chủ de 4 Tục ngữ ca dao HD

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thúy
Ngày gửi: 14h:42' 24-09-2025
Dung lượng: 50.3 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thúy
Ngày gửi: 14h:42' 24-09-2025
Dung lượng: 50.3 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Tiết 3,4CHỦ ĐỀ 4: TỤC NGỮ, CA DAO CỦA HẢI
DƯƠNG
Đọc hiểu văn bản
CA DAO HẢI DƯƠNG
I. Tìm hiểu chung
1. Ca dao
+ Nội dung: Ca dao thể hiện các phương diện tình cảm của nhân dân
lao động, trong đó có tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, đất nước.
2. Ca dao Hải Dương
- Nội dung của ca dao Hải Dương thường gắn với các địa danh, con
người trên các vùng quê ờ Hải Dương, phản ánh truyền thống, phong
tục, cảnh sắc quê hương và vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân Hải Dương.
II. Đọc – hiểu văn bản
1. Các bài ca dao về các địa danh làng nghề truyền thống
a. Bài ca dao 1
- Vùng đất nổi tiếng: Vạn Tải
- Biện pháp tu từ: điệp ngữ “có”
nhấn mạnh sự phong phú của những sản vật quê hương.
Lời mời của chàng trai giới thiệu về nghề truyền thống quê hương,
qua đó thể hiện niềm tự hào về mảnh đất Vạn Tải
b. Bài ca dao 2
Địa danh
Làng nghề
Đồng Lại
Bánh đúc, gạo xay
Đan Giáp
Nghề đan
Vũ Xá
Dan sàng
- Biện pháp tu từ liệt kê các địa danh là tên các thôn của huyện Thanh
Miện có nghề truyền thống.
- Nội dung: Bài ca dao đã giới thiệu các địa danh, làng nghề nổi tiếng
của huyện Thanh Miện. Mỗi làng gắn với một sản vật, giúp người dân
địa phương có cuộc sống khấm khá, ấm no.
niềm tự hào về quê hương.
. Các bài ca dao tự hào về truyền thống,
phong tục quê hương
a. Bài ca dao 3
- Bài ca dao 3: lời của cô gái
- Bài ca dao là niềm tự hào về mảnh đất Mộ
Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang. Là
ngôi làng có nhiều tiến sĩ Nho học nhiều
nhất cả nước và được mệnh danh là “Làng
Tiến sĩ xứ Đông”. “Truyền rằng ở… không
vơ”" đã thể hiện niềm tin về mạch nguồn
của sự hiếu học mà bao đời nay, người dân
làng Mộ Trạch giữ gìn
2
Từ thế kỷ thứ 14 đến thế kỷ thứ 18 thì có 36 vị nhân tài đỗ tiến sĩ trạng
nguyên. Trong đó có 29 họ Vũ, 5 vị họ Lê, 1 vị họ Nhữ, 1 vị họ Nguyễn.
Khoa thi Bính Thân 1656, cả nước có 3000 người đi thi, được 6 tiến sĩ
thì làng Mộ Trạch có 3. Vua Tự Đức uyên thâm về chữ nghĩa, giỏi về
chính trường còn phải tấm tắc khen và bút phê là “ Nhất gia bán thiên
hạ” tức là “một làng bằng nửa thiên hạ”.
Đằng sau vẻ cổ kính, trầm mặc của cụm di tích lịch sử văn hóa đình miếu làng Mộ Trạch, là câu chuyện về giếng làng thiêng liêng, huyền bí,
không bao giờ cạn. Cũng là sự trùng hợp khi thành giếng được xây
dựng từ thời Hậu Lê với đường kính 36m lại đúng bằng con số 36 tiến sĩ
của làng được ghi danh sử sách. Dân làng Mộ Trạch tin rằng con em
mình thông minh, học giỏi là nhờ uống nước giếng từ long mạch, hội tụ
khí thiêng, tinh hoa đất trời
DƯƠNG
Đọc hiểu văn bản
CA DAO HẢI DƯƠNG
I. Tìm hiểu chung
1. Ca dao
+ Nội dung: Ca dao thể hiện các phương diện tình cảm của nhân dân
lao động, trong đó có tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, đất nước.
2. Ca dao Hải Dương
- Nội dung của ca dao Hải Dương thường gắn với các địa danh, con
người trên các vùng quê ờ Hải Dương, phản ánh truyền thống, phong
tục, cảnh sắc quê hương và vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân Hải Dương.
II. Đọc – hiểu văn bản
1. Các bài ca dao về các địa danh làng nghề truyền thống
a. Bài ca dao 1
- Vùng đất nổi tiếng: Vạn Tải
- Biện pháp tu từ: điệp ngữ “có”
nhấn mạnh sự phong phú của những sản vật quê hương.
Lời mời của chàng trai giới thiệu về nghề truyền thống quê hương,
qua đó thể hiện niềm tự hào về mảnh đất Vạn Tải
b. Bài ca dao 2
Địa danh
Làng nghề
Đồng Lại
Bánh đúc, gạo xay
Đan Giáp
Nghề đan
Vũ Xá
Dan sàng
- Biện pháp tu từ liệt kê các địa danh là tên các thôn của huyện Thanh
Miện có nghề truyền thống.
- Nội dung: Bài ca dao đã giới thiệu các địa danh, làng nghề nổi tiếng
của huyện Thanh Miện. Mỗi làng gắn với một sản vật, giúp người dân
địa phương có cuộc sống khấm khá, ấm no.
niềm tự hào về quê hương.
. Các bài ca dao tự hào về truyền thống,
phong tục quê hương
a. Bài ca dao 3
- Bài ca dao 3: lời của cô gái
- Bài ca dao là niềm tự hào về mảnh đất Mộ
Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang. Là
ngôi làng có nhiều tiến sĩ Nho học nhiều
nhất cả nước và được mệnh danh là “Làng
Tiến sĩ xứ Đông”. “Truyền rằng ở… không
vơ”" đã thể hiện niềm tin về mạch nguồn
của sự hiếu học mà bao đời nay, người dân
làng Mộ Trạch giữ gìn
2
Từ thế kỷ thứ 14 đến thế kỷ thứ 18 thì có 36 vị nhân tài đỗ tiến sĩ trạng
nguyên. Trong đó có 29 họ Vũ, 5 vị họ Lê, 1 vị họ Nhữ, 1 vị họ Nguyễn.
Khoa thi Bính Thân 1656, cả nước có 3000 người đi thi, được 6 tiến sĩ
thì làng Mộ Trạch có 3. Vua Tự Đức uyên thâm về chữ nghĩa, giỏi về
chính trường còn phải tấm tắc khen và bút phê là “ Nhất gia bán thiên
hạ” tức là “một làng bằng nửa thiên hạ”.
Đằng sau vẻ cổ kính, trầm mặc của cụm di tích lịch sử văn hóa đình miếu làng Mộ Trạch, là câu chuyện về giếng làng thiêng liêng, huyền bí,
không bao giờ cạn. Cũng là sự trùng hợp khi thành giếng được xây
dựng từ thời Hậu Lê với đường kính 36m lại đúng bằng con số 36 tiến sĩ
của làng được ghi danh sử sách. Dân làng Mộ Trạch tin rằng con em
mình thông minh, học giỏi là nhờ uống nước giếng từ long mạch, hội tụ
khí thiêng, tinh hoa đất trời
 







