Tìm kiếm Bài giảng
Bài 6. Trợ từ, thán từ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thúy
Ngày gửi: 08h:33' 23-09-2025
Dung lượng: 88.9 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thúy
Ngày gửi: 08h:33' 23-09-2025
Dung lượng: 88.9 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
CHỦ ĐỀ 5: VĂN HỌC VIẾT HẢI DƯƠNG
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI HẢI DƯƠNG
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN: XUÂN ĐÁN
(Nguyễn Trãi )
• I. Đôi nét về thơ ca trung đại Hải Dương
• – Văn học trung đại Hải Dương hình thành sớm nhưng chỉ thực sự phát triển từ thế kỉ XIII.
• - Trải qua quá trình phát triển, văn học trung đại Hải Dương đã đạt được những thành tựu to lớn cả
về số lượng các tác giả, tác phẩm và chất lượng sáng tác.
• - Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu làm nên diện mạo của văn học trung đại Hải Dương như:
• + Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với các tác phẩm thơ và phú
+ Chu
Văn An với sáng tác bằng chữ Hán;
+ Nguyễn Trãi với Bình ngô đại cáo, thơ chữ Hán và chữ Nôm;
+ Nguyễn Dữ với Truyền kì mạn lục...
+ Ngoài ra còn các tác giả : Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Phi Khanh, Phạm Đình Hổ, Phạm Quý Thích, Vũ Tông Phan...
- Về nội dung:
+ Yêu nước và nhân văn là nguồn cảm hứng chủ đạo của văn học trung đại Hải Dương.
+ Văn học ngợi ca truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh quật cường chống ngoại xâm, phán
ánh những suy tư, trăn trở của trí thức, kẻ sĩ về đất nước trước sự thay đổi thời cuộc...
+ Văn học viết về thiên nhiên, tự hào về vẻ đẹp của quê hương Hải Dương, ngợi ca lối sống thanh
cao, bình dị, đề cao con người và những giá trị tốt đẹp, phê phán hiện thực đen tối của xã hội.
- Về nghệ thuật:
+ Tính chất quy phạm (sự quy định chặt chẽ theo khuôn mẫu).
+ Tính trang nhã và xu hướng bình dị, dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài.
- Về thể loại: đa dạng, bao gồm thơ ca, văn vần, văn xuôi, kinh, luận, kí, phê bình, dịch Nôm...
1. Chu Văn An
– Chu Văn An người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Ðàm nay là
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Ông là một nhà nho mẫu mực, được vua Trần Minh Tôn dùng vào chức Quốc Tử
Tư Nghiệp, dạy Thái Tử.
- Ðến triều vua Dụ Tôn, ông dâng sớ xin chém đầu 7 tên nịnh thần, vua không nghe,
ông từ quan về ở ẩn tại Chí Linh, núi Phượng Hoàng (nay thuộc thành phố Chí
Linh, tỉnh Hải Dương) lấy hiệu là Tiều Ẩn.
2. Tác phẩm
– Bài thơ
- Hoàn cảnh sáng tác: Xuân đán được viết trong thời gian Chu Văn An về ở ẩn tại
Chí Linh – Hải Dương.
- Thể loại: Thơ thất ngôn bát cú đường luật
- Bố cục:
+ Bốn câu thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên
mùa xuân
+ Bốn câu sau: Cảm nghĩ của tác giả
1. Bốn câu đầu: Vẻ đẹp buổi sáng mùa xuân
- Thời gian: mùa xuân
- Cảnh vật:
+ “núi xa, nhà quạnh” chính là ngôi nhà tranh cửa trúc nhỏ bé nơi cụ ở ẩn tại núi
Chí Linh với sông Thanh Lương uốn khúc trước nhà.
--> trong cảnh núi rừng hoang lặng, con người và thiên nhiên đồng một cung bậc,
cùng chia sẻ những thinh sắc mà đất trời ban tặng để tận hưởng một cuộc sống “suốt
ngày nhàn”, thư thái an nhàn hòa hợp.
--> khung cảnh giản dị giữa vùng sơn thủy hữu tình.
2.
-
Bốn
Hai
câu
câu
luận:
sau:
giàu
Tâm
ý
nghĩa
sự
và
của
nhiều
tác
hình
ảnh
giả
gợi
tả
+ Giếng cổ: gợi dòng nước tươi mát, không hề pha lẫn với các dòng đời ô tạp rác rưởi khác,
luôn
ơn
ích
cho
muôn
người
đang
khát
khao
đạo
lý
và
kiến
giải.
--> Giếng cổ không xao sóng: nói lên cái tâm như đầy ắp chính khí của kẻ sĩ hết lòng phù dân giúp nước.
+ Dù về ở ẩn nhưng nhàn thân không nhàn tâm, ông xa rời xã hội quan quyền không chỉ để lo cho sự yên ổn của
bản
thân
mà
luôn
canh
cánh
bên
lòng
nỗi
niềm
ưu
dân
ái
quốc.
- Hai câu kết: Vẻ đẹp của xuân dần qua đi theo sự vận động của thời gian “dịu dần, thôi khói, mộng xuân tàn”
1. Nội dung:
- Bài thơ miêu tả khung cảnh thiên nhiên mùa xuân nơi núi rừng giản dị, bình yên.
Dù bản thân được hưởng cuộc sống an nhàn, thanh bình nhưng ông vẫn luôn canh
cánh bên lòng nỗi niềm ưu dân ái quốc. Điều đó cho thấy được nhân cách, tấm lòng
đáng trân trọng của Chu Văn An.
2. Nghệ thuật
- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
- Sử dụng nghệ thuật đối, liệt kê
- Ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh.
Tiết 13 ĐỌC HIỂU VĂN BẢN: BÀI CA CÔN SƠN
(Nguyễn Trãi)
I.
Tìm hiểu chung
1. Tá1. Tác giả Nguyễn Trãi
– Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) sau rời về làng Ngọc Ổi (nay thuộc
Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội).
- Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn với vai trò rất lớn bên cạnh Lê Lợi. Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử lỗi lạc, toàn tài hiếm có.
- Ông chịu án oan thảm khốc, bị tru di tam tộc vào năm 1442 và mãi đến năm 1464 mới được vua Lê Thành Tông minh oan.
- Ông được UNESCO vinh danh là "Danh nhân văn hoá thế giới"và là một trong 14 anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
văn bản
- Hoàn cảnh ra đời: “Bài ca Côn Sơn” (Côn Sơn ca) có nhiều khả năng được sáng
tác trong thời gian ông bị chèn ép, đành phải cáo quan về sống ở Côn Sơn.
- Trong nguyên văn chữ Hán, bài thơ được viết theo thể thơ khác nhưng ở đây được
dịch bằng thể thơ lục bát. - Bố cục:
+ Phần 1 (4 câu thơ đầu): Cảnh thiên nhiên Côn Sơn.
+ Phần 2 (4 câu thơ cuối): Con người trong thiên nhiên Côn Sơn
II. Khám phá văn bản
1. Bức tranh Côn Sơn qua cảm nhận của thi sĩ
* Nghệ thuật:
- Phép điệp từ “ta”: 5 lần, “Côn Sơn”: 2 lần
- Phép so sánh:
+ Tiếng suối chảy rì rầm - tiếng đàn cầm
+ Ngồi trên đá – như ngồi chiếu êm.
=> Khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt, hài hòa, dịu dàng, thanh tĩnh và nên thơ.
Gợi cảm giác của cõi yên tĩnh, tu dưỡng tâm hồn.
cảnh đẹp của Côn Sơn. “Ta” hiện diện giữa thiên nhiên, hưởng thụ thiên nhiên với
những thú vui tao nhã. Nghe tiếng suối như tiếng đàn cầm, đá như chiếu để nằm
thảnh thơi
- Sử dụng hàng loạt các động từ khẳng định tư thế làm chủ của con người trước
thiên nhiên khoáng đạt: “Ta nghe, ta ngồi, ta nằm, ta ngâm thơ nhàn…”. Con người
không những hưởng thụ cuộc sống mà còn có thú vui “ngâm thơ” thể hiện một tâm
hồn thư thái, an nhàn, vô vi.
=> Nhân vật “ta” – Nguyễn Trãi là người vô cùng yêu quý, hòa hợp, gần gũi với
thiên nhiên; cảm nhận bằng tất cả giác quan bén nhạy và tâm hồn nghệ sĩ phóng
khoáng, tài hoa của mình
1. Nội dung:
– Bài thơ thể hiện vẻ đẹp hấp dẫn, nên thơ của thiên nhiên Côn Sơn và tâm hồn,
nhân cách thanh cao, sống hòa hợp với thiên nhiên của Nguyễn trãi. Sự giao hòa
trọn vẹn giữa con người và thiên nhiên bắt nguồn từ nhân cách thanh cao, tâm hồn
thi sĩ của chính Nguyễn Trãi Trãi.
2. Nghệ thuật
- Nghệ thuật: Điệp từ, so sánh, giọng thơ nhẹ nhàng, êm đềm, bản dịch bằng thể thơ
lục bát với ngôn ngữ trong sáng, sinh động,…
- Sự giao hòa trọn vẹn giữa con người và thiên nhiên bắt nguồn từ nhân cách thanh
cao, tâm hồn thi sĩ của chính Nguyễn Trãi.
Tiết 15 ĐỌC KẾT NỐI MỞ RỘNG
THUẬT HỨNG (Bài 15)
-Nguyễn Trãi-
I.
Tìm hiểu văn bản Thuật hứng (Bài 15)
- Tác giả: Nguyễn Trãi
-Thể thơ: Đường luật biến thể.
- Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là: Phương thức biểu cảm
- Hoàn cảnh sáng tác: được Nguyễn Trãi sáng tác khi rút lui về ẩn cư tại lều tranh ở quê hương Côn Sơn, Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Lúc này,
Nguyễn Trãi đã trở thành một ẩn sĩ, một người thường, đứng xa danh lợi sau khi đã trải qua quãng thời gian chịu nhiều đớn đau về tinh thần.
1.Hai câu đề: Tác giả đã nói tới lí do về ở ẩn của mình.
- “ngại”: ngại ngần, sợ hãi cái lưới trần, vô hình ở chốn trần gian này.
-> Thể hiện sự chua chát, cay đắng đến độ sâu thẳm.
- “thôn dã”: nơi vùng quê yên tĩnh, hẻo lánh, tách biệt với những ồn ào, hối hả của
chốn quan trường.
- “miễn yên thân”: không gặp phải những lo toan và phiền muộn của cuộc sống hiện
tại.
-> Cách giải thoát khỏi lưới trần gian để cân bằng đời sống tinh thần
2.Hai câu thực: Hình ảnh quân tử với trúc, mai, vượn, hạc.
- “trúc” và “mai”: là thi liệu quen thuộc trong thơ Đường luật, là người bạn rất quen thuộc với quân tử.
- “Không phụ lòng”: nhấn mạnh cốt cách của người quân tử đáng trọng trong cuộc đời.
- “Vượn” và “hạc”: cũng là người bạn quen thuộc.
-> Thiên nhiên là bạn, là tri kỉ của thi nhân.
3.Hai câu luận
- “Hái cúc”, trồng lan, “đạp nguyệt”:những việc rất thanh cao.
- “bén”: cả áo và trời đất đã ngập tràn hương của hoa.
- “đạp
nguyệt”: vướng vào ánh trăng mà đi.
- “tuyết xâm khăn”: tuyết trắng bám vào mảnh khăn như những bông hoa trắng làm cho không gian càng thêm huyền ảo.
->NT đảo giúp nhấn mạnh hành động của thi nhân.
-> Hai câu thơ vừa thực vừa ảo rất sinh động, phổ biến trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi mà không phải ai cũng có.
4.Hai câu kết
- “đàn cầm”:
+ Tiếng đàn cầm gảy bên bờ suối dội vào tai.
+ Tiếng suối chảy róc rách giống như tiếng đàn cầm dội vào tai.
-Câu cuối mang đến cho người đọc cảm giác thanh tịnh và an yên.
->Âm thanh của cuộc sống nơi điền viên thôn dã, nhưng cũng có khi là âm thanh có
sẵn trong tâm tưởng của nhà thơ. Bất cứ khi nào tĩnh tâm thì âm thanh ấy lại dội lại,
khiến nhà thơ giật mình.
IV. Tổng kết
Nội dung: Qua sự gắn bó giữa thi nhân và thiên nhiên, nhà thơ đã thể hiện được ước
muốn ở ẩn lánh đời của mình. Tuy nhiên, dù là ẩn cư trong tự tại, nỗi buồn, nuối tiếc
vẫn luôn ở đây, đong đầy trong tâm trí thi nhân.
Nghệ thuật:
Thể thơ: Đường luật biến thể, câu 6 chữ xen câu 7 chữ.
Nghệ thuật đối, đảo được sử dụng nhuần nhuyễn.
Ngôn ngữ giản dị giàu hình ảnh
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI HẢI DƯƠNG
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN: XUÂN ĐÁN
(Nguyễn Trãi )
• I. Đôi nét về thơ ca trung đại Hải Dương
• – Văn học trung đại Hải Dương hình thành sớm nhưng chỉ thực sự phát triển từ thế kỉ XIII.
• - Trải qua quá trình phát triển, văn học trung đại Hải Dương đã đạt được những thành tựu to lớn cả
về số lượng các tác giả, tác phẩm và chất lượng sáng tác.
• - Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu làm nên diện mạo của văn học trung đại Hải Dương như:
• + Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với các tác phẩm thơ và phú
+ Chu
Văn An với sáng tác bằng chữ Hán;
+ Nguyễn Trãi với Bình ngô đại cáo, thơ chữ Hán và chữ Nôm;
+ Nguyễn Dữ với Truyền kì mạn lục...
+ Ngoài ra còn các tác giả : Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Phi Khanh, Phạm Đình Hổ, Phạm Quý Thích, Vũ Tông Phan...
- Về nội dung:
+ Yêu nước và nhân văn là nguồn cảm hứng chủ đạo của văn học trung đại Hải Dương.
+ Văn học ngợi ca truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh quật cường chống ngoại xâm, phán
ánh những suy tư, trăn trở của trí thức, kẻ sĩ về đất nước trước sự thay đổi thời cuộc...
+ Văn học viết về thiên nhiên, tự hào về vẻ đẹp của quê hương Hải Dương, ngợi ca lối sống thanh
cao, bình dị, đề cao con người và những giá trị tốt đẹp, phê phán hiện thực đen tối của xã hội.
- Về nghệ thuật:
+ Tính chất quy phạm (sự quy định chặt chẽ theo khuôn mẫu).
+ Tính trang nhã và xu hướng bình dị, dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài.
- Về thể loại: đa dạng, bao gồm thơ ca, văn vần, văn xuôi, kinh, luận, kí, phê bình, dịch Nôm...
1. Chu Văn An
– Chu Văn An người làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Ðàm nay là
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Ông là một nhà nho mẫu mực, được vua Trần Minh Tôn dùng vào chức Quốc Tử
Tư Nghiệp, dạy Thái Tử.
- Ðến triều vua Dụ Tôn, ông dâng sớ xin chém đầu 7 tên nịnh thần, vua không nghe,
ông từ quan về ở ẩn tại Chí Linh, núi Phượng Hoàng (nay thuộc thành phố Chí
Linh, tỉnh Hải Dương) lấy hiệu là Tiều Ẩn.
2. Tác phẩm
– Bài thơ
- Hoàn cảnh sáng tác: Xuân đán được viết trong thời gian Chu Văn An về ở ẩn tại
Chí Linh – Hải Dương.
- Thể loại: Thơ thất ngôn bát cú đường luật
- Bố cục:
+ Bốn câu thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên
mùa xuân
+ Bốn câu sau: Cảm nghĩ của tác giả
1. Bốn câu đầu: Vẻ đẹp buổi sáng mùa xuân
- Thời gian: mùa xuân
- Cảnh vật:
+ “núi xa, nhà quạnh” chính là ngôi nhà tranh cửa trúc nhỏ bé nơi cụ ở ẩn tại núi
Chí Linh với sông Thanh Lương uốn khúc trước nhà.
--> trong cảnh núi rừng hoang lặng, con người và thiên nhiên đồng một cung bậc,
cùng chia sẻ những thinh sắc mà đất trời ban tặng để tận hưởng một cuộc sống “suốt
ngày nhàn”, thư thái an nhàn hòa hợp.
--> khung cảnh giản dị giữa vùng sơn thủy hữu tình.
2.
-
Bốn
Hai
câu
câu
luận:
sau:
giàu
Tâm
ý
nghĩa
sự
và
của
nhiều
tác
hình
ảnh
giả
gợi
tả
+ Giếng cổ: gợi dòng nước tươi mát, không hề pha lẫn với các dòng đời ô tạp rác rưởi khác,
luôn
ơn
ích
cho
muôn
người
đang
khát
khao
đạo
lý
và
kiến
giải.
--> Giếng cổ không xao sóng: nói lên cái tâm như đầy ắp chính khí của kẻ sĩ hết lòng phù dân giúp nước.
+ Dù về ở ẩn nhưng nhàn thân không nhàn tâm, ông xa rời xã hội quan quyền không chỉ để lo cho sự yên ổn của
bản
thân
mà
luôn
canh
cánh
bên
lòng
nỗi
niềm
ưu
dân
ái
quốc.
- Hai câu kết: Vẻ đẹp của xuân dần qua đi theo sự vận động của thời gian “dịu dần, thôi khói, mộng xuân tàn”
1. Nội dung:
- Bài thơ miêu tả khung cảnh thiên nhiên mùa xuân nơi núi rừng giản dị, bình yên.
Dù bản thân được hưởng cuộc sống an nhàn, thanh bình nhưng ông vẫn luôn canh
cánh bên lòng nỗi niềm ưu dân ái quốc. Điều đó cho thấy được nhân cách, tấm lòng
đáng trân trọng của Chu Văn An.
2. Nghệ thuật
- Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
- Sử dụng nghệ thuật đối, liệt kê
- Ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh.
Tiết 13 ĐỌC HIỂU VĂN BẢN: BÀI CA CÔN SƠN
(Nguyễn Trãi)
I.
Tìm hiểu chung
1. Tá1. Tác giả Nguyễn Trãi
– Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) sau rời về làng Ngọc Ổi (nay thuộc
Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội).
- Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn với vai trò rất lớn bên cạnh Lê Lợi. Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử lỗi lạc, toàn tài hiếm có.
- Ông chịu án oan thảm khốc, bị tru di tam tộc vào năm 1442 và mãi đến năm 1464 mới được vua Lê Thành Tông minh oan.
- Ông được UNESCO vinh danh là "Danh nhân văn hoá thế giới"và là một trong 14 anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.
văn bản
- Hoàn cảnh ra đời: “Bài ca Côn Sơn” (Côn Sơn ca) có nhiều khả năng được sáng
tác trong thời gian ông bị chèn ép, đành phải cáo quan về sống ở Côn Sơn.
- Trong nguyên văn chữ Hán, bài thơ được viết theo thể thơ khác nhưng ở đây được
dịch bằng thể thơ lục bát. - Bố cục:
+ Phần 1 (4 câu thơ đầu): Cảnh thiên nhiên Côn Sơn.
+ Phần 2 (4 câu thơ cuối): Con người trong thiên nhiên Côn Sơn
II. Khám phá văn bản
1. Bức tranh Côn Sơn qua cảm nhận của thi sĩ
* Nghệ thuật:
- Phép điệp từ “ta”: 5 lần, “Côn Sơn”: 2 lần
- Phép so sánh:
+ Tiếng suối chảy rì rầm - tiếng đàn cầm
+ Ngồi trên đá – như ngồi chiếu êm.
=> Khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt, hài hòa, dịu dàng, thanh tĩnh và nên thơ.
Gợi cảm giác của cõi yên tĩnh, tu dưỡng tâm hồn.
cảnh đẹp của Côn Sơn. “Ta” hiện diện giữa thiên nhiên, hưởng thụ thiên nhiên với
những thú vui tao nhã. Nghe tiếng suối như tiếng đàn cầm, đá như chiếu để nằm
thảnh thơi
- Sử dụng hàng loạt các động từ khẳng định tư thế làm chủ của con người trước
thiên nhiên khoáng đạt: “Ta nghe, ta ngồi, ta nằm, ta ngâm thơ nhàn…”. Con người
không những hưởng thụ cuộc sống mà còn có thú vui “ngâm thơ” thể hiện một tâm
hồn thư thái, an nhàn, vô vi.
=> Nhân vật “ta” – Nguyễn Trãi là người vô cùng yêu quý, hòa hợp, gần gũi với
thiên nhiên; cảm nhận bằng tất cả giác quan bén nhạy và tâm hồn nghệ sĩ phóng
khoáng, tài hoa của mình
1. Nội dung:
– Bài thơ thể hiện vẻ đẹp hấp dẫn, nên thơ của thiên nhiên Côn Sơn và tâm hồn,
nhân cách thanh cao, sống hòa hợp với thiên nhiên của Nguyễn trãi. Sự giao hòa
trọn vẹn giữa con người và thiên nhiên bắt nguồn từ nhân cách thanh cao, tâm hồn
thi sĩ của chính Nguyễn Trãi Trãi.
2. Nghệ thuật
- Nghệ thuật: Điệp từ, so sánh, giọng thơ nhẹ nhàng, êm đềm, bản dịch bằng thể thơ
lục bát với ngôn ngữ trong sáng, sinh động,…
- Sự giao hòa trọn vẹn giữa con người và thiên nhiên bắt nguồn từ nhân cách thanh
cao, tâm hồn thi sĩ của chính Nguyễn Trãi.
Tiết 15 ĐỌC KẾT NỐI MỞ RỘNG
THUẬT HỨNG (Bài 15)
-Nguyễn Trãi-
I.
Tìm hiểu văn bản Thuật hứng (Bài 15)
- Tác giả: Nguyễn Trãi
-Thể thơ: Đường luật biến thể.
- Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là: Phương thức biểu cảm
- Hoàn cảnh sáng tác: được Nguyễn Trãi sáng tác khi rút lui về ẩn cư tại lều tranh ở quê hương Côn Sơn, Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Lúc này,
Nguyễn Trãi đã trở thành một ẩn sĩ, một người thường, đứng xa danh lợi sau khi đã trải qua quãng thời gian chịu nhiều đớn đau về tinh thần.
1.Hai câu đề: Tác giả đã nói tới lí do về ở ẩn của mình.
- “ngại”: ngại ngần, sợ hãi cái lưới trần, vô hình ở chốn trần gian này.
-> Thể hiện sự chua chát, cay đắng đến độ sâu thẳm.
- “thôn dã”: nơi vùng quê yên tĩnh, hẻo lánh, tách biệt với những ồn ào, hối hả của
chốn quan trường.
- “miễn yên thân”: không gặp phải những lo toan và phiền muộn của cuộc sống hiện
tại.
-> Cách giải thoát khỏi lưới trần gian để cân bằng đời sống tinh thần
2.Hai câu thực: Hình ảnh quân tử với trúc, mai, vượn, hạc.
- “trúc” và “mai”: là thi liệu quen thuộc trong thơ Đường luật, là người bạn rất quen thuộc với quân tử.
- “Không phụ lòng”: nhấn mạnh cốt cách của người quân tử đáng trọng trong cuộc đời.
- “Vượn” và “hạc”: cũng là người bạn quen thuộc.
-> Thiên nhiên là bạn, là tri kỉ của thi nhân.
3.Hai câu luận
- “Hái cúc”, trồng lan, “đạp nguyệt”:những việc rất thanh cao.
- “bén”: cả áo và trời đất đã ngập tràn hương của hoa.
- “đạp
nguyệt”: vướng vào ánh trăng mà đi.
- “tuyết xâm khăn”: tuyết trắng bám vào mảnh khăn như những bông hoa trắng làm cho không gian càng thêm huyền ảo.
->NT đảo giúp nhấn mạnh hành động của thi nhân.
-> Hai câu thơ vừa thực vừa ảo rất sinh động, phổ biến trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi mà không phải ai cũng có.
4.Hai câu kết
- “đàn cầm”:
+ Tiếng đàn cầm gảy bên bờ suối dội vào tai.
+ Tiếng suối chảy róc rách giống như tiếng đàn cầm dội vào tai.
-Câu cuối mang đến cho người đọc cảm giác thanh tịnh và an yên.
->Âm thanh của cuộc sống nơi điền viên thôn dã, nhưng cũng có khi là âm thanh có
sẵn trong tâm tưởng của nhà thơ. Bất cứ khi nào tĩnh tâm thì âm thanh ấy lại dội lại,
khiến nhà thơ giật mình.
IV. Tổng kết
Nội dung: Qua sự gắn bó giữa thi nhân và thiên nhiên, nhà thơ đã thể hiện được ước
muốn ở ẩn lánh đời của mình. Tuy nhiên, dù là ẩn cư trong tự tại, nỗi buồn, nuối tiếc
vẫn luôn ở đây, đong đầy trong tâm trí thi nhân.
Nghệ thuật:
Thể thơ: Đường luật biến thể, câu 6 chữ xen câu 7 chữ.
Nghệ thuật đối, đảo được sử dụng nhuần nhuyễn.
Ngôn ngữ giản dị giàu hình ảnh
 








Các ý kiến mới nhất