho các nơi lập kho lương chứa thóc thuế để kịp thời cấp cho dân đói.
Về văn hóa và một số ngành khoa học như thiên văn, lịch pháp, y học vào thời gian này cũng có những thành tựu đáng kể. Dưới triều Trần Hiến Tông có Hậu nghi đài lang, Thái sử cục lệnh là Đặng Lộ người huyện Sơn Minh (Ứng Hòa, Hà Nội) đã chế ra một dụng cụ xét nghiệm khí tượng gọi là Lung Linh nghi, khi khảo nghiệm không việc gì là không đúng.
Năm Khai Hựu thứ 13 (1341), ngày 11 tháng 6, ông qua đời ở chính tẩm, tạm quàng ở Kiến Xương cung, hưởng thọ 22 tuổi. Miếu hiệu là Hiến Tông, thụy hiệu là Thể Nguyên Ngự Cực Duệ Thánh Chí Hiếu Hoàng Đế. Khoảng 4 năm sau (1344), Hiến Tông mới được an táng vào An lăng
5.7. Trần Dụ Tông(1341 -1369)
Trần Dụ Tông (Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1336 – 25 tháng 5 năm 1369) là vị hoàng đế thứ 7 của triều đại nhà Trần nước Đại Việt, ở ngôi 28 năm từ năm 1341 đến năm 1369.
Dụ Tông là con thứ 10 của vua Trần Minh Tông và là em của vua Trần Hiến Tông. Năm 1341, vua Trần Hiến Tông mất sớm, Thượng hoàng Minh Tông đón Dụ Tông lập làm vua. Nhà vua mới 5 tuổi nên Thượng hoàng quyết định mọi việc, chính sự khá tốt đẹp. Nhưng sau khi Thượng hoàng qua đời, Dụ Tông đích thân chấp chính. Lúc này, Nhà Nguyên đang đại loạn, Minh Thái Tổ dấy binh đánh với Trần Hữu Lượng, có đem sứ giả sang nhờ triều đình nhà Trần cứu viện nhưng thấy chiến sự hỗn loạn nên không tham gia, tuy nhiên ông vẫn cho quân lính phòng ngự ở biên giới để tránh bạo loạn. Ở phía Nam, Chiêm Thành trở nên không thông hiếu, nhiều lần qua cướp các vùng Thanh Hóa, Hóa Châu, làm hại dân lành, Dụ Tông ra sức sai quân lính bảo vệ biên cương, nhưng vẫn ở thế giằng co.
Tuy hăng hái về chính sự, nhưng Dụ Tông lại thích hưởng lạc nhiều, xây dựng nhiều cung điện, thích đánh bạc, nuôi chim thú lạ khắp nơi, trong cung lại hiện ra khung cảnh hào hoa tráng lệ khác thường. Cơ nghiệp nhà Trần từ đây suy yếu. Vì mải chơi bời nên sức khỏe kém, mất mà không có con nối, đến nỗi truyền ngôi cho Trần Nhật Lễ, con nuôi cố Cung Túc vương Trần Nguyên Dục (anh Dụ Tông). Nhật Lễ định đổi sang họ Dương thì bị con thứ ba của Minh Tông là Trần Phủ lật đổ, giết chết.
5.8. Trần Nghệ Tông(1370 – 1372)
Trần Nghệ Tông (tháng 12 năm 1321 – 15 tháng 12 năm 1394) tên húy là Trần Phủ hoặc Trần Thúc Minh, còn gọi là Nghệ Hoàng, là vị hoàng đế thứ 9 của nhà Trần nước Đại Việt. Ông giữ ngôi 2 năm (1370–1372), ở ngôi Thái thượng hoàng hơn 20 năm (1372–1394).
Trần Phủ là con thứ ba của Trần Minh Tông và là anh của Trần Dụ Tông. Năm 1369, Dụ Tông chết, truyền ngôi cho người cháu nuôi là Trần Nhật Lễ. Vua Nhật Lễ ăn chơi sa đọa, lại định đổi sang họ Dương, gây oán hận cho các tôn thất nhà Trần. Năm 1370, Trần Phủ, bấy giờ là Thái sư Cung Định Đại vương, lãnh đạo cuộc đảo chính giết Nhật Lễ. Trần Phủ lên ngôi tức vua Trần Nghệ Tông. Nghệ Tông sửa sang chính sự, muốn khôi phục thời thịnh trị của Trần Minh Tông. Năm 1371, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga dẫn quân đánh Đại Việt, tới tận Thăng Long, đốt phá cung thất. Nhà vua phải trốn ra huyện Đông Ngàn, chờ khi quân Chiêm rút mới về.
Trong sử sách, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông bị phê phán vì không sửa sang quân đội và vì tiếp tay cho người em họ bên ngoại là Thái sư Hồ Quý Ly chuyên quyền, giết hại tôn thất. Năm 1388, người kế vị Duệ Tông là Trần Hiện có ý mưu trừ Quý Ly. Thượng hoàng giết Trần Hiện, rồi lập con nhỏ của mình là Trần Thuận Tông kế vị. Thượng hoàng tiếp tục xử lý triều chính tới khi mất. Thời gian này, Quý Ly tìm cách gây dựng thanh thế, giật dây khiến Trần Nghệ Tông xuống tay trừ đi các đối thủ chính trị của mình, đặc biệt là các tôn thất hoàng tộc họ Trần.
5.9. Trần Duệ Tông(1372 – 1377)
Trần Duệ Tông (Sinh ngày 30 tháng 6 năm 1337 - 4 tháng 3 năm 1377) là vị hoàng đế thứ 10 của triều đại nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1372 đến khi bị giết vào năm 1377.
Trần Duệ Tông rất chú trọng đề cao quy định riêng của triều đại. Ông hạ lệnh cho quân dân không được mặc áo kiểu người phương Bắc và không được bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm – Lào. Ông còn quy định về mẫu mã các loại thuyền, xe ngựa, kiệu, tán, nghi, trượng và y phục, tất cả đều noi theo mũ áo của đời Trần Minh Tông. Tháng 4 năm 1374, đoàn sứ nhà Trần báo tin việc truyền ngôi cho nhà Minh hay.
Duệ Tông Hoàng đế có lòng dũng cảm, mong muốn chấn hưng Đại Vi
 
Gửi ý kiến