Chuyên đề GDCD: GD lồng ghép môi trường

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Dương
Ngày gửi: 20h:20' 18-10-2008
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 339
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Dương
Ngày gửi: 20h:20' 18-10-2008
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 339
Số lượt thích:
0 người
Chào mừng quý vị đại biểu cùng quý thầy cô về tham dự hội nghị Chuyên đề
Bộ môn: Giáo dục công dân – Bậc THCS
Trình bày: Hoàng Thị Dương
Đề tài:
Môi trường và việc lồng ghép Giáo dục môi trường vào bộ môn Giáo dục công dân bậc THCS
Đề tài:
Môi trường và việc lồng ghép Giáo dục môi trường vào bộ môn Giáo dục công dân bậc THCS
Lí do chọn đề tài
Môi trường sống của chúng ta bao gồm đất nước và không khí; tất cả được duy trì nhờ năng lượng mặt trời . Con người chỉ là một trong những quần thể sinh vật tồn tại trên trái đất , cũng tuân theo quy luật sinh ra, lớn lên và chết. Nhưng không giống như những sinh vật khác, con người đã phát triển một hệ thống kinh tế sử dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tận dụng hầu hết mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cũng thải ra môi trường đủ mọi loại chất thải làm cho môi trường bị ô nhiễm. Con người đang gánh chịu hậu quả do chính mình gây ra. Bằng những quyết định và hành động cụ thể, con người cần cải thiện môi trường sống của mình không chỉ hôm nay mà cho cả mai sau.
Lí do chọn đề tài
Chính vì thế, việc giáo dục môi trường là việc làm hết sức cần thiết và thường xuyên liên tục trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia. Bởi giáo dục môi trường sẽ mang lại cho các thế hệ thanh thiếu niên tình cảm, trách nhiệm đối với môi trường bắt đầu bằng việc xác định các vấn đề môi trường và tìm ra các giải pháp đóng góp vào việc bảo vệ môi trường. Hệ thống giáo dục ở Việt Nam chúng ta cũng đã rất chú trọng đến việc tích hợp lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học, trong đó có môn học Gíao Dục Công Dân. Đểviệc tích hợp lồng ghép mang lại hiệu quả tốt thì đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải có nhận thức đầy đủ về môi trường và tầm quan trọng của giáo dục môi trường, phải có phương pháp khoa học trong việc tích hợp, lồng ghép GDMT vào mỗi bài học. Đó là lí do xây dựng chuyên đề.
Tình hình chung
1. Thuận lợi
Các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp nhiều thông tin , sự kiện về môi trường.
2. Khó khăn
Giáo cụ trực quan về môi trường ở các trường học còn hạn chế.
Nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc tích hợp, lồng ghép GDMT vào mỗi bài học(không biết tích hợp ở đâu, lồng ghép vào chỗ nào?)
Môi trường và vấn đề ô nhiễm
1. Môi trường
Định nghĩa:
Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật.
Môi trường tự nhiên : gồm đất, nước, ánh sáng, không khí .
Môi trường kiến tạo : gồm những cảnh quan được thay đổi do con người
Môi trường không gian : địa điểm , khoảng cách, mật độ, phương hướng và sự thay đổi trong môi trường .
Môi trường văn hóa xã hội : gồm cá nhân và các nhóm công nghệ, tôn giáo, kinh tế học, thẩm mĩ học,dân số học và các hoạt động khác của con người.
Trong phạm vi giáo dục và bảo vệ môi trường, chúng ta đề cập chủ yếu là môi trường tự nhiên .
Môi trường và vấn đề ô nhiễm
1. Môi trường
Các loại môi trường sống của sinh vật
Môi trường đất : gồm các loại đất khác nhau trong đó có sinh vật sống
Môi trường nước : nước biển (biển, hồ nước mặn), nước lợ (nước ở vùng cửa sông ven biển), nước ngọt (ao, hồ, sông, suối)
Môi trường không khí : gồm các lớp khí quyển bao quanh mặt đất
Môi trường sinh vật gồm: động vật, thực vật, con người
Thực tế chúng có quan hệ qua lại mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau.
Ô nhiễm môi trường
Khái niệm ô nhiễm môi trường:
Ô nhiễm môi trường là sự làm biến đổi không mong muốn tính chất vật lí, hóa học, sinh học của không khí, đất, nước trong môi trường sống, gây tác hại tức thời hoặc trong tương lai đến sức khỏe, đời sống con người và sinh vật, làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, đến các tài sản văn hóa và làm tổn thất nguồn tài nguyên dự trữ của con người .
Ô nhiễm môi trường
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
Dân số tăng, lượng tài nguyên thiên nhiên khai thác sử dụng nhiều, tạo ra lượng phế thải lớn, tình trạng khai thác lạc hậu, bừa bãi.
Do các khí thải công nghiệp, chất thải công nghiệp của các ngành sản xuất khác nhau, quy trình thu gom, xử lí còn hạn chế
Do các loại phân bón trong nông nghiệp, nhất là lạm dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ…
Do hoạt động sản xuất của con người ở nhiều lĩnh vực khác nhau như phá rừng, xây dựng, khai thác các loại tài nguyên…
Do chiến tranh (khí độc do khói súng, cháy nhà, cháy rừng ; chất độc hóa học, chất phóng xạ ; xác chết của người và động vật chưa được chôn cất kịp thời …)
Thực trạng môi trường trên Thế giới và ở Việt Nam
Môi trường trên thế giới đang bị hủy hoại nghiêm trọng. Sự tăng trưởng về dân số cùng với những nhu cầu ngày càng cao của con người trong cuộc sống do những tiến bộ của khoa học và công nghệ đã gây sức ép trực tiếp đến tài nguyên thiên nhiên, nhu cầu việc làm sinh sống .
Thực trạng môi trường trên Thế giới
Thực trạng môi trường trên Thế giới và ở Việt Nam
Trong khoảng 100 năm trái đất đã mất đi 6 triệu km2 rừng và rừng thế giới mất 2 triệu ha trong một năm. Đất bị hoang mạc hóa 680 triệu ha/ năm. Các rừng mưa nhiệt đới bị phá hủy nghiêm trọng. Ngay cả rừng Amazôn đã 60 triệu năm mưa liên tục giữ nhiệm vụ quan trọng trong việc điều hòa khí hậu của trái đất, nay đã bị phá vỡ thế cân bằng và đang bị đe dọa phá hủy nhanh chóng làm nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 0,3 đến 0,80 C trong vòng 10 năm qua. Có 25.000 triệu tấn đất màu mỡ bị mất đi trong một năm. Rừng bị thu hẹp về diện tích. 300 năm trở lại đây, rừng từ chỗ 72 triệu km2 giảm xuống còn 41 triệu km2 tức là độ che phủ từ 47 diện tích mặt đất xuống 27 . Ngày nay, mỗi năm thế giới mất hơn 15 triệu ha rừng, Đông Nam Á có mức phá rừng cao nhất .
Thực trạng môi trường trên Thế giới
Lượng khí CO2 và các khí nhà kính khác ngày càng nhiều làm cho tầng ôzôn bị phá hủy( mỏng và thủng ) làm ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu . Có nguy cơ khí hậu nóng lên thêm từ 10C - 30C làm cho lũ lụt và hạn hán ngày càng khắc nghiệt hơn.
Có thể nói, do dân số tăng quá nhanh làm cho diện tích đất đai bình quân đầu người bị thu hẹp nhanh chóng cùng với việc sử dụng và canh tác không hợp lí khiến tốc độ sa mạc hóa ngày càng nhanh
Lượng chất thải công nghiệp ngày càng nhiều, làm ô nhiễm môi trường và đe dọa các loài thú biển trong vòng 40 năm qua.
Ô nhiễm khí CO2. Trong vòng 100 năm trở lại đây tỉ lệ CO2 tăng thêm khoảng12% .
Mưa axít ( có nguyên nhân từ các nhà máy công nghiệp) đang phá hủy rừng nhiệt đới, ao hồ, đồng ruộng và các di tích lịch sử .
Sự phát triển kinh tế không thích hợp ở một số nước đã gây nên một sức ép mạnh mẽ lên hệ thống sinh thái tự nhiên. Các tài nguyên đất rừng khai thác quá mạnh làm giảm đa dạng sinh học.
Bụi trong không khí tăng do lượng bồ hóng và các sản phẩm rắn, sự đốt cháy ngày càng cao
Thực trạng môi trường Việt Nam
Dân số Việt Nam tăng nhanh: năm 1945 : 25 triệu nhưng đến tháng 6/1999 dân số Việt Nam là 77 triệu 263 ngàn người. Cuối năm 2004 dân số Việt Nam khoảng 82 triệu người. Cùng với sức ép gia tăng dân số, sự nghèo nàn, quá trình đô thị hóa, sự di dân và quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa chưa quán triệt quan điểm “ phát triển môi trường bền vững” ở một số cơ sở sản xuất đã tác động mạnh mẽ tới môi trường.
Thực trạng môi trường Việt Nam
Nguy cơ mất rừng và tài nguyên rừng đang đe dọa trong cả nước, tai họa mất rừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đã từng xảy ra nhiều nơi.
Độ che phủ của rừng từ 74,3% (năm 1943) chỉ còn 27,7% (năm 1992), hiện nay độ che phủ còn 28% nhờ chương trình trồng rừng.
Rừng Việt Nam tăng trưởng chậm (khoảng 10 triệu m3/ năm). Hiện khai thác 35triệu- 45 triệu m3/ năm. Trung bình rừng bị phá hàng năm từ 150.000 – 200.000 ha/năm. Mất rừng, đồi núi trọc, đất bị xói mòn rửa trôi, chế độ thủy văn và khí hậu thay đổi theo chiều hướng xấu, mất đa dạng sinh học, nhất là những động vật quý hiếm.
Sự suy giảm nhanh chất lượng đất và diện tích canh tác, tài nguyên đất tiếp tục bị lãng phí do canh tác không hợp lí, thiếu phân bón hữu cơ, thiếu phương tiện tưới tiêu. Phương thức canh tác lạc hậu của các dân tộc ít người làm cho đất thoái hóa nhanh, nhiều chỗ bỏ hoang, đất xấu chưa có điều kiện cải tạo . Đặc biệt là sự lạm dụng phân bón, thuốc trừ sâu đã làm cho môi trường đất, nước và không khí bị ô nhiễm ngày càng nặng nề, nhiều bệnh tật ngày càng phát sinh.
Thực trạng môi trường Việt Nam
Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật vùng ven biển đang bị suy giảm nhanh, môi trường bị ô nhiễm: khai thác hải sản quá mức, đánh bắt sinh vật còn non, công cụ khai thác còn lạc hậu, đánh bắt chủ yếu ven bờ. Nạn xói lở bờ biển có nguy cơ đe dọa vùng dân cư. Mặt khác vùng cửa sông ven biển tập trung nhiều chất thải sinh hoạt công nông nghiệp từ thành phố, nhà máy, hầm mỏ, đồng ruộng, dân cư tập trung ở đây cao… góp phần làm ô nhiễm môi trường ven biển.
Thực trạng môi trường Việt Nam
Ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí đã xuất hiện nhiều nơi, nhất là các khu công nghiệp. Rác thải ngày càng nhiều và là một vấn đề nan giải, xử lí chưa triệt để, các dòng sông ở các thành phố bị ô nhiễm ở mức độkhác nhau, bụi gia tăng, các loại khí có nơi SO2 vượt 14 lần cho phép, CO2 vượt 2,7 lần cho phép.
Thực trạng môi trường Việt Nam
* Mục đích
Cung cấp một năng lực
Biết suy xét.
Biết xử lí thông tin
Nhằm đạt hệ thống kĩ năng
Thấy được vấn đề.
Biết giải quyết nó.
Thúc đẩy những thay đổi trong hành vi
Biết quyết định.
Biết tham gia.
Mục đích và phương pháp giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông
Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là: mỗi học sinh được trang bị một ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất, một khả năng biết đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên và một giá trị nhân cách khắc sâu bởi một nền tảng đạo lí về môi trường.
Là một chủ thể mang tính xuyên suốt trong sự hòa nhập với các môn học khác, giáo dục môi trường mang lại cho học sinh cơ hội hiểu biết về môi trường, hiểu biết các quyết định về môi trường của con người . Giáo dục môi trường cũng tạo ra cơ hội để sử dụng tất cả các kĩ năng liên quan tới cuộc sống hôm nay và ngày mai của các em . Tất cả những điều này đưa chúng ta đến một hi vọng học sinh có nhiều ý kiến sáng tạo và tham gia tích cực cho sự lành mạnh của thế giới.
Mục đích và phương pháp giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông
Phương pháp
Giáo dục về môi trường
Hình thành ở học sinh những kiến thức, hiểu biết và kĩ năng cơ bản, hữu ích khi các em cần tiếp xúc với các vấn đề môi trường
Chú trọng đến thông tin sự kiện, những hoạt động thực tế nhằm thu hoạch tri thức và rèn luyện kĩ năng.
Cung cấp lí thuyết về các quá trình tự nhiên, xã hội có liên quan đến môi trường.
Phương pháp
Giáo dục vì môi trường
Hình thành khả năng suy nghĩ, nghe,nói, đọc, viết có phán xét. Nhân tố này hỗ trợ cho quá trình hình thành hành vi tốt, thái độ đúng đối với môi trường
Hình thành thái độ quan tâm đến môi trường, khuyến khích việc sử dụng hợp lí các giá trị môi trường hôm nay và mai sau.
Hình thành khả năng đánh giá ra quyết định trước những vấn đề môi trường, khả năng lựa chọn giải pháp có tính bền vững.
Phương pháp
Giáo dục trong môi trường
Đề cao các cơ hội giúp học sinh gặt hái những kinh nghiệm hoặc được giáo dục trực tiếp trong môi trường.
Đề cao quyền công dân của học sinh đối với các quan tâm chung về vấn đề môi trường. Quá trình tham gia trực tiếp các hoạt động môi trường sẽ thúc đẩy, củng cố, phát triển các tri thức kĩ năng đã có, thay đổi hành vi, thái độ đánh giá.
Đối với việc học : kích thích hứng thú, óc sáng tạo.
Đối với việc dạy : khai thác tư liệu về môi trường làm công cụ sư phạm.
Một số ví dụ về lồng ghép giáo dục môi trường vào các bài học của bộ môn GDCD
Lồng ghép GDMT vào mỗi bài học GDCD chủ yếu là GV xây dựng các tình huống gắn với nội dung bài học, trong đó có nội dung GDMT để HS tự đánh giá, xử lí các tình huống. Sau đó GV đưa ra kết luận để giáo dục học sinh các chuẩn mực đạo đức hoặc pháp luật liên quan đến bài học và ý thức bảo vệ môi trường .
Một số ví dụ về lồng ghép giáo dục môi trường vào các bài học của bộ môn GDCD
Việc lồng ghép GDMT trong mỗi bài có thể tiến hành ở bất kì hoạt động nào của bài học, song phải đảm bảo tính hợp lí. (Chủ yếu là lồng ghép ở hoạt động luyện tập).
GV lưu ý: GDMT ở đây chỉ là hoạt động lồng ghép, do đó thời gian giành cho việc lồng ghép không kéo dài . Tình huống mà GV đưa ra để GDMT phải gắn liền với nội dung kiến thức bài học .
Bài: “Tự chăm sóc, rèn luyện thân thể”
Tình huống
Để tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, nghe lời mẹ dặn, sáng nào An cũng súc miệng nước muối để bảo vệ răng. Nhưng cứ mỗi lần súc miệng là An lại nhổ ra sân. Em có nhận xét gì về hành vi của An ?
Trả lời
Việc súc miệng nước muối vào buổi sáng để bảo vệ răng là việc làm thể hiện đức tính tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe. Nhưng hành vi nhổ nước súc miệng ra sân là một hành vi thiếu văn hóa, làm ô nhiễm môi trường.
Kết luận
Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân là việc làm cần thiết, nhưng việc bảo vệ môi trường, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi người cũng là việc làm thiết thực, không kém phần quan trọng.
Bài : “Siêng năng kiên trì”
Tình huống
Một số hộ gia đình thường xuyên đổ rác ra bãi đất trống ven đường cạnh nhà Nam. Mặc dù Nam đã nhiều lần lựa lời ngăn cản nhưng họ vẫn không nghe. Từ đó ngày nào Nam cũng giành một ít thời gian để gom tất cả rác bỏ vào một cái bao lớn rồi để trước cửa nhà mình chờ xe rác tới mang đi . Cảm phục trước việc làm của Nam, mọi người đều bảo nhau không vứt rác bừa bãi ra vệ đường nữa .
Theo em, việc làm của Nam thể hiện đức tính gì và có tác dụng ra sao?
Trả lời
Việc làm của Nam thể hiện đức tính siêng năng, kiên trì, góp phần làm sạch đẹp đường phố, bảo vệ môi trường .
Kết luận
Rác thải bị phân hủy tạo ra các loại khí độc hại. Khí độc hại trong rác bay hơi và khuyếch tán trong không khí, làm ô nhiễm môi trường không khí, ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe con người . Vì vậy chúng ta không nên xả rác bừa bãi ra đường vừa làm ô nhiễm môi trường, vừa làm mất vẻ mĩ quan đường phố.
( GV đọc cho HS nghe điều 6 – Luật bảo vệ môi trường : BVMT là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và trách nhiệm phát hiện và tố cáo hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường.)
Bài : “ Tiết kiệm”
Tình huống
Nhà Tuấn nuôi rất nhiều heo, nhưng cứ mỗi lần nấu cơm, có cơm dư là Tuấn lại bỏ cơm vào bọc ni lông rồi vứt ra ngoài đường. Em có nhận xét gì về hành vi của Tuấn?
Trả lời
Hành vi của Tuấn thể hiện sự lãng phí : Lẽ ra Tuấn có thể gom cơm thừa để tận dụng nấu cho heo.
Bỏ cơm vào bọc ni lông rồi vứt ra đường là việc làm thiếu văn hóa, gây ô nhiễm môi trường.
Kết luận
Trong cuộc sống, cần phải biết tiết kiệm, không lãng phí và không làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt không được vứt bao ni lông ra đường. Bởi vì : bao ni lông có thể lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh,cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn. Bao ni lông có thể làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị vào mùa mưa. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh v. v…
Bài : “ Tôn trọng kỉ luật”
Tình huống
Trong giờ ra chơi, Hằng và một số bạn khác xuống căn-tin mua đồ ăn thức uống lên lớp để ăn uống với nhau rồi xả rác bừa bãi trong lớp. Hành vi của Hằng và một số bạn đã vi phạm điều gì? Tác hại của nó ?
Trả lời
Hằng và các bạn đã vi phạm nội quy nhà trường(không tôn trọng kỉ luật): xả rác bừa bãi trong lớp làm mất vẻ mĩ quan và gây ô nhiễm môi trường lớp học.Ngoài ra, nước đổ xuống nền có thể gây trượt ngã, xảy ra tai nạn.
Kết luận:
Ơ bất cứ nơi đâu, lúc nào mọi người đều phải có ý thức tôn trọng kỉ luật, không gây ô nhiễm môi trường.
Bài: “ Biết ơn”
Tình huống
Đi trên đường làng sạch đẹp, rộng rãi, Hùng nghĩ tới những người đã bỏ công sức để sửa sang, vệ sinh đường sá. Hùng tự nhủ với lòng mình phải luôn có ý thức giữ gìn đường làng ngõ xóm sạch đẹp .
Suy nghĩ của Hùng đã thể hiện điều gì ?
a/ Lòng biết ơn.
b/ Ý thức bảo vệ môi trường.
c/ Lịch sự, tế nhị.
d/ Cả a và b .
Trả lời
d/ Cả a và b .
Giải thích
Nhớ tới những người đã bỏ công sức để cho ta có con đường sạch đẹp , đó chính là lòng biết ơn. Lòng biết ơn thể hiện bằng việc làm cụ thể, đó là ý thức giữ gìn đường làng ngõ xóm luôn sạch đẹp : không bẻ cây xanh hai bên đường, không xả rác, không đổ nước thải và vứt xác động vật chết ra đường… ( Đây cũng chính là ý thức bảo vệ môi trường ).
Bài : “ Sống chan hòa với mọi người”
Bài tập trắc nghiệm
Trong các phương án sau đây, phương án nào vưà thể hiện đức tính sống chan hòa với mọi người vừa thể hiện ý thức bảo vệ môi trường ?
a/ Lan cùng các bạn tham gia phong trào làm xanh, xạch, đẹp đường phố.
b/ Hùng không góp ý cho ai cả vì sợ làm mất lòng người khác.
c/ Tuấn luôn cởi mở, vui vẻ với mọi người .
d/ Mai luôn chia sẻ với bạn bè những khi gặp khó khăn .
Trả lời
a/ Lan cùng các bạn tham gia phong trào làm xanh, sạch, đẹp đường phố .
Kết luận
Sống chan hòa với mọi người là sống vui vẻ, hòa hợp với mọi người và sẵn sàng tham gia vào những hoạt động chung có ích, trong đó có hoạt động bảo vệ môi trường .
Bài: “ Trung thực”
Tình huống
Sau tiết thực hành môn hóa học, Hùng được phân công rửa các đồ dùng thí nghiệm . Vào phòng vệ sinh, Hùng đổ hết tất cả các chất hóa học trong lọ thí nghiệm ra nền nhà rồi đi ra ngoài. Bác lao công phát hiện ra và gọi Hùng quay trở lại. Hùng vẫn không nghe và chối không nhận hành vi sai trái của mình .
Em có nhận xét gì về hành vi của Hùng ?
Trả lời
Việc Hùng chối không nhận hành vi sai trái của mình chứng tỏ Hùng không có tính trung thực .
Việc Hùng đổ các hóa chất ra nền nhà vệ sinh là việc làm gây ô nhiễm môi trường.
Kết luận
Các chất hóa học là những chất rất nguy hại đến sức khỏe con người, tuyệt đối không được đổ bừa bãi ra bất cứ chỗ nào.
Học sinh cần phải rèn luyện tính trung thực trong mọi lúc mọi nơi, phải biết dũng cảm nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm.
Bài “Tự trọng”
Tình huống
Trên đường đi học về, Sơn thường có thói quen dùng que quất vào những cây xanh mới trồng hai bên đường. Mặc dù đã được các bạn nhắc nhở nhiều lần nhưng Sơn vẫn không nghe, vẫn chứng nào tật ấy .
Việc làm của Sơn chứng tỏ điều gì ? Có tác hại ra sao ?
Trả lời :
Được các bạn nhắc nhở nhiều lần mà Sơn vẫn chứng nào tật ấy, chứng tỏ Sơn không có tính tự trọng.
Dùng que quất vào cây xanh hai bên đường là hành vi phá hoại môi trường.
Kết luận
Cây xanh có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Trồng cây xanh vừa mang lại vẻ đẹp vừa để giữ không khí trong lành, tránh ô nhiễm do bụi và thiếu ô xy, thừa carbonic và các chất khí độc hại khác, giảm tiếng ồn. Vì vậy chúng ta cần phải có ý thức giữ gìn và bảo vệ nó.
Bài: “ Đạo đức và kỉ luật”
Tình huống
Thành là một học sinh cá biệt trong lớp. Giờ ra chơi, Thành thường đem quà vào lớp ăn và châm lửa đốt các túi ni lông đựng quà. Khói ni lông bị đốt bay mù trong lớp học. Nhiều bạn chịu không được ho sặc sụa.
Em có nhận xét gì về hành vi của Thành ?
Trả lời
Nội quy của nhà trường là cấm học sinh mang quà lên lớp ăn, cấm xả rác, đốt rác trong lớp học. Như vậy hành vi của Thành chứng tỏ Thành là người thiếu đạo đức và thiếu tính kỉ luật.
Hành vi của Thành còn thể hiện ý thức kém trong việc bảo vệ môi trường.
Kết luận
Các bao bì ni lông bị đốt sẽ tạo ra các loại khí độc, đặc biệt là chất đi-ô-xin có thể gây ngộ độc, gây ngất, khó thở, nôn ra máu, ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết, giảm khả năng miễn dịch, gây rối loạn chức năng, gây ung thư và các di tật bẩm sinh cho trẻ sơ sinh . Chính vì vậy chúng ta cần phải có trách nhiệm tuyên truyền cho những người xung quanh ta hiểu được tác hại của bao ni lông, hạn chế sử dụng nó và đặc biệt không được đốt bao ni lông một cách tùy tiện .
Học sinh cần phải thường xuyên rèn luyện đạo đức và tính kỉ luật
(GV đọc điều 9- LBVMT : Nghiêm cấm mọi hành vi làm suy thoái môi trường, gây ô nhiễm môi trường, gây sự cố môi trường)
Bài: “ Xây dựng gia đình văn hóa”.
Tình huống
Cô giáo hỏi Nam :
- Em có dự kiến sẽ làm gì để góp phần xây dựng gia đình văn hóa ?
Nam trả lời:
- Em sẽ cố gắng học tập và rèn luyện đạo đức thật tốt , biết kính trọng và giúp đỡ ông ba, cha mẹ, thương yêu anh chị em, không xả rác, đổ nước thải hoặc vứt xác động vật chết ra đường, luôn giữ gìn nhà cửa, đường phố sạch đẹp.
Em có nhận xét gì về dự định của Nam ?
Trả lời:
Những dự định của Nam đều góp phần xây dựng gia đình văn hóa, đồng thời cũng thể hiện ý thức bảo vệ môi trường.
Kết luận
Học sinh chúng ta cần phải góp phần xây dựng gia đình văn hóa bằng cách chăm ngoan, học giỏi, biết kính trên nhường dưới, không đua đòi ăn chơi, không làm điều gì tổn hại đến danh dự gia đình, phải có ý thức bảo vệ môi trường ở gia đình cũng như ở khu phố, lối xóm.
Bài: “Tôn trọng lẽ phải”.
Tình huống
Trên đường đi học về, Hùng thấy một bác nông dân đang định vứt mấy con gà chết xuống sông. Thấy vậy Hùng liền chạy đến can ngăn và giải thích cho bác hiểu tác hại của việc làm này, nhưng bác ấy không nghe vẫn cố tình vứt tất cả xác gà chết xuống sông.
– Em có nhận xét gì về hành vi trên đây của bác nông dân ?
Trả lời
Hành vi của bác nông dân chứng tỏ rằng bác ấy đã không tôn trọng lẽ phải và không có ý thức bảo vệ môi trường . Xác chết động vật sẽ làm ô nhiễm môi trường nước , ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của mọi người.
Kết luận
Trách nhiệm bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của tất cả mọi người chứ không phải riêng ai . Trong mọi lúc mọi nơi, chúng ta cần phải tôn trọng lẽ phải, ủng hộ, tuân theo vàbảo vệ những điều đúng đắn, biết điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của mình theo hướng tích cực .
( GV đọc điều 15 LBVMT : Tổ chức cá nhân phải bảo vệ nguồn nước, hệ thống cấp thoát nước, cây xanh, công trình vệ sinh, thực hiện các quy định về vệ sinh công cộng ở đô thị, nông thôn, khu dân cư, khu du lịch, khu sản xuất)
Bài: “liêm khiết”
Tình huống
Ông A là giám đốc lâm trường, ông đã lợi dụng chức quyền của mình cấu kết với bọn lâm tặc để kiếm lợi .
? Em có nhận xét gì về hành vi của ông A ?
Trả lời
Ông A đã cấu kết với bọn lâm tặc xâm phạm nguồn tài nguyên thiên nhiên , gây hại đến môi trường : Chặt phá rừng làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng, gây xói mòn, lũ lụt, mất cân bằng sinh thái . Hành vi của ông A là hành vi hám lợi , thể hiện lối sống không trong sạch.
? Hành vi này trái với đức tính gì mà chúng ta vừa học ?
- Trái với đức tính liêm khiết .
Kết luận:
Cần phải rèn luyện lối sống liêm khiết để con người được thanh thản, nhận được sự quý trọng, tin cậy của mọi người, góp phần làm cho xã hội trong sạch tốt đẹp hơn .
(GV đọc điều 12: Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ các giống, loài thực vật, động vật hoang dã, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, biển, các hệ sinh thái…
Điều 52 : Tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm PL về bảo vệ môi trường , gây thiệt hại cho nhà nước, tổ chức cá nhân thì ngoài việc bị xử ly theo quy định tại điều 50 và 51 của luật này còn phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật)
Bài: “ Tôn trọng người khác”
Tình huống
Trên xe buýt đông người, một thanh niên thản nhiên hút thuốc lá. Hành khách trên xe ngột ngạt vì khói thuốc.
Em có nhận xét gì về hành vi của anh thanh niên đó ?
Trả lời
Anh thanh niên đó đã không có ý thức tôn trọng khác. Hành vi của anh ta còn gây ô nhiễm môi trường, lảm ảnh hưởng tới sức khỏe của những người xung quanh.
Kết luận
Hút thuốc lá rất có hại cho sức khỏe của bản thân, vả lại hút thuốc nơi đông người còn gây hại đến người khác. Vì thế chúng ta không nên hút thuốc lá dù ở bất cứ nơi nào . Tôn trọng người khác và bảo vệ môi trường cũng chính là tôn trọng và bảo vệ chính mình .
Bài: “Phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy nổ và các chất độc hại”
Bổ sung nội dung thứ nhất của bài học: Tác hại của tai nạn vũ khí, cháy nổ và các chất độc hại.
SGK chỉ nói đến tác hại gây tổn thất lớn về người và tài sản . GV cần phân tích thêm để học sinh thấy được tác hại thứ hai : Gây ô nhiễm môi trường.
Ví dụ :
Đánh bắt cá bằng thuốc nổ -> Ô nhiễm môi trường nước.
Các tai nạn cháy nổ khác -> Ô nhiễm bầu không khí.
Các chất độc hại ( phun thuốc trừ sâu cho rau quả, cây cối ) -> Ô nhiễm nguồn thực phẩm, ô nhiễm đất và không khí . ( GV kết hợp đưa tranh ảnh minh họa)
Khi tìm hiểu mục 2 : Các quy định của nhà nước – GV đọc điều 23 cho HS nghe : Tổ chức cá nhân sản xuất, vận chuyển, buôn bán, sử dụng, cất giữ, hủy bỏ các chất độc hại, chất dễ cháy, nổ phải tuân theo quy định về an toàn cho người, sinh vật, không gây suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường )
Bài: “ Chí công vô tư”.
Tình huống:
Ông Minh là tổ trưởng dân phố, nhưng vợ ông Minh lại buôn bán lấn chiếm mặt đường và thường xuyên đổ nước thải ra đường. Ông Minh vẫn làm lơ trước những việc làm của vợ mình.
Em nghĩ thế nào về việc làm của vợ chồng ông Minh?
Trả lời :
Vợ ông Minh buôn bán lấn chiếm mặt đường là vi phạm luật an toàn giao thông.
Việc bà thường xuyên đổ nước thải ra đường sẽ làm giảm lực ma sát gây tai nạn cho người đi đường đồng thời làm ô nhiễm môi trường.
– Ông Minh làm lơ trước việc làm sai trái của vợ mình chứng tỏ rằng ông thiếu đức tính chí công vô tư .
Bài : “ Dân chủ và kỉ luật”
(Đưa tình huống tương tự bài : “ Đạo đức và kỉ luật” GDCD lớp 7)
Bài : “ Bảo vệ hòa bình”.
Tìm hiểu phần ĐVĐ, GV nêu câu hỏi: Em hãy cho biết chiến tranh đã để lại hậu quả gì ?
HS nêu các hậu quả, GV bổ sung hậu quả : Gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
GV cho học sinh đưa ví dụ để phân tích :
Khói súng và các loại chát nổ như bom mìn , cháy nhà, cháy rừng…
Ô nhiễm bầu không khí .
Chất độc hóa học ( đặc biệt là chất độc màu da cam ), chất phóng xạtừ bom nguyên tử
Ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước.
( GV cung cấp thêm thông tin : Ở Việt Nam có tới hơn 2 triệu người bị nhiễm chất độc màu da cam, hơn 500 ngàn trẻ em bị dị tật vì hậu quả của loại chất độc này)
Xác chết của người và động vật chưa được chôn cất kịp thời
Gây dịch bệnh .
GV : Chiến tranh đã gây ra bao hậu quả vô cùng nghiêm trọng , vậy trách nhiệm của chúng ta là phải làm gì ?
HS : Phải bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh.
Bài : “ Tình hữu nghị của các dân tộc trên thế giới”
GV cung cấp cho học sinh những thông tin về viện trợ của các nước trên thế giới cho Việt Nam, trong đó có cả việc viện trợ kinh phí để bảo vệ môi trường. Qua đó giúp HS thấy vấn đề môi trường không chỉ riêng một quốc gia nào mà đó là sự quan tâm đặc biệt của toàn thế giới .
( GV đọc điều 45 : Nhà nứớc Việt Nam thực hiện các điều ước quốc tế đã kí kết hoặc tham gia có liên quan đến môi trường, tôn trọng các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của nhau
Điều 46 : Nhà nước Việt Nam có chính sách ưu tiên đối với các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc đào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học về môi trường, áp dụng công nghệ sạch, xây dựng và thực hiện các dự án cải thiện môi trường , khắc phục sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các dự án xử lí các chất thải ở Việt Nam.)
Bài : “ Năng động sáng tạo”
GV cho HS sưu tầm những tấm gương năng động sáng tạo trong việc tìm ra các giải pháp bảo vệ môi trường đã được đăng trên sách báo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng khác .
(GV đọc điều 49 : Tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động bảo vệ môi trường, phát hiện sớm và báo cáo kịp thời các dấu hiệu sự cố môi trường, khắc phục sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, ngăn chặn các hành vi phá hoại mơi trường thì được khen thưởng)
Bài : “ Trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
GV mở rộng : Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Đó là sự phát triển đáng mừng. Tuy nhiên, khu công nghiệp mọc lên, đô thị phát triển thu hút người lao động cũng đồng nghĩa với việcchúng ta phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng của môi trường như : gia tăng mức độ ô nhiễm ở các khu công nghiệp , các đô thị, làm suy giảm tài nguyên môi trường ( do công nghiệp là ngành tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu nhiều nhất Việt Nam, công nghiệp cũng thải ra các chất độc hại và bụi ).
GV có thể cho HS viết bài văn nghị luận về hiện tượng trên và nêu lên trách nhiệm của thanh niên trước vấn đề đó .
Kết thúc vấn đề
Trách nhiệm bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của mọi người, của toàn xã hội, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ của chúng ta. Chính vì vậy mà việc lồng ghép giáo dục môi trường trong các bài học GDCD là vô cùng quan trọng . Có thể xem đây là việc làm thường xuyên, liên tục và không thể thiếu ở mỗi trường học , mỗi cấp học . Chúng tôi hi vọng rằng, qua chuyên đề này GV sẽ có nhận thức đầy đủ hơn về môi trường, có được hướng đi tốt trong việc lồng ghép GDMT vào mỗi bài học GDCD giúp các em có nhận thức sâu sắc về môi trường, có ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất .
Chân thành cảm ơn
Quý Thầy cô
đã quan tâm theo dõi Chuyên đề
Biên soạn: Hoàng Thị Dương
Bộ môn: Giáo dục công dân – Bậc THCS
Trình bày: Hoàng Thị Dương
Đề tài:
Môi trường và việc lồng ghép Giáo dục môi trường vào bộ môn Giáo dục công dân bậc THCS
Đề tài:
Môi trường và việc lồng ghép Giáo dục môi trường vào bộ môn Giáo dục công dân bậc THCS
Lí do chọn đề tài
Môi trường sống của chúng ta bao gồm đất nước và không khí; tất cả được duy trì nhờ năng lượng mặt trời . Con người chỉ là một trong những quần thể sinh vật tồn tại trên trái đất , cũng tuân theo quy luật sinh ra, lớn lên và chết. Nhưng không giống như những sinh vật khác, con người đã phát triển một hệ thống kinh tế sử dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tận dụng hầu hết mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cũng thải ra môi trường đủ mọi loại chất thải làm cho môi trường bị ô nhiễm. Con người đang gánh chịu hậu quả do chính mình gây ra. Bằng những quyết định và hành động cụ thể, con người cần cải thiện môi trường sống của mình không chỉ hôm nay mà cho cả mai sau.
Lí do chọn đề tài
Chính vì thế, việc giáo dục môi trường là việc làm hết sức cần thiết và thường xuyên liên tục trong hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia. Bởi giáo dục môi trường sẽ mang lại cho các thế hệ thanh thiếu niên tình cảm, trách nhiệm đối với môi trường bắt đầu bằng việc xác định các vấn đề môi trường và tìm ra các giải pháp đóng góp vào việc bảo vệ môi trường. Hệ thống giáo dục ở Việt Nam chúng ta cũng đã rất chú trọng đến việc tích hợp lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học, trong đó có môn học Gíao Dục Công Dân. Đểviệc tích hợp lồng ghép mang lại hiệu quả tốt thì đòi hỏi mỗi giáo viên cần phải có nhận thức đầy đủ về môi trường và tầm quan trọng của giáo dục môi trường, phải có phương pháp khoa học trong việc tích hợp, lồng ghép GDMT vào mỗi bài học. Đó là lí do xây dựng chuyên đề.
Tình hình chung
1. Thuận lợi
Các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp nhiều thông tin , sự kiện về môi trường.
2. Khó khăn
Giáo cụ trực quan về môi trường ở các trường học còn hạn chế.
Nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc tích hợp, lồng ghép GDMT vào mỗi bài học(không biết tích hợp ở đâu, lồng ghép vào chỗ nào?)
Môi trường và vấn đề ô nhiễm
1. Môi trường
Định nghĩa:
Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật.
Môi trường tự nhiên : gồm đất, nước, ánh sáng, không khí .
Môi trường kiến tạo : gồm những cảnh quan được thay đổi do con người
Môi trường không gian : địa điểm , khoảng cách, mật độ, phương hướng và sự thay đổi trong môi trường .
Môi trường văn hóa xã hội : gồm cá nhân và các nhóm công nghệ, tôn giáo, kinh tế học, thẩm mĩ học,dân số học và các hoạt động khác của con người.
Trong phạm vi giáo dục và bảo vệ môi trường, chúng ta đề cập chủ yếu là môi trường tự nhiên .
Môi trường và vấn đề ô nhiễm
1. Môi trường
Các loại môi trường sống của sinh vật
Môi trường đất : gồm các loại đất khác nhau trong đó có sinh vật sống
Môi trường nước : nước biển (biển, hồ nước mặn), nước lợ (nước ở vùng cửa sông ven biển), nước ngọt (ao, hồ, sông, suối)
Môi trường không khí : gồm các lớp khí quyển bao quanh mặt đất
Môi trường sinh vật gồm: động vật, thực vật, con người
Thực tế chúng có quan hệ qua lại mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau.
Ô nhiễm môi trường
Khái niệm ô nhiễm môi trường:
Ô nhiễm môi trường là sự làm biến đổi không mong muốn tính chất vật lí, hóa học, sinh học của không khí, đất, nước trong môi trường sống, gây tác hại tức thời hoặc trong tương lai đến sức khỏe, đời sống con người và sinh vật, làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, đến các tài sản văn hóa và làm tổn thất nguồn tài nguyên dự trữ của con người .
Ô nhiễm môi trường
Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
Dân số tăng, lượng tài nguyên thiên nhiên khai thác sử dụng nhiều, tạo ra lượng phế thải lớn, tình trạng khai thác lạc hậu, bừa bãi.
Do các khí thải công nghiệp, chất thải công nghiệp của các ngành sản xuất khác nhau, quy trình thu gom, xử lí còn hạn chế
Do các loại phân bón trong nông nghiệp, nhất là lạm dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ…
Do hoạt động sản xuất của con người ở nhiều lĩnh vực khác nhau như phá rừng, xây dựng, khai thác các loại tài nguyên…
Do chiến tranh (khí độc do khói súng, cháy nhà, cháy rừng ; chất độc hóa học, chất phóng xạ ; xác chết của người và động vật chưa được chôn cất kịp thời …)
Thực trạng môi trường trên Thế giới và ở Việt Nam
Môi trường trên thế giới đang bị hủy hoại nghiêm trọng. Sự tăng trưởng về dân số cùng với những nhu cầu ngày càng cao của con người trong cuộc sống do những tiến bộ của khoa học và công nghệ đã gây sức ép trực tiếp đến tài nguyên thiên nhiên, nhu cầu việc làm sinh sống .
Thực trạng môi trường trên Thế giới
Thực trạng môi trường trên Thế giới và ở Việt Nam
Trong khoảng 100 năm trái đất đã mất đi 6 triệu km2 rừng và rừng thế giới mất 2 triệu ha trong một năm. Đất bị hoang mạc hóa 680 triệu ha/ năm. Các rừng mưa nhiệt đới bị phá hủy nghiêm trọng. Ngay cả rừng Amazôn đã 60 triệu năm mưa liên tục giữ nhiệm vụ quan trọng trong việc điều hòa khí hậu của trái đất, nay đã bị phá vỡ thế cân bằng và đang bị đe dọa phá hủy nhanh chóng làm nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 0,3 đến 0,80 C trong vòng 10 năm qua. Có 25.000 triệu tấn đất màu mỡ bị mất đi trong một năm. Rừng bị thu hẹp về diện tích. 300 năm trở lại đây, rừng từ chỗ 72 triệu km2 giảm xuống còn 41 triệu km2 tức là độ che phủ từ 47 diện tích mặt đất xuống 27 . Ngày nay, mỗi năm thế giới mất hơn 15 triệu ha rừng, Đông Nam Á có mức phá rừng cao nhất .
Thực trạng môi trường trên Thế giới
Lượng khí CO2 và các khí nhà kính khác ngày càng nhiều làm cho tầng ôzôn bị phá hủy( mỏng và thủng ) làm ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu . Có nguy cơ khí hậu nóng lên thêm từ 10C - 30C làm cho lũ lụt và hạn hán ngày càng khắc nghiệt hơn.
Có thể nói, do dân số tăng quá nhanh làm cho diện tích đất đai bình quân đầu người bị thu hẹp nhanh chóng cùng với việc sử dụng và canh tác không hợp lí khiến tốc độ sa mạc hóa ngày càng nhanh
Lượng chất thải công nghiệp ngày càng nhiều, làm ô nhiễm môi trường và đe dọa các loài thú biển trong vòng 40 năm qua.
Ô nhiễm khí CO2. Trong vòng 100 năm trở lại đây tỉ lệ CO2 tăng thêm khoảng12% .
Mưa axít ( có nguyên nhân từ các nhà máy công nghiệp) đang phá hủy rừng nhiệt đới, ao hồ, đồng ruộng và các di tích lịch sử .
Sự phát triển kinh tế không thích hợp ở một số nước đã gây nên một sức ép mạnh mẽ lên hệ thống sinh thái tự nhiên. Các tài nguyên đất rừng khai thác quá mạnh làm giảm đa dạng sinh học.
Bụi trong không khí tăng do lượng bồ hóng và các sản phẩm rắn, sự đốt cháy ngày càng cao
Thực trạng môi trường Việt Nam
Dân số Việt Nam tăng nhanh: năm 1945 : 25 triệu nhưng đến tháng 6/1999 dân số Việt Nam là 77 triệu 263 ngàn người. Cuối năm 2004 dân số Việt Nam khoảng 82 triệu người. Cùng với sức ép gia tăng dân số, sự nghèo nàn, quá trình đô thị hóa, sự di dân và quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa chưa quán triệt quan điểm “ phát triển môi trường bền vững” ở một số cơ sở sản xuất đã tác động mạnh mẽ tới môi trường.
Thực trạng môi trường Việt Nam
Nguy cơ mất rừng và tài nguyên rừng đang đe dọa trong cả nước, tai họa mất rừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đã từng xảy ra nhiều nơi.
Độ che phủ của rừng từ 74,3% (năm 1943) chỉ còn 27,7% (năm 1992), hiện nay độ che phủ còn 28% nhờ chương trình trồng rừng.
Rừng Việt Nam tăng trưởng chậm (khoảng 10 triệu m3/ năm). Hiện khai thác 35triệu- 45 triệu m3/ năm. Trung bình rừng bị phá hàng năm từ 150.000 – 200.000 ha/năm. Mất rừng, đồi núi trọc, đất bị xói mòn rửa trôi, chế độ thủy văn và khí hậu thay đổi theo chiều hướng xấu, mất đa dạng sinh học, nhất là những động vật quý hiếm.
Sự suy giảm nhanh chất lượng đất và diện tích canh tác, tài nguyên đất tiếp tục bị lãng phí do canh tác không hợp lí, thiếu phân bón hữu cơ, thiếu phương tiện tưới tiêu. Phương thức canh tác lạc hậu của các dân tộc ít người làm cho đất thoái hóa nhanh, nhiều chỗ bỏ hoang, đất xấu chưa có điều kiện cải tạo . Đặc biệt là sự lạm dụng phân bón, thuốc trừ sâu đã làm cho môi trường đất, nước và không khí bị ô nhiễm ngày càng nặng nề, nhiều bệnh tật ngày càng phát sinh.
Thực trạng môi trường Việt Nam
Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật vùng ven biển đang bị suy giảm nhanh, môi trường bị ô nhiễm: khai thác hải sản quá mức, đánh bắt sinh vật còn non, công cụ khai thác còn lạc hậu, đánh bắt chủ yếu ven bờ. Nạn xói lở bờ biển có nguy cơ đe dọa vùng dân cư. Mặt khác vùng cửa sông ven biển tập trung nhiều chất thải sinh hoạt công nông nghiệp từ thành phố, nhà máy, hầm mỏ, đồng ruộng, dân cư tập trung ở đây cao… góp phần làm ô nhiễm môi trường ven biển.
Thực trạng môi trường Việt Nam
Ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí đã xuất hiện nhiều nơi, nhất là các khu công nghiệp. Rác thải ngày càng nhiều và là một vấn đề nan giải, xử lí chưa triệt để, các dòng sông ở các thành phố bị ô nhiễm ở mức độkhác nhau, bụi gia tăng, các loại khí có nơi SO2 vượt 14 lần cho phép, CO2 vượt 2,7 lần cho phép.
Thực trạng môi trường Việt Nam
* Mục đích
Cung cấp một năng lực
Biết suy xét.
Biết xử lí thông tin
Nhằm đạt hệ thống kĩ năng
Thấy được vấn đề.
Biết giải quyết nó.
Thúc đẩy những thay đổi trong hành vi
Biết quyết định.
Biết tham gia.
Mục đích và phương pháp giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông
Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là: mỗi học sinh được trang bị một ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất, một khả năng biết đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên và một giá trị nhân cách khắc sâu bởi một nền tảng đạo lí về môi trường.
Là một chủ thể mang tính xuyên suốt trong sự hòa nhập với các môn học khác, giáo dục môi trường mang lại cho học sinh cơ hội hiểu biết về môi trường, hiểu biết các quyết định về môi trường của con người . Giáo dục môi trường cũng tạo ra cơ hội để sử dụng tất cả các kĩ năng liên quan tới cuộc sống hôm nay và ngày mai của các em . Tất cả những điều này đưa chúng ta đến một hi vọng học sinh có nhiều ý kiến sáng tạo và tham gia tích cực cho sự lành mạnh của thế giới.
Mục đích và phương pháp giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông
Phương pháp
Giáo dục về môi trường
Hình thành ở học sinh những kiến thức, hiểu biết và kĩ năng cơ bản, hữu ích khi các em cần tiếp xúc với các vấn đề môi trường
Chú trọng đến thông tin sự kiện, những hoạt động thực tế nhằm thu hoạch tri thức và rèn luyện kĩ năng.
Cung cấp lí thuyết về các quá trình tự nhiên, xã hội có liên quan đến môi trường.
Phương pháp
Giáo dục vì môi trường
Hình thành khả năng suy nghĩ, nghe,nói, đọc, viết có phán xét. Nhân tố này hỗ trợ cho quá trình hình thành hành vi tốt, thái độ đúng đối với môi trường
Hình thành thái độ quan tâm đến môi trường, khuyến khích việc sử dụng hợp lí các giá trị môi trường hôm nay và mai sau.
Hình thành khả năng đánh giá ra quyết định trước những vấn đề môi trường, khả năng lựa chọn giải pháp có tính bền vững.
Phương pháp
Giáo dục trong môi trường
Đề cao các cơ hội giúp học sinh gặt hái những kinh nghiệm hoặc được giáo dục trực tiếp trong môi trường.
Đề cao quyền công dân của học sinh đối với các quan tâm chung về vấn đề môi trường. Quá trình tham gia trực tiếp các hoạt động môi trường sẽ thúc đẩy, củng cố, phát triển các tri thức kĩ năng đã có, thay đổi hành vi, thái độ đánh giá.
Đối với việc học : kích thích hứng thú, óc sáng tạo.
Đối với việc dạy : khai thác tư liệu về môi trường làm công cụ sư phạm.
Một số ví dụ về lồng ghép giáo dục môi trường vào các bài học của bộ môn GDCD
Lồng ghép GDMT vào mỗi bài học GDCD chủ yếu là GV xây dựng các tình huống gắn với nội dung bài học, trong đó có nội dung GDMT để HS tự đánh giá, xử lí các tình huống. Sau đó GV đưa ra kết luận để giáo dục học sinh các chuẩn mực đạo đức hoặc pháp luật liên quan đến bài học và ý thức bảo vệ môi trường .
Một số ví dụ về lồng ghép giáo dục môi trường vào các bài học của bộ môn GDCD
Việc lồng ghép GDMT trong mỗi bài có thể tiến hành ở bất kì hoạt động nào của bài học, song phải đảm bảo tính hợp lí. (Chủ yếu là lồng ghép ở hoạt động luyện tập).
GV lưu ý: GDMT ở đây chỉ là hoạt động lồng ghép, do đó thời gian giành cho việc lồng ghép không kéo dài . Tình huống mà GV đưa ra để GDMT phải gắn liền với nội dung kiến thức bài học .
Bài: “Tự chăm sóc, rèn luyện thân thể”
Tình huống
Để tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, nghe lời mẹ dặn, sáng nào An cũng súc miệng nước muối để bảo vệ răng. Nhưng cứ mỗi lần súc miệng là An lại nhổ ra sân. Em có nhận xét gì về hành vi của An ?
Trả lời
Việc súc miệng nước muối vào buổi sáng để bảo vệ răng là việc làm thể hiện đức tính tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe. Nhưng hành vi nhổ nước súc miệng ra sân là một hành vi thiếu văn hóa, làm ô nhiễm môi trường.
Kết luận
Tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân là việc làm cần thiết, nhưng việc bảo vệ môi trường, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của mọi người cũng là việc làm thiết thực, không kém phần quan trọng.
Bài : “Siêng năng kiên trì”
Tình huống
Một số hộ gia đình thường xuyên đổ rác ra bãi đất trống ven đường cạnh nhà Nam. Mặc dù Nam đã nhiều lần lựa lời ngăn cản nhưng họ vẫn không nghe. Từ đó ngày nào Nam cũng giành một ít thời gian để gom tất cả rác bỏ vào một cái bao lớn rồi để trước cửa nhà mình chờ xe rác tới mang đi . Cảm phục trước việc làm của Nam, mọi người đều bảo nhau không vứt rác bừa bãi ra vệ đường nữa .
Theo em, việc làm của Nam thể hiện đức tính gì và có tác dụng ra sao?
Trả lời
Việc làm của Nam thể hiện đức tính siêng năng, kiên trì, góp phần làm sạch đẹp đường phố, bảo vệ môi trường .
Kết luận
Rác thải bị phân hủy tạo ra các loại khí độc hại. Khí độc hại trong rác bay hơi và khuyếch tán trong không khí, làm ô nhiễm môi trường không khí, ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe con người . Vì vậy chúng ta không nên xả rác bừa bãi ra đường vừa làm ô nhiễm môi trường, vừa làm mất vẻ mĩ quan đường phố.
( GV đọc cho HS nghe điều 6 – Luật bảo vệ môi trường : BVMT là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và trách nhiệm phát hiện và tố cáo hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường.)
Bài : “ Tiết kiệm”
Tình huống
Nhà Tuấn nuôi rất nhiều heo, nhưng cứ mỗi lần nấu cơm, có cơm dư là Tuấn lại bỏ cơm vào bọc ni lông rồi vứt ra ngoài đường. Em có nhận xét gì về hành vi của Tuấn?
Trả lời
Hành vi của Tuấn thể hiện sự lãng phí : Lẽ ra Tuấn có thể gom cơm thừa để tận dụng nấu cho heo.
Bỏ cơm vào bọc ni lông rồi vứt ra đường là việc làm thiếu văn hóa, gây ô nhiễm môi trường.
Kết luận
Trong cuộc sống, cần phải biết tiết kiệm, không lãng phí và không làm ô nhiễm môi trường, đặc biệt không được vứt bao ni lông ra đường. Bởi vì : bao ni lông có thể lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của các loài thực vật bị nó bao quanh,cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến hiện tượng xói mòn. Bao ni lông có thể làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị vào mùa mưa. Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh v. v…
Bài : “ Tôn trọng kỉ luật”
Tình huống
Trong giờ ra chơi, Hằng và một số bạn khác xuống căn-tin mua đồ ăn thức uống lên lớp để ăn uống với nhau rồi xả rác bừa bãi trong lớp. Hành vi của Hằng và một số bạn đã vi phạm điều gì? Tác hại của nó ?
Trả lời
Hằng và các bạn đã vi phạm nội quy nhà trường(không tôn trọng kỉ luật): xả rác bừa bãi trong lớp làm mất vẻ mĩ quan và gây ô nhiễm môi trường lớp học.Ngoài ra, nước đổ xuống nền có thể gây trượt ngã, xảy ra tai nạn.
Kết luận:
Ơ bất cứ nơi đâu, lúc nào mọi người đều phải có ý thức tôn trọng kỉ luật, không gây ô nhiễm môi trường.
Bài: “ Biết ơn”
Tình huống
Đi trên đường làng sạch đẹp, rộng rãi, Hùng nghĩ tới những người đã bỏ công sức để sửa sang, vệ sinh đường sá. Hùng tự nhủ với lòng mình phải luôn có ý thức giữ gìn đường làng ngõ xóm sạch đẹp .
Suy nghĩ của Hùng đã thể hiện điều gì ?
a/ Lòng biết ơn.
b/ Ý thức bảo vệ môi trường.
c/ Lịch sự, tế nhị.
d/ Cả a và b .
Trả lời
d/ Cả a và b .
Giải thích
Nhớ tới những người đã bỏ công sức để cho ta có con đường sạch đẹp , đó chính là lòng biết ơn. Lòng biết ơn thể hiện bằng việc làm cụ thể, đó là ý thức giữ gìn đường làng ngõ xóm luôn sạch đẹp : không bẻ cây xanh hai bên đường, không xả rác, không đổ nước thải và vứt xác động vật chết ra đường… ( Đây cũng chính là ý thức bảo vệ môi trường ).
Bài : “ Sống chan hòa với mọi người”
Bài tập trắc nghiệm
Trong các phương án sau đây, phương án nào vưà thể hiện đức tính sống chan hòa với mọi người vừa thể hiện ý thức bảo vệ môi trường ?
a/ Lan cùng các bạn tham gia phong trào làm xanh, xạch, đẹp đường phố.
b/ Hùng không góp ý cho ai cả vì sợ làm mất lòng người khác.
c/ Tuấn luôn cởi mở, vui vẻ với mọi người .
d/ Mai luôn chia sẻ với bạn bè những khi gặp khó khăn .
Trả lời
a/ Lan cùng các bạn tham gia phong trào làm xanh, sạch, đẹp đường phố .
Kết luận
Sống chan hòa với mọi người là sống vui vẻ, hòa hợp với mọi người và sẵn sàng tham gia vào những hoạt động chung có ích, trong đó có hoạt động bảo vệ môi trường .
Bài: “ Trung thực”
Tình huống
Sau tiết thực hành môn hóa học, Hùng được phân công rửa các đồ dùng thí nghiệm . Vào phòng vệ sinh, Hùng đổ hết tất cả các chất hóa học trong lọ thí nghiệm ra nền nhà rồi đi ra ngoài. Bác lao công phát hiện ra và gọi Hùng quay trở lại. Hùng vẫn không nghe và chối không nhận hành vi sai trái của mình .
Em có nhận xét gì về hành vi của Hùng ?
Trả lời
Việc Hùng chối không nhận hành vi sai trái của mình chứng tỏ Hùng không có tính trung thực .
Việc Hùng đổ các hóa chất ra nền nhà vệ sinh là việc làm gây ô nhiễm môi trường.
Kết luận
Các chất hóa học là những chất rất nguy hại đến sức khỏe con người, tuyệt đối không được đổ bừa bãi ra bất cứ chỗ nào.
Học sinh cần phải rèn luyện tính trung thực trong mọi lúc mọi nơi, phải biết dũng cảm nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm.
Bài “Tự trọng”
Tình huống
Trên đường đi học về, Sơn thường có thói quen dùng que quất vào những cây xanh mới trồng hai bên đường. Mặc dù đã được các bạn nhắc nhở nhiều lần nhưng Sơn vẫn không nghe, vẫn chứng nào tật ấy .
Việc làm của Sơn chứng tỏ điều gì ? Có tác hại ra sao ?
Trả lời :
Được các bạn nhắc nhở nhiều lần mà Sơn vẫn chứng nào tật ấy, chứng tỏ Sơn không có tính tự trọng.
Dùng que quất vào cây xanh hai bên đường là hành vi phá hoại môi trường.
Kết luận
Cây xanh có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Trồng cây xanh vừa mang lại vẻ đẹp vừa để giữ không khí trong lành, tránh ô nhiễm do bụi và thiếu ô xy, thừa carbonic và các chất khí độc hại khác, giảm tiếng ồn. Vì vậy chúng ta cần phải có ý thức giữ gìn và bảo vệ nó.
Bài: “ Đạo đức và kỉ luật”
Tình huống
Thành là một học sinh cá biệt trong lớp. Giờ ra chơi, Thành thường đem quà vào lớp ăn và châm lửa đốt các túi ni lông đựng quà. Khói ni lông bị đốt bay mù trong lớp học. Nhiều bạn chịu không được ho sặc sụa.
Em có nhận xét gì về hành vi của Thành ?
Trả lời
Nội quy của nhà trường là cấm học sinh mang quà lên lớp ăn, cấm xả rác, đốt rác trong lớp học. Như vậy hành vi của Thành chứng tỏ Thành là người thiếu đạo đức và thiếu tính kỉ luật.
Hành vi của Thành còn thể hiện ý thức kém trong việc bảo vệ môi trường.
Kết luận
Các bao bì ni lông bị đốt sẽ tạo ra các loại khí độc, đặc biệt là chất đi-ô-xin có thể gây ngộ độc, gây ngất, khó thở, nôn ra máu, ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết, giảm khả năng miễn dịch, gây rối loạn chức năng, gây ung thư và các di tật bẩm sinh cho trẻ sơ sinh . Chính vì vậy chúng ta cần phải có trách nhiệm tuyên truyền cho những người xung quanh ta hiểu được tác hại của bao ni lông, hạn chế sử dụng nó và đặc biệt không được đốt bao ni lông một cách tùy tiện .
Học sinh cần phải thường xuyên rèn luyện đạo đức và tính kỉ luật
(GV đọc điều 9- LBVMT : Nghiêm cấm mọi hành vi làm suy thoái môi trường, gây ô nhiễm môi trường, gây sự cố môi trường)
Bài: “ Xây dựng gia đình văn hóa”.
Tình huống
Cô giáo hỏi Nam :
- Em có dự kiến sẽ làm gì để góp phần xây dựng gia đình văn hóa ?
Nam trả lời:
- Em sẽ cố gắng học tập và rèn luyện đạo đức thật tốt , biết kính trọng và giúp đỡ ông ba, cha mẹ, thương yêu anh chị em, không xả rác, đổ nước thải hoặc vứt xác động vật chết ra đường, luôn giữ gìn nhà cửa, đường phố sạch đẹp.
Em có nhận xét gì về dự định của Nam ?
Trả lời:
Những dự định của Nam đều góp phần xây dựng gia đình văn hóa, đồng thời cũng thể hiện ý thức bảo vệ môi trường.
Kết luận
Học sinh chúng ta cần phải góp phần xây dựng gia đình văn hóa bằng cách chăm ngoan, học giỏi, biết kính trên nhường dưới, không đua đòi ăn chơi, không làm điều gì tổn hại đến danh dự gia đình, phải có ý thức bảo vệ môi trường ở gia đình cũng như ở khu phố, lối xóm.
Bài: “Tôn trọng lẽ phải”.
Tình huống
Trên đường đi học về, Hùng thấy một bác nông dân đang định vứt mấy con gà chết xuống sông. Thấy vậy Hùng liền chạy đến can ngăn và giải thích cho bác hiểu tác hại của việc làm này, nhưng bác ấy không nghe vẫn cố tình vứt tất cả xác gà chết xuống sông.
– Em có nhận xét gì về hành vi trên đây của bác nông dân ?
Trả lời
Hành vi của bác nông dân chứng tỏ rằng bác ấy đã không tôn trọng lẽ phải và không có ý thức bảo vệ môi trường . Xác chết động vật sẽ làm ô nhiễm môi trường nước , ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của mọi người.
Kết luận
Trách nhiệm bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của tất cả mọi người chứ không phải riêng ai . Trong mọi lúc mọi nơi, chúng ta cần phải tôn trọng lẽ phải, ủng hộ, tuân theo vàbảo vệ những điều đúng đắn, biết điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của mình theo hướng tích cực .
( GV đọc điều 15 LBVMT : Tổ chức cá nhân phải bảo vệ nguồn nước, hệ thống cấp thoát nước, cây xanh, công trình vệ sinh, thực hiện các quy định về vệ sinh công cộng ở đô thị, nông thôn, khu dân cư, khu du lịch, khu sản xuất)
Bài: “liêm khiết”
Tình huống
Ông A là giám đốc lâm trường, ông đã lợi dụng chức quyền của mình cấu kết với bọn lâm tặc để kiếm lợi .
? Em có nhận xét gì về hành vi của ông A ?
Trả lời
Ông A đã cấu kết với bọn lâm tặc xâm phạm nguồn tài nguyên thiên nhiên , gây hại đến môi trường : Chặt phá rừng làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng, gây xói mòn, lũ lụt, mất cân bằng sinh thái . Hành vi của ông A là hành vi hám lợi , thể hiện lối sống không trong sạch.
? Hành vi này trái với đức tính gì mà chúng ta vừa học ?
- Trái với đức tính liêm khiết .
Kết luận:
Cần phải rèn luyện lối sống liêm khiết để con người được thanh thản, nhận được sự quý trọng, tin cậy của mọi người, góp phần làm cho xã hội trong sạch tốt đẹp hơn .
(GV đọc điều 12: Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ các giống, loài thực vật, động vật hoang dã, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, biển, các hệ sinh thái…
Điều 52 : Tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm PL về bảo vệ môi trường , gây thiệt hại cho nhà nước, tổ chức cá nhân thì ngoài việc bị xử ly theo quy định tại điều 50 và 51 của luật này còn phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật)
Bài: “ Tôn trọng người khác”
Tình huống
Trên xe buýt đông người, một thanh niên thản nhiên hút thuốc lá. Hành khách trên xe ngột ngạt vì khói thuốc.
Em có nhận xét gì về hành vi của anh thanh niên đó ?
Trả lời
Anh thanh niên đó đã không có ý thức tôn trọng khác. Hành vi của anh ta còn gây ô nhiễm môi trường, lảm ảnh hưởng tới sức khỏe của những người xung quanh.
Kết luận
Hút thuốc lá rất có hại cho sức khỏe của bản thân, vả lại hút thuốc nơi đông người còn gây hại đến người khác. Vì thế chúng ta không nên hút thuốc lá dù ở bất cứ nơi nào . Tôn trọng người khác và bảo vệ môi trường cũng chính là tôn trọng và bảo vệ chính mình .
Bài: “Phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy nổ và các chất độc hại”
Bổ sung nội dung thứ nhất của bài học: Tác hại của tai nạn vũ khí, cháy nổ và các chất độc hại.
SGK chỉ nói đến tác hại gây tổn thất lớn về người và tài sản . GV cần phân tích thêm để học sinh thấy được tác hại thứ hai : Gây ô nhiễm môi trường.
Ví dụ :
Đánh bắt cá bằng thuốc nổ -> Ô nhiễm môi trường nước.
Các tai nạn cháy nổ khác -> Ô nhiễm bầu không khí.
Các chất độc hại ( phun thuốc trừ sâu cho rau quả, cây cối ) -> Ô nhiễm nguồn thực phẩm, ô nhiễm đất và không khí . ( GV kết hợp đưa tranh ảnh minh họa)
Khi tìm hiểu mục 2 : Các quy định của nhà nước – GV đọc điều 23 cho HS nghe : Tổ chức cá nhân sản xuất, vận chuyển, buôn bán, sử dụng, cất giữ, hủy bỏ các chất độc hại, chất dễ cháy, nổ phải tuân theo quy định về an toàn cho người, sinh vật, không gây suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường )
Bài: “ Chí công vô tư”.
Tình huống:
Ông Minh là tổ trưởng dân phố, nhưng vợ ông Minh lại buôn bán lấn chiếm mặt đường và thường xuyên đổ nước thải ra đường. Ông Minh vẫn làm lơ trước những việc làm của vợ mình.
Em nghĩ thế nào về việc làm của vợ chồng ông Minh?
Trả lời :
Vợ ông Minh buôn bán lấn chiếm mặt đường là vi phạm luật an toàn giao thông.
Việc bà thường xuyên đổ nước thải ra đường sẽ làm giảm lực ma sát gây tai nạn cho người đi đường đồng thời làm ô nhiễm môi trường.
– Ông Minh làm lơ trước việc làm sai trái của vợ mình chứng tỏ rằng ông thiếu đức tính chí công vô tư .
Bài : “ Dân chủ và kỉ luật”
(Đưa tình huống tương tự bài : “ Đạo đức và kỉ luật” GDCD lớp 7)
Bài : “ Bảo vệ hòa bình”.
Tìm hiểu phần ĐVĐ, GV nêu câu hỏi: Em hãy cho biết chiến tranh đã để lại hậu quả gì ?
HS nêu các hậu quả, GV bổ sung hậu quả : Gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
GV cho học sinh đưa ví dụ để phân tích :
Khói súng và các loại chát nổ như bom mìn , cháy nhà, cháy rừng…
Ô nhiễm bầu không khí .
Chất độc hóa học ( đặc biệt là chất độc màu da cam ), chất phóng xạtừ bom nguyên tử
Ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước.
( GV cung cấp thêm thông tin : Ở Việt Nam có tới hơn 2 triệu người bị nhiễm chất độc màu da cam, hơn 500 ngàn trẻ em bị dị tật vì hậu quả của loại chất độc này)
Xác chết của người và động vật chưa được chôn cất kịp thời
Gây dịch bệnh .
GV : Chiến tranh đã gây ra bao hậu quả vô cùng nghiêm trọng , vậy trách nhiệm của chúng ta là phải làm gì ?
HS : Phải bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh.
Bài : “ Tình hữu nghị của các dân tộc trên thế giới”
GV cung cấp cho học sinh những thông tin về viện trợ của các nước trên thế giới cho Việt Nam, trong đó có cả việc viện trợ kinh phí để bảo vệ môi trường. Qua đó giúp HS thấy vấn đề môi trường không chỉ riêng một quốc gia nào mà đó là sự quan tâm đặc biệt của toàn thế giới .
( GV đọc điều 45 : Nhà nứớc Việt Nam thực hiện các điều ước quốc tế đã kí kết hoặc tham gia có liên quan đến môi trường, tôn trọng các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của nhau
Điều 46 : Nhà nước Việt Nam có chính sách ưu tiên đối với các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc đào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học về môi trường, áp dụng công nghệ sạch, xây dựng và thực hiện các dự án cải thiện môi trường , khắc phục sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, các dự án xử lí các chất thải ở Việt Nam.)
Bài : “ Năng động sáng tạo”
GV cho HS sưu tầm những tấm gương năng động sáng tạo trong việc tìm ra các giải pháp bảo vệ môi trường đã được đăng trên sách báo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng khác .
(GV đọc điều 49 : Tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động bảo vệ môi trường, phát hiện sớm và báo cáo kịp thời các dấu hiệu sự cố môi trường, khắc phục sự cố môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, ngăn chặn các hành vi phá hoại mơi trường thì được khen thưởng)
Bài : “ Trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
GV mở rộng : Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Đó là sự phát triển đáng mừng. Tuy nhiên, khu công nghiệp mọc lên, đô thị phát triển thu hút người lao động cũng đồng nghĩa với việcchúng ta phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng của môi trường như : gia tăng mức độ ô nhiễm ở các khu công nghiệp , các đô thị, làm suy giảm tài nguyên môi trường ( do công nghiệp là ngành tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu nhiều nhất Việt Nam, công nghiệp cũng thải ra các chất độc hại và bụi ).
GV có thể cho HS viết bài văn nghị luận về hiện tượng trên và nêu lên trách nhiệm của thanh niên trước vấn đề đó .
Kết thúc vấn đề
Trách nhiệm bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của mọi người, của toàn xã hội, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ của chúng ta. Chính vì vậy mà việc lồng ghép giáo dục môi trường trong các bài học GDCD là vô cùng quan trọng . Có thể xem đây là việc làm thường xuyên, liên tục và không thể thiếu ở mỗi trường học , mỗi cấp học . Chúng tôi hi vọng rằng, qua chuyên đề này GV sẽ có nhận thức đầy đủ hơn về môi trường, có được hướng đi tốt trong việc lồng ghép GDMT vào mỗi bài học GDCD giúp các em có nhận thức sâu sắc về môi trường, có ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất .
Chân thành cảm ơn
Quý Thầy cô
đã quan tâm theo dõi Chuyên đề
Biên soạn: Hoàng Thị Dương
 







Các ý kiến mới nhất