Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Cơ sở văn hóaVN

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Phạm Khánh Hà
Ngày gửi: 21h:04' 05-07-2023
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
Chương 2

Những thành tố của Văn hóa Việt Nam
3.1 Văn hóa nhận thức
- Với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, văn minh của người Việt
ra đời với những đặc trưng điển hình của một nền văn hóa
nông nghiệp, từ tư duy nhận thức đến ứng phó với tự nhiên
và tổ chức đời sống.
- Trong hoạt động thực tiễn, con người nhận thức được
những gì tạo ra sự sinh sôi nảy nở, đó là sự giao hòa Trời
– Đất, Mẹ – Cha, Đực – Cái, Âm – Dương… Triết lý
Âm – Dương ra đời trên cơ sở này và các mặt đối lập, sự
hài hòa giữa chúng.

Văn hóa nhận thức

Triết lý
Âm - Dương

Mô hình
Tam tài – Ngũ hành

Lịch âm dương
và hệ can chi

- Nội dung cơ bản của Triết lý Âm – Dương là quy
luật về thành tố Âm và Dương, trong Âm có Dương
và trong Dương có Âm, xác định một yếu tố là Âm
hay Dương phải có tương quan cụ thể.
- Bên cạnh quy luật về thành tố là quy luật về sự
chuyển hóa của các thành tố, Âm – Dương chuyển
hóa lẫn nhau, Âm cực sinh Dương và Dương cực
sinh Âm.

Âm dương là bản chất của giới tự nhiên
Thế giới này cho dù vận hành theo quy luật nào, cho dù bạn là
người rất am hiểu về mọi lĩnh vực trên đời
(VD: Hiểu về triết học, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật, kinh
doanh, tâm lý, …v…v…). Thì hầu như tất cả những thứ đó
(99%). Đều không thoát khỏi quy luật ÂM-DƯƠNG.
Đặc tính ÂM-DƯƠNG nó luôn tồn tại song hành ở mọi
khía cạnh của thế giới.
Nó có ở vạn vật, vạn sự, nó có ở dạng VẬT CHẤT và cả ở
TINH THẦN. Nó BAO TRÙM lên hầu như TẤT CẢ MỌI
THỨ xung quanh cuộc sống của chúng ta.

- Trước hết, chúng ta nhận thấy có nhiều cặp yếu tố đối lập
nhau như:
Trời và Đất (Trời/cao, Đất/thấp);
Động vật có Đực và Cái; Trống/ Mái.
Thời gian có Ngày và Đêm; Sáng/ Tối
Thời tiết có Nóng và Lạnh; Nắng /Mưa
Vật chất có Giàu và nghèo; Sướng/ khổ
Tinh thần có Ghét/ thương; niềm vui/nỗi buồn
....và còn nhiều cặp đối lập khác
Từ đó người ta nhận thấy thế giới không lộn xộn mà có
một trật tự, quy luật đó là có vô số cặp đôi đối lập nhưng
tồn tại với nhau.

Dương mang tính sáng, nóng, động, tích cực, giống đực, phát
triển, mở rộng, sự sống, thực, số lẻ, hình tròn…
Âm mang tính tối, lạnh, tĩnh, tiêu cực, giống cái, suy thoái, thu
hẹp, cái chết, hư (hư không, hư ảo), số chẳn, hình vuông…

Khi yếu tố này thịnh thì yếu tố kia suy và ngược lại.
Điều đặc biệt là trong Dương có Âm và trong Âm có Dương.
Không tồn tại yếu tố hoàn toàn Dương hoặc hoàn toàn Âm, vì
nếu như thế sẽ không thành một tổng thể hoàn chỉnh.

Ví dụ
khi hoàng hôn - là thời
khắc chuyển giao từ ngày
sang đêm, tức cũng là thời
khắc cực Dương của mặt
trời, và ngay lập tức, trời sẽ
chuyển sang màu tối của
màn đêm.
Cũng giống như bình
minh, đó là thời khắc từ
cực Âm (cực tối) mà những
tia sáng ban mai mới loé
lên chào ngày mới.

Chẳng hạn nếu xét loài người là một tổng thể, thì phần Dương
là Nam giới, Âm là Nữ giới.
Nhưng xét các cá thể Nam, thì không phải toàn Dương cả.
Trong con người họ có yếu tố Âm là tinh thần, Dương là thể xác.

+

+
-

+

+
-

3.1.1 Quy luật trong âm dương
1. Âm dương đối lập
Ví dụ : cao/ thấp;chẳn / lẻ; sáng/ tối; nóng / lạnh; nước/ lửa, ngày/đêm....
2. Âm dương tương hỗ
Tuy đối lập nhưng phải nương tựa nhau mới tồn tại, có ý nghĩa được.
Ví dụ : Mẹ tròn con vuông; Sướng lắm khổ nhiều; Trong họa có phúc...

Ngói Âm dương

3. Âm dương tiêu trưởng
Tiêu là mất đi; trưởng là sự phát triển.
Nói lên sự vận động không ngừng chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm
dương
Ví dụ : khí hậu
Nóng – lạnh ; Xuân – Hạ - Thu – Đông; Nắng – Mưa; Ngày - đêm...

4. Âm dương bình hành
Hai mặt âm dương tuy đối
lập, vận động không
ngừng nhưng luôn lặp lại
được thế cân bằng, bình
quân giữa hai mặt
Ví dụ: không ai giàu ba
họ/ không ai khó ba đời
Ông thiện ông ác; ông cốt
bà đồng; ông tơ bà
nguyệt...

Mẹ Âu Cơ

Cha Lạc Long Quân
Núi

Biển

Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không
chia tôn giáo, đẳng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì
phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc.
(Hồ Chí Minh)
Dòng sông bên lở bên bồi
Bên lở thì đục, bên bồi thì trong.
                                                      (Ca dao)
Thiếu tất cả ta rất giàu dũng khí
Sống chẳng cúi đầu ; chết vẫn ung dung
Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hoá anh hùng
Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo.
(Tố Hữu)

Quan hệ giữa Âm và Dương
- Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm (nghĩa là không có
cái gì thuần chất.)
Ví dụ: Trong nắng chứa đựng cái mưa.
- Âm và dương luôn gắn bó mật thiết với nhau, và có thể chuyển
hóa, đổi chỗ cho nhau theo nguyên tắc: Âm cực sinh Dương,
Dương cực sinh Âm.
Ví dụ: Nắng lắm mưa nhiều;Trèo cao ngã đau; Không ai giàu ba
họ, không ai khó ba đời.

Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên trong kho tàng văn hoá
dân gian người Việt có rất nhiều câu chuyện kể, những câu tục
ngữ đúc kết tư tưởng đời sống nhân dân như:
“Trong rủi có may”; “Trong hoạ có phúc”, “Tham thì thâm”,
“Người có lúc vinh lúc nhục”; “Sông có khúc đục khúc
trong”, “Sướng lắm khổ nhiều”; “Yêu nhau lắm cắn nhau
đau”…
Ngay trong cấu trúc câu tục ngữ, thành ngữ, thường là hình
thức đối xứng; trong thơ có đối thanh, đối ý, đối hình; trong ca
dao có những cặp hình tượng đối xứng mang tính chất văn hoá
truyền thống như: rồng – phượng; loan – phượng; cá – chim;
nước – lửa…

Trong sinh hoạt hàng ngày, người Việt đặt tên cho
những sự vật quen thuộc cũng theo nguyên lý âm dương: ngói
âm dương, cõi âm dương, chợ âm dương, tiền âm dương, ghép
gỗ theo nguyên tắc âm dương…
Với người Việt, quân bình âm dương vừa biểu hiện cho sự
hoàn thiện, viên mãn, mà “vuông tròn” là một biểu tượng “Vái
trời cho đặng vuông tròn”, “Ba vuông sánh với bảy tròn, đời cha
vinh hiển, đời con sang giàu”
Cũng chính từ triết lý quân bình âm dương này mà người
Việt có lối sống lạc quan, yêu đời: “Không ai giàu ba họ, không
ai khó ba đời”, ứng xử linh hoạt và khả năng thích nghi cao: “Ăn
theo thuở, ở theo thì”.

3.1. 2 Tam tài
Cùng với Âm Dương, Tam tài và Ngũ hành làm nên bộ ba nguyên lý của
người dân phía Nam sông Dương Tử, trong đó có người dân Việt. Tuy
những nguyên lý đã được vận dụng cách truyền thống và tự nhiên trong
cách nhìn và nếp sống của dân Việt, nhưng ít người thực sự hiểu về các
nguyên lý này, đặc biệt là tam tài và ngũ hành
Tam tài là bước phát
triển đầu tiên của âm
dương theo hệ số lẻ,
gồm Tam tài và Ngũ
hành
Tam tài: là mô hình
cấu trúc không gian
gồm 3 yếu tố
(tam = ba; tài = ghép)

Trời
+

Đất -

Đất -

Trời
+

Người -

Người
+

 “Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật“ (Lão Tử)

Tư duy số lẻ là một trong những nét đặc thù của phương Nam.
Trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ Việt Nam các số lẻ như 1,
3, 5, 7, 9 xuất hiện rất nhiều.
Ví dụ:
"ba mặt một lời"; "ba vợ, bảy nàng hầu"; "tam sao, thất bản“,
“ba chìm bảy nổi”, “ba vuông sánh với bảy tròn”...

3.1.3. Ngũ hành
Người xưa nhận thấy trong tự nhiên có năm yếu tố thường xuyên xuất hiện và
có vai trò quan trọng với cuộc sống con người đó là: Kim (kim loại), Thủy
(nước), Mộc (cây cối), Hỏa (lửa), Thổ (đất đai) nên coi đó là 5 yếu tố chi phối
sự vận hành của vũ trụ và được gọi là Ngũ Hành.
Kim sinh Thủy
(kim loại nóng chảy trở về thể lỏng)
Thủy sinh Mộc (nước giúp cây tươi tốt)
Mộc sinh Hỏa (gỗ làm nhiên liệu cho lửa cháy)
Hỏa sinh Thổ
(lửa đốt thành tro làm đất màu mỡ)
Thổ sinh Kim (lòng đất sinh ra kim loại)
Kim khắc Mộc (dao, cưa....chặt , cưa cây)
Mộc khắc Thổ (cây hút hết chất màu của đất)
Thổ khắc Thủy (đê đất ngăn nước)
Thủy khắc Hỏa (nước dập lửa)
Hỏa khắc Kim (lửa nung chảy kim loại)

Trước tiên là một tổng thể về màu sắc
- Màu vàng của nhân đậu, màu đỏ của thịt, màu
trắng của nếp, màu xanh của lá dong.....những
màu sắc của âm dương
Gói bánh:
-Bánh chưng hình vuông , nhân bên trong
được vo tròn
-Dây gói bánh : lạt mềm buộc chặt
- Kế tiếp là quá trình nấu bánh
Nồi: kim loại (Kim), nước nấu (thủy), lửa
(hỏa), củi (mộc), tất cả nằm trên một nền đất
(thổ)
-Bánh chưng – biểu tượng Ngũ hành tương
sinh ( Hỏa-thổ-kim-thủy-mộc)
Thịt heo – đậu xanh – nếp – nước – lá gói
Đỏ (Hỏa) – vàng (Thổ) – trắng (kim) – Thủy –
xanh (mộc)

3.1.3. Nhận thức về thời gian
Lịch
Do nhu cầu cần hiểu rõ thời tiết – thời gian nên ở vùng nông nghiệp đã
sáng tạo ra lịch
Lịch dương
Phát sinh từ vùng văn hóa nông nghiệp Ai Cập (lưu vực sông Nil) khoảng
3000 năm trước công nguyên dựa trên chu kỳ chuyển động của mặt trời:
một năm = 1 chu kỳ = 365 ngày.
Lịch âm
Phát sinh ở vùng nông nghiệp Lưỡng Hà dựa trên chu kỳ Mặt Trăng dài
29.5 ngày (một tháng), một năm có 354 ngày (ít hơn dương lịch 11 ngày).

Lịch âm dương
Vùng nông nghiệp Á Đông dùng một thứ lịch tổng hợp cả lịch
âm và lịch dương.
Cứ 3 năm dùng lịch âm, năm thứ 4 lại điều chỉnh theo lịch
dương – gọi là năm nhuận (có 13 tháng).
Do lịch âm giữ vai trò chủ đạo nên nhân dân ta quen gọi là âm
lịch (chính xác gọi là lịch âm – dương).
Muốn xác định năm nhuận, lấy năm dương lịch chia cho 19
nếu số dư là 0, 3, 6, 9,11, 14,17 thì năm ấy là năm nhuận.

3.2 Hệ Can – Chi
Để gọi tên các đơn vị như năm, tháng, ngày, giờ, người xưa chọn
một hệ đếm gọi là hệ Can – Chi.

Can chi là kết hợp của Thiên can và Địa chi (còn gọi là Thập Can Thập Nhị
Chi),
gồm những cái sau:
– 10 Thiên can: Canh, Tân, Nhâm, Quý, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ.
– 12 Địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Bài tập tại lớp
Qua bài vừa học, các bạn hãy liệt kê và viết ra các cặp
đối lập (âm dương) hoặc các câu ca dao tục ngữ có
chứa những cặp từ đối lập.
Các bạn luân phiên nhau viết đáp án và LƯU Ý người
sau không trùng kết quả của người trước.
 
Gửi ý kiến