Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Câu hỏi pháp luật

Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Hữu Đức
Ngày gửi: 22h:15' 27-11-2013
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 31
Số lượt thích: 0 người
Lê Hữu Đức - THCS Nguyễn Viết Xuân - Krông Bông
BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
CÂU 1: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Có ý kiến cho rằng: chỉ có những trẻ em da trắng và da vàng mới có những quyền trẻ em được quy định trong công ước quốc tế về quyền trẻ em, còn trẻ em da đen ở những nước châu Phi thì không có những quyền này. Xin hỏi nhận định như thế có đúng không? TRẢ LỜI: CHĂM SÓC BẢO VỆ TRẺ EM
Trả lời: Công ước Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em là một công ước quốc tế quy định các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em. Công ước có hiệu lực từ ngày 2 tháng 9 năm 1990. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đã tham gia công ước (193 quốc gia, trừ Hoa Kỳ và Somalia). Các quốc gia phê chuẩn công ước này chịu ràng buộc của các quy định công ước này theo luật quốc tế. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Điều 2 của công ước khẳng định rằng các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm những quyền trẻ em được nêu ra trong công ước mà không có sự phân biệt, đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc…. Như vậy, trẻ em ở bất cứ quốc gia nào đã tham gia công ước đều được hưởng những quyền trẻ em được ghi nhận trong công ước, không phụ thuộc vào màu da của các em. Trẻ em da đen cũng như trẻ em da trắng, đều có các quyền bình đẳng như nhau. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới tham gia Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990. Ngay sau đó, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vào năm 1991 để ghi nhận các quyền trẻ em trong công ước này. CÂU 2: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Thư (13 tuổi) là một cô bé xinh xắn, hát rất hay và múa rất khéo. Vì vậy, Thư thường được thầy cô và bạn bè cử đi tham gia các hoạt động văn nghệ của trường, của huyện. Tuy nhiên, bố mẹ của Thư không cho phép bạn tham gia những hoạt động văn nghệ đó vì cho rằng những hoạt động văn nghệ đó là vô bổ, sẽ làm ảnh hưởng đến việc học của Thư. Xin hỏi: Việc ngăn cấm đó có xâm phạm đến quyền trẻ em của Thư không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Trẻ em là những mầm non đang lớn, cần phải được tạo điều kiện phát triển toàn diện. Hoạt động vui chơi, giải trí, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ sẽ giúp các em thoải mái, thư giãn và khiến cho trẻ phát triển toàn diện hơn. Theo nội dung của Điều 32, Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em thì trẻ em có quyền được nghỉ ngơi, thư giãn, tham gia vui chơi, được giải trí và tự do tham gia sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi. Pháp luật Việt Nam ghi nhận rằng trẻ em có quyền được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi. (Điều 17, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004) : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Đồng thời pháp luật cũng quy định gia đình phải có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ em được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi. Hành động của bố mẹ Thư như trên là chưa tôn trọng quyền được vui chơi, giải trí, tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật của trẻ em. Bố mẹ cần tạo điều kiện để Thư tham gia các hoạt động này. CÂU 3: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Em H bị lây nhiễm HIV từ mẹ ngay lúc mới chào đời. Khi em lên 2 tuổi, gia đình đưa em đi học ở mẫu giáo. Tuy nhiên, Ban Giám hiệu trường mẫu giáo đã từ chối tiếp nhận em H vì lý do em có thể làm lây nhiễm HIV cho người khác. Xin hỏi: Hành vi nói trên có xâm phạm đến quyền trẻ em của em H không? Pháp luật quy định như thế nào về hành vi cản trở quyền học tập của trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với những trẻ em bình thường khác khi mang trên người căn bệnh thế kỷ. Các em cần được xã hội quan tâm nhiều hơn để vượt qua những khó khăn và mất mát của bản thân. Các em cũng có đầy đủ các quyền trẻ em mà pháp luật ghi nhận. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm hành vi phân biệt, kỳ thị đối với trẻ em bị nhiễm HIV. Điều 53, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em nhiễm HIV không bị phân biệt đối xử; được nhà nước và xã hội tạo điều kiện để chữa bệnh, nuôi dưỡng tại gia đình hoặc tại cơ sở trợ giúp trẻ em.” : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Việc từ chối tiếp nhận trẻ em bị nhiễm HIV đã xâm phạm đến quyền được học tập của các em. Theo quy định tại Điều 22, Nghị định 69/2001/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 8/8/2011 quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng chống HIV/AIDS, thì hành vi cản trở quyền được học tập của trẻ em bị nhiễm HIV sẽ bị xử phạt như sau: - Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cản trở hoặc từ chối tiếp nhận trẻ em, học sinh, sinh viên, học viên vào học trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
vì lý do người đó nhiễm HIV hoặc là thành viên trong gia đình có người nhiễm HIV; - Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi kỷ luật, đuổi học sinh, sinh viên, học viên vì lý do người đó nhiễm HIV hoặc là thành viên trong gia đình có người nhiễm HIV; Người thực hiện các hành vi nói trên bị buộc phải tiếp người bị nhiễm HIV vào cơ sở giáo dục. CÂU 4: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Pháp luật Việt Nam quy định về quyền được tiếp cận thông tin, được bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội của trẻ em như thế nào? Người lớn có trách nhiệm bảo đảm quyền này của trẻ em không? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Trẻ em cũng là con người, là thành viên trong gia đình và xã hội. Các em cũng có những tình cảm và suy nghĩ riêng và có quyền được bày tỏ ý kiến về những vấn đề có liên quan đến các em. Quyền được bày tỏ ý kiến, được tham gia các hoạt động xã hội thuộc nhóm quyền cơ bản của Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em. Thực hiện quyền tham gia của trẻ em giúp cho mối quan hệ giữa người lớn và trẻ em được dân chủ và bình đẳng. “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”. Hôm nay, trẻ em được tiếp cận thông tin, được bày tỏ ý kiến về những vấn đề có ảnh hưởng đến trẻ em, được tham gia vào các hoạt động xã hội thì ngày mai khi trưởng thành các em sẽ là những con người nặng động, thích ứng được với những đòi hỏi của cuộc sống. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội của trẻ em được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể tại Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004: “ Điều 20. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội 1. Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về những vấn đề mình quan tâm. 2. Trẻ em được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình.” : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Đồng thời, luật cũng quy định trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền này của trẻ em như sau: - Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em được tiếp cận thông tin phù hợp, được phát triển tư duy sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng; có trách nhiệm lắng nghe và giải quyết nguyện vọng chính đáng của trẻ em. - Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, nhà trường có trách nhiệm tổ chức cho trẻ em tham gia các hoạt động xã hội và sinh hoạt tập thể phù hợp với nhu cầu và lứa tuổi. (Điều 32, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004). CÂU 5: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Những hành vi nào là hành vi lạm dụng sức lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại; làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động theo pháp luật việt Nam? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Theo Điều 9, Nghị định 71/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 08 năm 2011 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, quy định hành vi lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động bao gồm những hành vi sau: - Cha, mẹ, người giám hộ, người nhận nuôi dưỡng trẻ em bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em hoặc bắt trẻ em làm những công việc mà pháp luật không cho phép. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
- Người nhận dạy nghề cho trẻ em bắt trẻ em làm công việc quá sức, nặng nhọc, quá thời gian, trong môi trường độc hại, nguy hiểm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em. - Sử dụng lao động trẻ em không trả công hoặc trả công không tương xứng, không có cam kết của cha, mẹ, người giám hộ, không có hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; bắt trẻ em lao động quá sức, quá thời gian, nặng nhọc, trong môi trường độc hại, nguy hiểm; sử dụng trẻ em làm những công việc trái với quy định của pháp luật về lao động. : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
- Sử dụng trẻ em làm những công việc trong vũ trường, cơ sở xoa bóp, vật lý trị liệu, sòng bạc, nhà hàng ka-ra-ô-kê, quán rượu, quán bia hoặc những nơi có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em. - Sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng cấm, hàng trốn thuế. - Để trẻ em tham gia, sử dụng trẻ em trong sản xuất, kinh doanh, phổ biến sản phẩm văn hóa, thông tin, truyền thông, đồ chơi, trò chơi, đồ dùng có nội dung bạo lực, đồi trụy, nguy hiểm, không phù hợp hoặc có hại cho sự phát triển của trẻ em. CÂU 6: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Theo quy định của pháp luật, bên cạnh các quyền, trẻ em có những bổn phận nào? Trẻ em không được làm những gì ? TRẢ LỜI: BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
Trả lời: Theo quy định tại Điều 21, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em có những bổn phận sau đây: - Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ; kính trọng thầy giáo, cô giáo; lễ phép với người lớn, thương yêu em nhỏ, đoàn kết với bạn bè; giúp đỡ người già yếu, người khuyết tật, tàn tật, người gặp hoàn cảnh khó khăn theo khả năng của mình. - Chăm chỉ học tập, giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, thực hiện trật tự công cộng và an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác, bảo vệ môi trường : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
- Yêu lao động, giúp đỡ gia đình làm những việc vừa sức mình; - Sống khiêm tốn, trung thực và có đạo đức, tôn trọng pháp luật; tuân theo nội quy của nhà trường; thực hiện nếp sống văn minh, gia đình văn hóa; tôn trọng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; - Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đoàn kết quốc tế. Theo quy định của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, (Điều 22), trẻ em không được làm những việc sau đây: : BẢO VỆ CHĂM SÓC TRẺ EM
- Tự ý bỏ học, bỏ nhà sống lang thang; - Xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác; gây rối trật tư công cộng; - Đánh bạc, sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất kích thích khác có hại cho sức khỏe; - Trao đổi, sử dụng văn hóa phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy; sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh. TỆ NẠN XÃ HỘI
CÂU 1: TỆ NẠN XÃ HỘI
Vì sao cần sa bị cấm trồng? TRẢ LỜI: TỆ NẠN XÃ HỘI
Trả lời: Cây cần sa (cannalis sativa), còn gọi là bồ đà. Phần lá và hoa của nó được phơi khô để hút hay nhai, có thể làm cho say sưa, quên thực tại. Nhựa ở lá và hoa của cần sa được chiết ra và cô lại thành từng bánh, dùng để hút, có tác dụng kích thích và gây nghiện rất mạnh. Nhựa cần sa có nồng độ gây nghiện gấp 8-10 lần thảo mộc cần sa. Tinh dầu cần sa có màu hơi tối và nồng độ các chất gây nghiện cao gấp 3-4 lần nhựa cần sa. : TỆ NẠN XÃ HỘI
Trong cần sa có chứa chất tetrahydrocannabinol - Chất gây nghiện chủ yếu (THC), chất này có tác dụng hạ huyết áp, an thần nhưng đặc biệt là kích thích và gây nghiện, tạo cảm giác thư giãn, sảng khoái với những ảo giác đẹp. Chất này qua phổi, vào máu và lên năo rất nhanh. Chỉ sau 10 giây, người nghiện đă thấy nhẹ nhõm, sảng khoái, lâng lâng bay bổng. Người hút nhiều cần sa sẽ bị ngộ độc với các biểu hiện tim đập nhanh, hồi hộp, lo sợ, ưu tư vô cớ, sau đó là trầm cảm, hoang tưởng, không thích giao thiệp hay bạn bè. : TỆ NẠN XÃ HỘI
Khi đã nghiện thì tính tình thụ động, ít cảm xúc, không muốn đi học hay đi làm, hay cáu giận, khó tập trung tư tưởng, luôn sống trong ảo giác. Chất THC làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể nên người dùng cần sa dễ bị AIDS hơn. Loại ma túy này cũng làm giảm sự rụng trứng ở phụ nữ và làm yếu tinh trùng ở nam giới, khiến họ rất khó thụ thai. Nếu dùng cần sa khi mang thai, nó có thể làm thay đổi nhiễm sắc thể của tế bào, gây đẻ non hoặc dị tật bẩm sinh cho trẻ. : TỆ NẠN XÃ HỘI
Người nghiện cần sa thường có những hành vi, những việc làm vi phạm pháp luật như tìm đủ mọi cách để có tiền mua cần sa... Do tác hại của cây cần sa đối với cơ thể con người và sự phát triển của xã hội, hiện nay phần lớn các quốc gia trên thế giới đều coi việc trồng, vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ cần sa là bất hợp pháp. Ở Việt Nam việc trồng cần sa, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các chất ma túy từ cây, hoa, nhựa cần sa là hành vi phạm tội theo quy định tại các Điều 192, 193, 194 của Bộ luật hình sự. CÂU 2: TỆ NẠN XÃ HỘI
Tệ nạn xã hội là gì? Trong xã hội hiện đang tồn tại những tệ nạn nguy hiểm nào? TRẢ LỜI: TỆ NẠN XÃ HỘI
Trả lời: Tệ nạn xã hội là những hành vi sai trái, không đúng với chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật, phá vỡ các quy chuẩn xã hội tiến bộ, văn minh lành mạnh, gây hậu quả xấu đối với đời sống gia đình và xã hội. Các tệ nạn xã hội thường gặp là: đánh bạc, đua xe, ma túy, mại dâm, nghiện rượu, nghiện game và xem băng sex… Tệ nạn xã hội không chỉ gây hại cho bản thân người tham gia nó mà còn gây hại rất lớn cho gia đình, xã hội. Rất nhiều gia đình tan nát do có người thân dính phải các tệ nạn, và biết báo vụ án mạng đã xảy ra do những người mắc các tệ nạn xã hội gây ra. : TỆ NẠN XÃ HỘI
Trong số các tệ nạn xã hội, tệ nạn ma tuý là nguy hiểm nhất, là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Ma túy là một loại chất kích thích, gây nghiện, được sử dụng bằng nhiều hình thức hút, chích, hít… Ma túy có một ma lực dẫn dụ ghê gớm, khiến người bị dính vào không thể cưỡng lại được. Nó có thể dẫn dụ tất cả các thành phần và không kể tuổi tác. Hơn thế nữa, ma túy còn là ngọn nguồn của những tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, giết người, cướp của..., vì khi đã dính vào loại này nếu lên cơn nghiện mà không có tiền thì con nghiện sẽ làm bất cứ mọi việc miễn là có tiền để thoả mãn nhu cầu. CÂU 3: TỆ NẠN XÃ HỘI
Xin cho biết một số quy định của pháp luật về phòng, chống các tệ nạn xã hội? TRẢ LỜI: TỆ NẠN XÃ HỘI
Để phòng chống các tệ nạn xã hội Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật hình sự năm 1999, Luật Phòng chống ma túy, Pháp lệnh Phòng chống mại dâm, Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự... Theo Luật Phòng chống ma túy cá nhân, gia đình có trách nhiệm: - Giáo dục thành viên trong gia đình, thân nhân về tác hại của ma tuý và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống ma tuý; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý; - Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh; - Đấu tranh với các hành vi trái phép về ma tuý của thân nhân và của người khác; : TỆ NẠN XÃ HỘI
Nhà nước có chính sách khuyến khích việc tự nguyện cai nghiện ma tuý; áp dụng chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma tuý. Các hình thức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được áp dụng đối với tất cả người nghiện ma tuý. Các hành vi trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy ; tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy ; mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy ; sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy đều bị coi là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự : TỆ NẠN XÃ HỘI
Để bảo vệ trẻ em trước tệ nạn xã hội, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tre em quy định xử lý nghiêm minh đối với các hành vi : - Dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất kích thích khác có hại cho sức khỏe - Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ em - Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua, bán, sử dụng văn hóa phẩm kích động bạo lực, đồi trụy; làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em; sản xuất, kinh doanh đồ chơi, trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của trẻ em. QUYỀN & NGHĨA VỤ CÔNG DÂN
CÂU 1: QUYỀN & NGHĨA VỤ CÔNG DÂN
Tại sao nói học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân? TRẢ LỜI: QUYỀN & NGHĨA VỤ CÔNG DÂN
Quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định trong Hiến pháp, pháp luật, được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Quyền là những gì mà công dân được hưởng và nghĩa vụ là những gì mà công dân phải thực hiện. Học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 59) và Luật Giáo dục (Điều 10) theo nguyên tắc quyền không tách rời nghĩa vụ. Công dân thực hiện quyền học tập của mình bằng nhiều hình thức (học ở hệ chính quy, hoặc giáo dục thường xuyên, học tập trung hoặc không tập trung, học trực tiếp hoặc gián tiếp...tùy thuộc vào điều kiện, công việc của mỗi người) và ở các loại hình trường lớp khác nhau (trường công lập, trường dân lập, trường tư thục. : QUYỀN & NGHĨA VỤ CÔNG DÂN
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành; đề ra các chính sách, biện pháp để phát triển giáo dục. Công dân thực hiện nghĩa vụ học tập bằng cách: mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập, cụ thể là phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học (từ lớp 1 đến hết lớp 5) và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (từ lớp 6 đến hết lớp 9).
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓