Công nghệ và khoa hoc Thăng Long Hà Nội

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Hưng
Ngày gửi: 22h:05' 27-02-2008
Dung lượng: 9.2 MB
Số lượt tải: 34
Nguồn:
Người gửi: Vũ Hưng
Ngày gửi: 22h:05' 27-02-2008
Dung lượng: 9.2 MB
Số lượt tải: 34
Số lượt thích:
0 người
I.Quy hoạch đô thị:
-Cửa Tường Phù mở ra phía Chợ Đông và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mã. Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay. Cửa Diệu Đức nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay. Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia. Trong đời Lý, các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm.
-Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của Kinh Thành. Phía ngoài, cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú, buôn bán, làm ăn của dân chúng gồm các bến chợ, phố phường và thôn trại nông nghiệp. Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại La hay La Thành.
I.Quy hoạch đô thị:
-Thăng Long thời Lý có 61 phường như An Hoa, Kim Cổ, Đường Nhân, Hàng Đào, Xã Đàn... -Thời Lê, Thăng long có 36 phố phường buôn bán sầm uất, nổi tiếng trong nước về "khéo tay hay nghề, đất lề kẻ Chợ".
-Thành Đại La phía đông chạy dọc theo hữu ngạn sông Nhị như một đoạn đê của sông này từ Bến Nứa đến Ô Đống Mác, phía bắc dựa theo hữu ngạn sông Tô Lịch phía nam Hồ Tây từ Bưởi đến Hàng Buồm ngày nay, phía tây theo tả ngạn sông Tô Lịch từ Bưởi đến Ô Cầu Giấy, phía nam theo sông Kim Ngưu qua Giảng Võ, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền, đến Ô Đống Mác. Thành Đại La đời Lý mở các cửa: Triều Đông (dốc Hòe Nhai), Tây Dương (Cầu Giấy), Trường Quảng (Ô Chợ Dừa), Cửa Nam (Ô Cầu Dền), Vạn Xuân (Ô Đống Mác). Thành Đại La được bao bọc mặt ngoài bởi ba con sông: sông Nhị, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu và được tận dụng như những con hào tự nhiên
- Khoảng những năm 80 của thế kỉ XIX, bên cạnh khu phố cổ, Pháp cho xây dựng một số nhà cửa trên khu nhượng địa dọc theo mạn bờ sông thuộc khu vực Đồn Thuỷ (nay là khu phố Tây). Năm 1890, , khu phố Tây được xây dựng tới nay là khu phố Trần Hưng Đạo. Năm 1915, mạng lưới đường phố đo thị đã rõ nét hẳn. Phía Nam xuống tới khu vực hồ Thiền Quang, hồ Bảy Mẫu. Quy hoạch thành phố năm 1925, phía Tây được mở rộng đến khu vực hàng Đẫy và hàng Cỏ.
Cầu Long Biên
I.Quy hoạch đô thị:
Phố phường Hà Nội
Phố Hàng Da
Phố Hàng Thiếc
Phố Thợ Rèn (Phố Lò Rèn)
Phố Hàng Cót
Phố Bát Sứ
Cổng đền Quán Thánh trên đường Cổ Ngư
Cổng chùa Láng – Hà Nội
Đền Ngọc Sơn
Hồ Trúc Bạch
Bia Tiến sĩ
Chùa Láng
Chùa Báo Ân
Ấp Thái Hà
Khuê Văn Các
I.Quy hoạch đô thị:
Tượng Chu Văn An
Trống cái khu Thái Học
Khuê Văn Các
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Công trình kiến trúc Thăng Long chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho Giáo, Phật Giáo, tư tưởng triết học phương Đông: Thuyết âm- dương, thuyết Ngũ hành, sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người.
Thể hiện rõ nét đẹp của tâm hông và tư tưởng của người Việt: Coi trọng trí thức, tôn thờ người có công với đất nước
Đến cuối năm 1010, 8 điện 3 cung đã hoàn thành. Những năm sau, một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm. Một vòng thành bao quanh các cung điện cũng được xây đắp trong năm đầu, gọi là Long Thành hay Phượng Thành. Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này. Thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở 4 cửa: Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại Hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc. Cửa Tường Phù mở ra phía Chợ Đông và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mã. Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay. Cửa Diệu Đức nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay.
Mùa thu Kỷ Dậu ( 1009), Nhà Lý đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua, triều đình và hoàng gia. Trung tâm là điện Càn Nguyên, nơi thiết triều của nhà vua, hai bên có điện Tập Hiền và Giảng Võ, phía sau là điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ.
Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia. Trong đời Lý, các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
- Đời Lê, vòng ngoài thành vẫn mang tên thành Đại La. Vòng thứu hai chính thức được gọi là Hoàng Thành. Vòng thành trong cùng được gọi là Cung Thành.
Năm 1014, nhà Lý xây vòng thành ngoài cùng. Vũng thnh ny v?a lm ch?c nang thnh lu? b?o v?, v?a l dờ ngan lu l?t. Thnh du?c d?p m?i v cú t?n d?ng, tu b? m?t ph?n thnh D?i La cu d?i Du?ng. Thnh D?i La phớa dụng ch?y d?c theo h?u ng?n sụng Nh? nhu m?t do?n dờ c?a sụng ny t? B?n N?a d?n ễ D?ng Mỏc, phớa b?c d?a theo h?u ng?n sụng Tụ L?ch phớa nam H? Tõy t? Bu?i d?n Hng Bu?m ngy nay, phớa tõy theo t? ng?n sụng Tụ L?ch t? Bu?i d?n ễ C?u Gi?y, phớa nam theo sụng Kim Nguu qua Gi?ng Vừ, ễ Ch? D?a, ễ C?u D?n, d?n ễ D?ng Mỏc. Thnh D?i La d?i Lý m? cỏc c?a: Tri?u Dụng (d?c Hũe Nhai), Tõy Duong (C?u Gi?y), Tru?ng Qu?ng (ễ Ch? D?a), C?a Nam (ễ C?u D?n), V?n Xuõn (ễ D?ng Mỏc). Thnh D?i La du?c bao b?c m?t ngoi b?i ba con sụng: sụng Nh?, sụng Tụ L?ch, sụng Kim Nguu v du?c t?n d?ng nhu nh?ng con ho t? nhiờn.
- Cuộc thay triều đổi đại từ triều Lý sang triều Trần đã diễn ra ở kinh đô Thăng Long cuéc nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho chồng là Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông) vào năm 1225.
- Cuộc đảo chính đó làm kinh đô của đất nước hầu như không bị xáo động. Ngay cả cái tên kinh đô: Thăng Long, cũng tồn tại nguyên vẹn; cho mãi tới cuối triều Trần, khi mà Hồ Quý Ly cho xây dựng thành Tây Đô để chuẩn bị cướp ngôi nhà Trần, kinh thành Thăng Long mới được gọi thêm tên mới là Đông Đô nhằm phân biệt với Tây Đô.
- Nhà Trần tiếp thu toàn bộ mọi tài sản của kinh đô nhà Lý rồi tiếp tục tu bổ xây dựng theo yêu cầu mới.
- Vòng thành Đại La có lúc mở rộng thêm, có hồi dựng thêm rào trại củng cố việc phòng thủ chung cho cả kinh thành. Tuy nhiên về cơ bản vòng thành này vẫn không có gì thay đổi về cả hình dáng, kỹ thuật kiến trúc lẫn chức năng của nó.
- Đáng chú ý có vòng thành trong cùng được đắp từ thời Lý gọi là Long Thành. ë thời Lý, Long Thành mới được đắp như một vòng tường bao quanh một số cung điện nơi vua ở và làm việc.
- Tới thời Trần, vòng thành này được đắp thêm kiên cố và có đặt quân canh gác nghiêm mật. Vòng thành đã mang hoàn toàn tính chất quân sự và trở thành vòng tường thứ ba của công trình kiến trúc quân sự Thăng Long.
Cung điện trong thành được dựng thêm không ít. Ngay từ đời Trần Thái Tông đã xây thêm cung điện mới. Đại Việt sử ký toàn thư chép "Canh dần (1230)... Trong thành dựng cung điện, lầu gác và nhà lang vũ đông tây, bên tả là cung Thánh Từ (nơi Hoàng thượng ở), bên hữu là cung Quan Triều (nơi vua ở)". Tiếp tục những đời sau xây thêm khá nhiều. Đường sá phố phường có nhiều đổi thay.
Những lần chiến tranh, kẻ thù vào cướp phá Thăng Long ví như lần quân Chiêm Thành vào Thăng Long ngày 27 tháng 3 nhuận năm Tân Hợi (1371) đã "đốt phá cung điện cướp lấy con gái, ngọc lụa đem về", "giặc đốt cung điện, đồ thư trụi cả", khiến cho "Trong nước từ đấy sinh ra nhiều chuyện". Bộ mặt Thăng Long đổi thay to lớn, vẻ uy nghiêm, tráng lệ, sầm uất mất hẳn. Song những vòng thành, những dải hào ngoài thì, dù cũng có bị tàn phá phần nào, vẫn giữ được dáng vẻ cũ, vẫn hoàn toàn có thể sử dụng lại được.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Thời Nguyễn, năm 1803, Gia Long phá bỏ Hoàng Thành cũ, xây toà thành mới theo kiểu Vô-băng (Pháp), hình vuông, chu vi khoảng 5 km. Tường thành cao khoảng 4m, dày khoảng 16m, phía dưới xây bằng đá ong, đá xanh, phía trên bằng gạch hộp. Thành mở 5 cửa: Bắc, Tây, Đông, Đồng - Nam, Tây - Nam (1805). Bên trong, chính giữa hoàng cung có điện Kính Thiên, chỉ mở cửa khi vua ngự giá Bắc tuần, tiếp sứ thần phương Bắc. Phía trước điện Kính Thiên có Đoan Môn.
Trong chiến tranh và tại thực dân, Hoàng cung bị phá, chỉ còn: Bắc Môn, Đoan Môn, Hậu Lâu, thềm điện Kính Thiên, Cột cờ.
cờ.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Hiện nay còn lại:
Dấu tích kiến trúc thời Lý - Trần ở hố D4 - D6
Dấu vết nền cung điện thời Lý ở Hố A20
Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn
(xây trên nền Cửa Bắc thời Lê)
Cột cờ thành Hà Nội thời Nguyễn. Quang cảnh trước khi doanh trại binh lính Pháp được dựng lên xung quanh
Cột cờ Hà Nội
- Nam 2001, gi?i kh?o c? h?c du?c phộp do ? khu v?c quanh H?u Lõu v C?a B?c. Phớa du?i C?a B?c hi?n t?n, cỏc nh kh?o c? dó tỡm th?y m?t C?a B?c khỏc th?i Lờ, r?ng hon, chỡm sõu hon, dang r?i nylon l?p cỏt vựi l?i, ch? cụng cu?c khai qu?t quy mụ l?n hon. Cũn ? quanh H?u Lõu, dó tỡm th?y t?ng dỏ kờ chõn c?t ch?m hoa sen th?i Lý cựng nhi?u hi?n v?t khỏc th?i Lờ, nhung dó du?c "dựng l?i" v?i cụng nang khỏc. Kh?o c? h?c xỏc d?nh dõy cú th? l m?t cỏi b?n d?i ? Hong Thnh b?c, thụng v?i sụng Tụ L?ch (du?ng Quỏn Thỏnh - Th?y Khuờ).
- Điện Kính Thiên còn 4 bệ 9 bậc (cửu trùng) Rồng đá thời đầu Lê. “Cô Tư Hồng” đấu thầu phá thành, chỉ dùng gạch của thành cũ đã xây được vài khu phố mới ở đường Nguyễn Biểu - Đặng Dung nay, sau khi dùng phế tích lấp hồ Cổ Ngựa - cái hồ kéo dài Hồ Tây - hồ Trúc Bạch với hồ Hàng Đậu - hồ Hàng Khoai - hồ Hàng Đào nối với hồ Hoàn Kiếm qua Cầu Gỗ.
Đôi rồng đá thời Lý
- Ở phía bắc thì còn Chính Bắc Môn với một vết đạn chưa mờ trên Cửa Bắc. Vết tích trận giặc 1882 và việc ngài Hoàng Diệu tử tiết. Lùi vào một chút thì còn Hậu Lâu, Pháp gọi là “Lầu Công Chúa” mà kiến trúc đã bị làm biến dạng, lai căng đi rất nhiều rồi.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
- Ở phía nam, may mà còn Đoan Môn, năm cổng xây bằng đá, phía ngoài là cửa Tam Môn khoảng 1812 - 1814, triều Nguyễn Gia Long phá, xây Cột Cờ (nay vẫn còn sừng sững). Năm 2002, giới khảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong Đoan Môn đã tìm thấy “lối xưa xe ngựa” thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lý, con đường từ Đoan Môn. Phía nam là chợ Cửa Nam (cửa Đại Hưng (Nam) đã bị phá). Ngoài cửa Nam, còn có tên đất Đình Ngang (nơi dừng lại để soát xét giấy tờ, thẻ bài trước khi vào Hoàng Thành), Cấm Chỉ (dừng nơi khu cấm) và cái vườn hoa, thời Pháp thuộc có dựng tượng “Bà đầm xòe” .
- Ở phía đông, thì trên mặt đất còn di tích Đông Môn đình (Đình Cửa Đông) nay đeo biển số nhà 10 Hàng Cân và Đông Môn tự (Chùa Cửa Đông), nay đeo biển số nhà 38B Hàng Đường mà nhiều tấm bia cổ còn giữ được ở trong chùa có niên đại Lê - Nguyễn khẳng định là chùa được xây dựng ngay phía ngoài cửa Đông Hoa, Hoàng Thành Lê. Cửa Đông Hoa giữa số 4 (Đông Cung) và số 5 (Càn (Kiền) điện trên bản đồ, nay đánh số 4b) là ở nền nhà Hội quán Phúc Kiến phố Lãn Ông hiện nay. Các bia Gia Long, Tự Đức còn giữ trong nhà hội quán nói là “Mân thuyền” (thuyền đất Mân Phúc Kiến) đến Thăng Long buôn bán, mua được khu đất hoang, thuộc cửa Đông Hoa thời Lê cũ, xây nhà hội quán.
- Về phía tây Hoàng Thành Lê, thì còn chứng cứ: Khán Sơn. Toàn thư chép là ở góc tây bắc Hoàng Thành, nơi vua Lê Thánh Tông và các đại quan ngự xem (khán) quân sĩ tập trận (số 11 trên bản đồ). Thời Pháp thuộc, chính quyền Pháp sai san phẳng Khán Sơn làm nền, trên đó xây dựng trường trung học mang tên viên toàn quyền Albert Sarraut, nay được cải tạo, sửa thành trụ sở Trung ¬ng Đảng Céng s¶n ViÖt Nam.
Vườn hoa Cửa Nam nơi xưa kia có tượng "Bà Đầm Xoè"
- Năm 1889, khi thực dân Pháp mở vườn Bách Thảo có tìm thấy cột đá chạm rång suèt thân cột, đường kính cột 0,50 mét, cao trên 2 mét [11]. Đây là cây cột đá chạm rồng độc nhất ở nơi cung điện nhà vua trong thành Thăng Long đời Lý.
- Mắy năm đầu thế kỷ XX lại đào được ở phía tây vườn Bách Thảo lan can đá chạm sấu, hai bên lan can còn chạm hoa cúc dây mang phong cách Lý - Trần [12]. Đây cũng là lan can bậc lên xuống các cung điện nhà vua.
- Tháng 7-1932 đã tìm thấy một hộp nhỏ chạm hoa cúc dây, trong có một cán dao hình đầu con vẹt. Hai hiện vật đều bằng vàng tìm thấy ở độ sâu chừng 2 mét, nơi cổng vào trường Đua Ngựa [13].
- Vùng Ngọc Hà, Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Kim Mã v.v... hàng trăm năm nay thường tìm thấy đồ đất nung hình rồng, phượng, cầm thú v.v... Đó là những bộ phận vật liệu kiến trúc và trang trí kiến trúc mang phong cách Lý - Trần. Hàng vạn mảnh đồ sứ tráng men xanh, vàng, nâu cũng tìm được tại vùng này.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
- Chùa Một Cột nằm trong quần thể chùa Diên Hựu. Nằm trên đất làng Thanh Bảo, huyện quảng đức. Chùa được xây dựng năm 1049, đời vua Lý Thánh Tông (1049), c?u cho vua s?ng lõu. T?m bia Thiờn phự du? vu (1 121) trờn chựa D?i (H Nam - "Sựng thi?n diờn linh thỏp bi ký") núi chựa Diờn H?u du?c xõy d?ng l?i honh trỏng vo th?i Lý Nhõn Tụng.
Hu?ng tõy c?m chi danh viờn,
Quy?t Diờn H?u chi ng? t?
(Hu?ng v? khu vu?n n?i ti?ng phớa tõy c?m thnh
Xõy d?ng ngụi chựa ng? (c?a vua sai xõy - Diờn H?u).
Chựa M?t C?t nay, tr?i bao l?n tn phỏ, xõy d?ng l?i (cỏi hi?n th? chựa M?t C?t l du?c d?ng l?i thỏng 4/1955) nhung v?n ? d?a di?m nguyờn so.
V?y chựa M?t C?t l m?t di?m m?c ghi d?u C?m thnh th?i Lý.
Văn bia chùa Đọi ở Hà Nam viết về chùa ấy như sau : "Đào hồ thơm Linh Chiểu, giữa hồ vọt lên một cột đá, đỉnh cột nở đóa sen ngàn cánh, trên đó dựng một tòa điện đỏ sẫm, trong điện đặt pho tượng Phật bằng vàng, quanh hồ có hành lang bao bọc, ngoài hành lang có ao Bích Trì, có cầu vồng bắc qua, phía sân trước cầu hai bên tả hữu có bảo tháp lưu ly".
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
- Nói tới văn hóa nghệ thuật thời Lý trước hết phải nhắc tới bốn văn vật lớn vang bóng một thời, dưới tên gọi tứ đại khí, đó là tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên (dựng năm 1057) gồm 12 tầng, chuông Qui Điền (đúc năm 1101) và vạc Phổ Minh (được đúc vào thời Trần). Các văn vật ấy nay đều không còn.
- Cùng với những cung điện của Đại Nội Thăng Long, Đại Việt thời ấy có hàng trăm ngôi chùa lớn, hàng trăm pho tượng đẹp mà ngày nay chỉ còn lại một số rất ít, nhưng cũng đủ để nói lên sức sáng tạo nghệ thuật rực rỡ của một thời văn hóa Phật giáo huy hoàng.
- Vĩ đại nhất trong các chùa thời Lý là chùa Dạm, tức chùa Đại Lãm Thần Quang do nguyên phi Ỷ Lan cho xây dựng tại núi Dạm, ở Bắc Ninh, vào những năm 1086-1094. Bị phá hủy hoàn toàn năm 1947, qui mô đồ sộ của chùa còn thấy được ở bốn lớp nền dài tới 120 m, rộng 65 m, mỗi lớp chênh nhau từ 6 tới 8 m, với 25 bậc để lên xuống.
- Một trong những ngôi chùa đẹp nhất thời Lý là chùa Phật Tích, tức chùa Vạn Phúc, dựng năm 1057 trên núi Lạng Kha (Bắc Ninh), một quần thể kiến trúc trải dài trên ba lớp nền (60x40m), mỗi cấp chênh nhau khoảng 4-5 m, có bậc đá lên xuống. Bị phá hủy vào năm 1947, di tích còn lại là một số tác phẩm điêu khắc trên đá : tượng thú, tượng kim cương, tượng thần nửa người nửa chim, tảng đá kê chân cột… Đặc biệt chùa còn giữ được một kiệt tác bất hủ của nền mỹ thuật Việt Nam, đó là tượng A Di Đà, tạc bằng đá hoa cương xanh cao 1,87 m, tính cả bệ là 2,77 m : dáng Phật thanh tú, khoác áo cà sa, hai bàn tay để ngửa trong lòng, ngồi xếp bằng tham thiền nhập định ; tất cả tỏa ra một vẻ đẹp dịu dàng đầy nữ tính.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Ngôi mộ cổ thời Trần
Kiến trúc thời Lý
Cung điện Lý Trần
Giếng cổ thời Trần
Nền cung điện Lý
Mộ cổ thời Lý
Giếng cổ thời Đại La dấu vết cung điện thời Lý Trần
Dấu vết con đường trải sỏi hệ thống cống thoát nước của cung điện thời Lý - Trần
Toàn cảnh dấu tích kiến trúc thời Lý - Trần - Lê
Chi tiết đoạn cống thoát nước lớn thời Trần
Sân gạch nằm giữa hai thềm kiến trúc thời Lý
Gạch lát sân
Chân tảng đá kê cột thời Lý
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Phong cỏch ki?n trỳc phuong tõy du?c ti?p thu v t?n t?i súng song v?i phong cỏch truy?n th?ng phuong Tõy. Di?u dú du?c th? hi?n rừ qua cỏc cụng trỡnh:
Trụ sở Tài Chính
Hội chợ Đấu Xảo
Nhà hát lớn Hà Nội
Sở công an thành phố Hà Nội
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Trong th?i gian t? 1954 d?n nay,Cựng quỏ trỡnh h?i nh?p, nh?ng cụng trỡnh ki?n trỳc du?c xõy d?ng: Khỏch s?n, nh hng, cụng ty, nh mỏy xớ nghi?p... ph?c v? phỏt tri?n kinh t?, xó h?i c?a d?t nu?c. Cỏc cụng trỡnh ki?n trỳc khỏc v?n du?c gi? gỡn
Sân Vận động Mỹ ĐÌnh
Sân bay Nội Bài
Phố Cổ Hà Nội
III. Phát triển kinh tế đô thị:
- Thập tam trại là khu vực sản xuất nông nghiệp của Kinh thành được xây dựng ở phía Tây Hoàng thành: Ngọc Hà, Đại Yên, Vĩnh Phúc, Liễu Giai, ... Các nghề thủ công liên tục phát triển.
- Nghề gốm Bát Tràng có từ lâu đời. Sản phẩm gốm Bát Tràng thế kỉ XVI, XVII đã được trưng bày ở Bảo Tàng Mạc Phủ Đức Xuyên ở Kyoto. Phần nhiều là đồ thờ: Bát hương, bình hoa, cây đèn,... do những bậc kì mục cung tiến vào đình, đền, chùa. Tên những người cung tiến khăc thành từng hàng. Đôi khi có cả tên người thợ gốm. Đó là điều đặc biệt vì Việt Nam xưa, phần lớn những đồ gốm mang tính nghệ thuật đều không ghi tên người làm...
Tháp gốm hoa nâu thời Trần
Gốm sứ thời Trần
đầu rồng đất nung thời Trần
đầu rồng gỗ thời Trần
chậu gốm hoa nâu thời Trần
chiếc bát gốm đen thời Trần
Đồ gốm thời Lê
Đồ gốm thời Lê
Nắp hộp trang trí men lục thời Lý
Tượng phật Adida_Lý
Sứ trắng trang trí rồng thời Lý
Tượng phật chùa Phật Tích
Tháp chùa Chò
III. Phát triển kinh tế đô thị:
III. Phát triển kinh tế đô thị:
-Nghề đúc đồng Ngũ Xã là một trong bốn nghề thủ công mỹ nghệ hàng đầu của Thăng Long: "Lĩnh Hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã"
- Nghề kim hoàn (đúc và chạn trổ vàng bạc) cũng là nghề nổi tiếng do hội tụ được tinh hoa của bốn phương. Phố hàng Bạc hội tụ được thợ kim hoàn từ ba nơi: Định Công, Đồng Sâm, Trâu Khê.
III. Phát triển kinh tế đô thị:
- Thời Lý, dưới triều Lý Huệ Tông (1210 - 1224) nghề dệt được phát triển tại các địa phương miền Bắc, trong đó công chúa Thụ La là người nổi tiếng về dệt vải được nhà vua mời vào cung để dạy cho các cung nữ và công chúa.
- Thời Trần dưới triều Trần Anh Tông (1293 - 1314), bà Mỵ Châu là người đã có công qui tụ nhân dân lập vùng trồng bông, chăn tằm ở Yên Định - Thanh Hóa. Sau khi bà mất được lập đền thờ tại đây.
- Thời Lê, dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) bà Quỳnh Hoa công chúa là người đã mở rộng nghề trồng dâu nuôi tằm, được dân suy tôn là bà Chúa Tằm và tôn là Thành Hoàng ở vùng dệt Nghi Tàm - Hà Nội.
- Thời Nguyễn, các nghề dệt lụa, tằm tơ, nghề thêu...được mở rộng và phát triển tại các địa phương. Vào thời vua Minh Mạng (1820 - 1840), ông Trần Quý là người đã sử dụng những vật liệu ở vùng La Khê để dệt thành gấm, sản phẩm này được sử dụng nhiều trong các trang phục tại triều đình. Với chính sách phát triển các ngành kinh tế, nghề dệt đã được các vua đầu triều Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị đã ra các sắc chỉ lập các phường, cục để sản xuất chuyên ngành về tơ lụa, trồng dâu nuôi tằm.
- Sách Đại Nam Hội Điển Sự Lệ đã ghi rất rõ các địa phương có nghề này.
- Dệt lụa: có Gia Định, Định Tường, An Giang, Khánh Hòa.
- Dệt sa Nam: có vùng dệt La Khê - Từ Liêm, Hà Nội.
- Dệt sa nhỏ sợi: phát triển ở các xã thuộc huyện Thanh Hóa, Hà Tây.
- Dệt vải: Hà Nội có 9 xã thôn,Nam Định có 8 xã thôn, Sơn Tây có 26 xã thôn, Bắc Ninh có 26 xã thôn. Ngoài ra còn có nhiều làng xã thuộc các tỉnh Bình Thuận,Vĩnh Long, Quảng Nam, Thừa Thiên,Thanh Hóa, Hải Dương...
- Các địa phương trên đã sản xuất phục vụ việc buôn bán và hàng năm cung cấp hàng chục nghìn tấm vải, sa các loại để chế tác y phục và đồ dùng cho Hoàng gia.
- Từ các vật liệu trên nhà vua đã cho tuyển mộ những người thợ giỏi vào triều đình để may theo các quy cách mà nhà vua và bộ lễ quy định.
-Thời vua Gia Long thứ 3 và 13, vua xuống chỉ tuyển mộ lính vào trong Thự vệ may để phục vụ triều đình.
-Thời vua Minh Mạng năm thứ 6 (1825) và năm thứ 20 (1839) lấy lính vào may, sai các thợ trang trí hội họa vẽ trên vải để thêu và tuyển thợ nhuộm vải.
-Bên cạnh các sản phẩm được chế tác trong nước, cuối thế kỷ XIX do có sự giao lưu buôn bán với các nước nên có một số đồ dệt , nguyên liệu được nhập vào Việt Nam phục vụ các sinh hoạt của triều đình.
-Nguyên liệu chính dùng chế tác y phục bao gồm tơ lụa, gấm sa, kim tuyến, khuy (đồng, bạc, vàng, hổ phách, mã não...) các loại chỉ thêu, chỉ may.
-Các nguyên liệu trên được chế tác tùy theo mục đích đồ dùng và tính chất công việc. Các loại y phục thường được cắt may theo khổ vải đã dệt và để trơn sau đó may thành sản phẩm. Riêng đối với các y phục mặc đại triều... được chế tác tỉ mỉ, công phu hơn, sau khi may còn dệt các mẫu hình với nhiều lớp, nhiều màu khác nhau và đính các dãi kim tuyến, các hạt kim loại dát mỏng và hệ thống khuy bằng kim loại đồng, vàng, bạc.
- Y h?c: Nam du?c th?n hi?u (Tu? Tinh), B?n th?o th?c v?t toỏt y?u (Phan Phu Tiờn), H?i Thu?ng Lón ễng y tụng linh (Lờ H?u Trỏc)...
Toỏn h?c: D?i thnh toỏn phỏp (Luong Th? Vinh), L?p thnh toỏn phỏp (Vu H?u)...
- Quõn s?: Binh thu y?u lu?c (Tr?n Qu?c Tu?n)...
D?a lý: Du d?a chớ (Nguy?n Trói)...
L?ch s?:D?i Vi?t s? kớ (Lờ Van Huu), s?:D?i Vi?t s? kớ ton thu (Ngụ Si Liờn),...
Bỏch khoa ton thu d?u tiờn c?a nu?c ta: Thiờn nam du h? t?p (N?a sau th? k? XV), Võn di l?ai ng?, Ki?n van t?p l?c (Lờ Quý Dụn)...
Đại học Đông Dương được thành lập vào tháng 5 năm 1906 tại Hà nội. Đại học Đông Dương đáp ứng mong muốn của Jules Ferry “dành cho Đông Dương những cán bộ ngang tầm với sự phát triển kinh tế và văn hóa của Đông Dương”. Đại học Đông Dương cung cấp một tổng thể các tiết học và hội thảo cho các sinh viên đã nắm vững kiến thức phổ thông và có khả năng đảm nhiệm các công tác hành chính. Giáo dục được tổ chức theo ba khối : khoa học, pháp lý và văn học.
III. Phát triển kinh tế đô thị:
Đại học Y
III. Phát triển kinh tế đô thị:
IV. Quõn s?:
-Quân đội nhà Lý đã đạt đến một trình độ tổ chức và huấn luyện khá cao. Quân đội phiên chế thành các đơn vị: Quân, vệ và bao gồm các binh chủng: bộ binh, thủy binh, kỵ binh, tượng binh.
Trang bị quân đội, ngoài các loại vũ khí như giáo mác, cung nỏ, khiên v.v.. còn có thêm máy bắn đá.
-Đội quân chuyên bảo vệ cung điện của nhà vua, đóng xung quanh kinh thành, gọi là cấm vệ, mỗi quân 200 người, cộng 2.000 người, đặt tên là Quảng Thành, Quang Vũ, Ngự Long, Phủng Nhật, Trừng Hải. Năm 1059, đời vua Lý Thánh Tông, lại thêm sáu quân nữa. Cấm quân bấy giờ gồm có 16 quân, tổng cộng 3.200 người. Tên quân cũng đặt lại như sau: Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thông Điện, Phủng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược, Vạn Tiệp. Tất cả cấm quân đều thích trên trán 3 chữ "Thiên tử quân". Đứng đầu các tướng phụ trách cấm quân là chức thiếu úy. Toán quân trực ở trước điện vua do điện tiền đô chỉ huy sứ chỉ huy. Các vệ thì có các cấp tướng như: Tả hữu kim ngô vệ tướng quân, Kim ngô độ lãnh binh sứ, Tả hữu vệ tướng quân, Đinh thắng thượng tướng quân, Đại tướng quân, Tướng quân.
-Ngoài cấm quân, có quân các lộ, các phủ. Tất cả nhân dân đến tuổi hoàng nam (18 tuổi) đều phải đăng lính, nhưng vẫn được ở nhà cày bừa, mỗi tháng mới phải đi phiên một kỳ ngắn. Đó là chính sách ngụ binh ư nông (giữ quân lính ở nhà nông) vừa đảm bảo số quân cần thiết phòng khi không may có chiến tranh xảy tới. Các chức chỉ huy quân đội có: Đô thống, Nguyên soái, Thống quản, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng.
-Thời Lý Trần, vương quốc Đại Việt với mong muốn ổn định trật tự xã hội, sắp xếp chính quyền, đồng thời tăng cường lực lượng quân sự đủ sức đưa đất nước vượt qua các trở ngại bảo vệ nền độc lập dân tộc. ĐẶc biệt đến thời Trần, quân đội nhà Trần được phát triển và hoàn thiện theo mấy hướng sau:
-Về tổ chức, phiên chế. Quân chủ lực gồm cấm quân và quân các lộ. Quân các lộ ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh (phiên/phên - binh lính vùng phên dậu).
-Năm 1239, Trần Thái Tông hạ chiếu tuyển trai tráng làm binh lính, chia làm ba bậc thượng, trung, hạ. Nhà Trần đặc biệt chú ý cấm quân, gọi là quân túc vệ. Thường trực quân túc vệ đóng ở Thăng Long và ngoại vị có đến 5000 người. Năm 1246, thời điểm quan trọng đánh dấu một bước tiến lớn trong công cuộc xây dựng quân đội, đặc biệt là cấm quân. Cấm quân hầu hết được lựa chọn những người mạnh khoẻ, dẻo dai và được huấn luyện tinh thông một vài loại binh khí. Chủ yếu lấy người vùng Long Hưng (Thái Bình) và Thiên Trường (Nam Định) vì đây là quê nội, ngoại của nhà Trần.
Quân quấn vệ thời Trần:
Năm 1246, Trần Thái Tông đặt các vệ quân tứ thiên, tứ thánh, tứ thần:
- Quân các Thiên Trường, Long Hưng nhập vào quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh, Củng Thần. Đây là đạo quân tinh nhuệ nhất, tin cậy nhất của Nhà Trần.
- Quân các lộ Hồng Châu, Khoái Châu (quânthuộc vùng Hải Dương ngày nay) nhập vào các quân tả hữu Thánh Dực.
- Quân các lộ Trường Yên, Kiến Xương nhập vào các quân Thánh Dực, Thần Sách.
Năm 1267, Thánh Tông lập thêm Toàn Kim Cương đô, Chân Thượng đô, Cấm Vệ Thủy dạ xoa đô, Chân Kim đô. Sang thế kỉ XIV, cấm quân được tăng cường và phiên chế chặt chẽ:
- Năm 1311, Anh Tông lập thêm quân Vũ Tiệp.
Duệ Tông (1373- 1377) lập thêm các quân Uy Tiệp, Bảo Tiệp, Long Tiệp, Long Dực, Tả Ban, Hữu Ban.
- Năm 1378, Phế Đế lập thêm các quân Thần Dực, Thiên Uy, Hoa Ngạch, Thị Vệ, Thần Vũ, Thiên Thương, Thiết Giáp, Thiết Liêm, Thiết Hồ, Ô Đồ.
-Cấm quân ở kinh thành có thích chữ ````thiên tử quân```` vào trán, là do tôn thất hoặc là người được đặc biệt. tin tưởng như Phạng Ngũ Lão chỉ huy gọi là điện tiền chỉ huy sứ gọi tắt là điện súy). Chức phiêu kị tướng quân phải do chính hoàng tử nắm giữ. Trong chiến tranh chống Mông Nguyên thì toàn quân đặt dưới quyền của một vị tiết chế do quý tộc Trần Quốc Tuấn phụ trách. Cấm quân là nòng cốt cho các binh lính khác.
-Quân đội ở các địa phương chia làm các lộ quân, có khoảng 20 phong đoàn. Khi có chiến sự xảy ra, các lộ quân có thể huy động được vài ngàn người. Giữa thế kỉ XIV Dụ Tông ( 1341-1369) đặt thêm bình hải quân ở Hải Đông. Sang đời Duệ Tông (1373- 1377) lại tăng thêm số quân ở các lộ Thiên Trường, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Bình, Thuận Hoá. -Lúc thời bình, quân ở các lộ được ở nhà cày ruộng, theo một thời hạn nhất định thì tập trung huấn luyện, khi nào hữu sự mới dùng đến. Cách làm kiểu "ngụ binh ư nông" này rất thuận lợi, vừa tăng gia sản xuất, vừa cần kíp thì huy động được ngay.
-Ngoài ra, còn có lực lượng vũ trang của các quý tộc, hoàng thất, những người được phong đất đai, được ban tặng nô lệ... Họ có tiền và được tuyển mộ binh lính. Hầu hết là những người mồ côi, có tài nghệ (như Yết Kiêu, Dã Tượng: gia tướng của Trần Hưng Đạo), số này gọi là thân binh/gia binh.
- Thời Lê, Lê Thánh Tông ra sắc chỉ đầu tiên là chỉnh đốn lại quân đội, đôn đốc và thực hiện các bước để tăng cường các khả năng chiến đấu của các vệ quân năm đạo. Việc canh phòng và cảnh giác về vấn đề biên cương rất chặt chẽ và cẩn thận nên triều đình nhà Minh rất tôn trọng và có phần e ngại. Vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc. Lê Thánh Tông cải tổ quân đội mạnh mẽ về mặt tổ chức, trước đó quân đội chia làm 5 đạo vệ quân, nay đổi làm 5 phủ đô đốc. Mỗi phủ có vệ, sở. Bên cạnh còn có 2 đạo nội, ngoại, gồm nhiều ti, vệ. Ngoài tổ chức quân thường trực, Lê Thánh Tông còn chú ý lực lượng quân dự bị ở các địa phương. 43 điều quân chính là luật quân đội Lê Thánh Tông ban hành cho thấy kỷ luật quân đội của ông rất nghiêm ngặt, có sức chiến đấu cao.
IV. Quõn s?:
-Hồ Nguyên Trừng, con cả của Hồ Quý Ly không chỉ là vị tướng tài mà còn là một công trình sư lỗi lạc, được coi là ông tổ của nghề đúc súng thần công Việt Nam. Việc ông lập một phòng tuyến chống giặc bắt đầu cứ điểm then chốt Ða Bang (Ba Vì) kéo dài theo bờ nam sông Ðà, sông Hồng cho đến sông Ninh (Nam Hà) rồi lại tiếp tục theo bờ sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than dài trên 400 km, đã tỏ rõ ông là một nhà quân sự kiệt xuất, Hồ Nguyên Trừng cũng sáng tạo ra cách đánh độc đáo: ông cho đúc nhiều dây xích lớn chăng qua những khúc sông hiểm trở, kết hợp với quân mai phục trang bị những hoả lực mạnh, từng khiến cho thuỷ binh giặc nhiều phen khiếp đảm. Tuy vậy, nói đến Hồ Nguyên Trừng người ta thường nhắc đến công sáng chế ra súng “thần cơ ” của ông.
-Do yêu cầu chống giặc ngoại xâm, muốn có nhiều súng trang bị cho thành trì và các hạm đội, Hồ Nguyên Trừng đã phải gấp tổ chức những xưởng đúc lớn.Hồ Nguyên Trừng đã đúc kết những kinh nghiệm cổ truyền, phát minh, sáng chế ra nhiều loại súng có sức công phá sấm sét từ việc cải tiến súng, chế thuốc súng, hiểu rõ sức nổ của thuốc đạn Nguyên Trừng phát minh ra phương pháp đúc súng mới gọi là súng “Thần cơ”. Súng Thần Cơ của Nguyên Trừng có đầy đủ các bộ phận cơ bản của loại súng thần công ở những thế kỷ sau này. đúc kín có bộ phận ngòi cháy ở chỗ nhồi thuốc nổ. Ðạn pháo Nòng súng là một ống đúc bằng sắt hoặc bằng đồng. Phía đuôi súng được là mũi tên bằng sắt lớn. Khi bắn người ta nhồi thuốc súng phía đáy rồi đặt mũi tên vào giữa và nhồi loại đạn ghém bằng sắt và chì.
-Súng “Thần cơ” có nhiều loại: loại nhỏ dùng cho bộ binh bắn xa áng chừng 700 mét, Hồ Nguyên Trừng đặc biệt cho chế tạo nhiều loại thần cơ lớn gọi là “thần cơ pháo”. Thần cơ pháo thực chất là súng thần công cỡ lớn được đặt cố định trên thành hoặc trên xe kéo cơ động. Quân Minh bao phen kinh hoàng về loại súng này mà không hiểu nổi. Nhưng cuộc kháng chiến của Hồ thất bại vì không được dân ủng hộ. trong lúc giặc giương cao cờ “phù Trần diệt Hồ”. Giặc Minh bắt được nhiều súng “Thần Cơ”, bắt được cả nhà sáng chế ra nó. Trong “Vân Ðài loại ngữ”, Lê Quý Ðôn nhắc đến tình tiết: “quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng”.
- Nhà Nguyễn lại có một chỗ đứng hoàn toàn riêng rẽ về quân sự. Thoạt tiên, đoàn quân của họ rất nhỏ bé chỉ mong được thoát hiểm, gồm các đồng hương vùng Thanh Hóa, tương đối đồng nhất về khả năng và kinh nghiệm chuyên biệt về thủy chiến. Nếu được kể là từ khi Nguyễn Hoàng có quyết tâm khởi đầu cơ nghiệp cho đến khi họ Nguyễn đủ thế lực xưng Chúa, thành phần nòng cốt của họ đã chiến đấu sinh hoạt cạnh nhau trong vòng nhiều chục năm trời. Nhóm quân lính đó đặt cứ điểm trên Hạm đội, thường qua lại khắp các vùng biển Quảng Nam, Thuận Hoá, Nghệ An, Thanh Hóa và ra vào các sông ngòi miền châu thổ hai sông Hồng và Thái Bình, Bắc Đại Việt.
-Truyền thống thủy chiến được con cháu họ Nguyễn chuyên cần phát triển và nuôi dưỡng suốt một chiều dài lịch sử gần 350 năm, kéo theo con đường Nam Tiến của họ từ Thanh Hóa đến tận Phú Quốc Hà Tiên. Truyền thống này theo một vài sử gia chính là động lực lớn nhất đưa Nhà Nguyễn đến sự thành công trong việc mở mang bờ cõi, thống nhất giang sơn và duy trì được vương quyền sau nhiều cơn sóng gió.
Học hỏi Kỹ thuật Nhưng không Nệ Người Tây Phương
-Trình độ xâm nhập kỹ thuật Tây phương tăng tiến trong những năm đầu chinh chiến, nhưng ảnh hưởng cá nhân của bọn phiêu lưu người Pháp sụt xuống rõ rệt về sau này. Nguyễn Ánh dùng người Ngoại Quốc làm Cố Vấn nhưng Ông rất quyết đoán, không để Nam quân lệ thuộc vào họ.
Đời nhà Lê, các loại hoả khí, súng ống ngày một phong phú, phát triển không ngừng. Rất nhiều loại súng như: súng lửa, súng Bách Tử, súng Trên Ngựa, súng Báng Gỗ, súng Tiêu,súng Điểu Sang, súng Tích Sơn, súng Bắc Cơ Điểu Sang,…
Đạn dược gồm đạn chì, đạn đá, đạn gang.
Ở các triều đại sau,sung Thần Công của Đại Việt ngày càng đa dạng: Nhiều kiểu nòng to nhỏ,dài ngắn khác nhau. Quân đội đã biên chế đơn vị pháo binh gọi là Thần Cơ Doanh.
Năm 1858,người Việt lại chế ra kiểu xe Loại Bằng Thuỷ Hoả Kế,dung sức nước quay để giã luyện thuốc súng.
Năm1859,Tượng cục Vũ Khố Hoàng Văn Hiến chế tạo súng đồng, ráp, tháo rời nòng súng dễ dàng nhờ ren xoáy ở những đoạn nối, được vua khen thưởng.
Về sau, các vua Nguyễn lơi là việc binh bị, súng Thần Công không được cải tiến kĩ thuật, nên trở thàn lạc hậu so với các loại pháo bắn đạn nổ của phương Tây,kết quả khi giặc Pháp tấn công, triều đình Nguyễn đành thất thủ trước vũ khí hiện đại của họ…
IV. Quõn s?:
Các loại thuyền ở nước ta:
-Lâu thuyền: Thuyền 3 tầng do vua chỉ huy xuất trận
-Tẩu kha: Thuyền do nữ tướng chỉ huy, không dùng buồm, thân thon dài, trên có 3 cột cờ đại và 2 hàng cờ nheo dọc thân thuyền, phu chèo và thuỷ binh đều tinh nhuệ, lợi hại là đi như bay, đột kích bất ngờ, rút lui nhanh chóng.
-Du đĩnh: Thuyền có nhiều tầng to cao, trên có mái che với hàng dọc cờ xí, chứa nhiều quân cung thủ, quan sát giặc từ xa, lợi hại khi đổ quân, đánh úp.
-Mông xung: Không buồm, không cờ quạt, mui tròn căng phủ da trâu khiến tên đạn không xuyên thủng đwocj. Khoét nhiều lỗ tò vò để bắn cung nỏ, đâm giáo khi tiếp cận thuyền giặc. Chèo tới lui nhanh chóng.
-Khai lãng: Hai đầu thuyền cong vút như chim bay, 4 chèo 1 lái, chứa đến 50 quân, nước thuận nghịch đều xoay xở dễ dàng, 3 cột buồm, cột giữa cao có đài quan sát, bắn cung tên
Tàu buồm cỡ tàu Phấn Trắng
IV. Quõn s?:
- Tuy ra đời rất sớm và có quá trình phát triển lâu dài hàng ngàn năm nhưng loại vũ khí sử dụng sức lực con người hầu như ít có sự tiến bộ về cấu tạo nên hiệu quả không cao, dần dần bị sự phát triển của loại vũ khí sử dụng thuốc nổ thay thế. Thuật ngữ gọi hai loại vũ khí này là Bạch khí và Hỏa khí.
- Nước ta trong suốt các triều đại Lý – Trần – Lê không khi nào quên việc sửa sang võ bị để tăng cường khả năng chống giặc ngoại xâm. Ngay trong thời bình nhiều nhà vua đã xuống chiếu nhắc nhở tướng sĩ không được lơ là phòng thủ quốc gia, phải chăm lo rèn binh luyện tướng, đóng chiến thuyền và rèn vũ khí. Binh thư yếu lược viết “ Cái đạo mạnh binh để chiến thắng có 5 điều: Sửa sang binh khí; Có đủ quân lính và xe cộ; Súc tích nhiều; Rèn luyện sĩ tốt; Kén được tướng giỏi”. Như vậy, “sửa sang binh khí” là điều quan trọng đầu tiên.
- Trong lịch sử nước ta, trang bị bạch khí cho quân đội phát triển nhất vào thời Lê, thế kỷ XV – XVI. Đến thế kỷ XVIII loại bạch khí phổ biến nhiều loại thông dụng. Theo Hội Điển của triều Nguyễn thì đến giữa thế kỷ XIX phần lớn binh lính của triều đình ra trận còn trang bị bằng bạch khí. Quân đội Tây Sơn tuy đã có pháo và một số loại hỏa khí nhưng về cơ bản vẫn trang bị bạch khí là chính.
Vũ khí cổ Việt Nam có thể chia thành các loại theo chức năng vận hành và hình dáng, gồm có:
- Bạch khí: vũ khí đánh gần, vũ khí đánh xa, vũ khí phòng ngự.
- Hỏa khí: súng lệnh, súng thần công, đạn đá, đạn gang.
* Bạch khí.
- Về giáo: có giáo có chuôi hoặc họng tra cán, mũi giáo hình búp đa, hình ngòi bút, hình lá lúa, giáo có ngạnh ở thân. Giáo có thể tra cán ngắn hay dài đến hơn 2m (giáo trường) nên họng tra cán hay chuôi lắp cán đặc biệt cần vững chắc. Kích thước chung của các loại giáo: dài toàn thân từ 29 – 44cm, rộng lưỡi từ 3 - 4,4cm, nặng từ 250 – 540gr. Riêng giáo có ngạnh ở thân dài từ 23 – 40cm, nặng 100 – 320gr, thân giáo có tiết diện vuông thon dần về mũi, ngạnh vuông ở gần mũi nhọn. Ngạnh vuông nhọn dài khoảng 1,5 - 2cm. Chuôi giáo có lỗ chốt đinh để gắn vào cán.
- Mũi trường: là loại giáo có cán rất dài có thể đến 4m, tác dụng dùng để đâm với lực rất mạnh. Mũi trường có tiết diện hình vuông chia thành hai phần rõ rệt là mũi và chuôi tra cán. Kích thước chung: dài từ 40 – 64cm, tiết diện mũi 1,4 x 1,4cm, nặng từ 300 – 520gr.
Vũ khí đánh xa. Gồm có lao, móc câu, mũi tên. Đây là loại vũ khí có khả năng sát thương đối phương trong khoảng cách xa, sức đẩy vũ khí đi xa do sức của con người, và sức đẩy cơ học.
- Lao: Phần đầu của lao giống mũi tên có cánh lớn , có 2,3 ngạnh, họng tra cán dài, kích thước trung bình 20 – 26cm, nặng khoảng 100 – 120gr.
- Móc câu chùm: hình dáng giống chiếc mỏ neo nhưng có 3 móc câu uốn cong lên, dùng để quăng, móc. Tiết diện thân hình chữ nhật, móc cong tiết diện hình tròn.
- Mũi tên: dùng với cung, nỏ, loại vũ khí đánh xa
-Cửa Tường Phù mở ra phía Chợ Đông và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mã. Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay. Cửa Diệu Đức nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay. Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia. Trong đời Lý, các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm.
-Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của Kinh Thành. Phía ngoài, cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú, buôn bán, làm ăn của dân chúng gồm các bến chợ, phố phường và thôn trại nông nghiệp. Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại La hay La Thành.
I.Quy hoạch đô thị:
-Thăng Long thời Lý có 61 phường như An Hoa, Kim Cổ, Đường Nhân, Hàng Đào, Xã Đàn... -Thời Lê, Thăng long có 36 phố phường buôn bán sầm uất, nổi tiếng trong nước về "khéo tay hay nghề, đất lề kẻ Chợ".
-Thành Đại La phía đông chạy dọc theo hữu ngạn sông Nhị như một đoạn đê của sông này từ Bến Nứa đến Ô Đống Mác, phía bắc dựa theo hữu ngạn sông Tô Lịch phía nam Hồ Tây từ Bưởi đến Hàng Buồm ngày nay, phía tây theo tả ngạn sông Tô Lịch từ Bưởi đến Ô Cầu Giấy, phía nam theo sông Kim Ngưu qua Giảng Võ, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền, đến Ô Đống Mác. Thành Đại La đời Lý mở các cửa: Triều Đông (dốc Hòe Nhai), Tây Dương (Cầu Giấy), Trường Quảng (Ô Chợ Dừa), Cửa Nam (Ô Cầu Dền), Vạn Xuân (Ô Đống Mác). Thành Đại La được bao bọc mặt ngoài bởi ba con sông: sông Nhị, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu và được tận dụng như những con hào tự nhiên
- Khoảng những năm 80 của thế kỉ XIX, bên cạnh khu phố cổ, Pháp cho xây dựng một số nhà cửa trên khu nhượng địa dọc theo mạn bờ sông thuộc khu vực Đồn Thuỷ (nay là khu phố Tây). Năm 1890, , khu phố Tây được xây dựng tới nay là khu phố Trần Hưng Đạo. Năm 1915, mạng lưới đường phố đo thị đã rõ nét hẳn. Phía Nam xuống tới khu vực hồ Thiền Quang, hồ Bảy Mẫu. Quy hoạch thành phố năm 1925, phía Tây được mở rộng đến khu vực hàng Đẫy và hàng Cỏ.
Cầu Long Biên
I.Quy hoạch đô thị:
Phố phường Hà Nội
Phố Hàng Da
Phố Hàng Thiếc
Phố Thợ Rèn (Phố Lò Rèn)
Phố Hàng Cót
Phố Bát Sứ
Cổng đền Quán Thánh trên đường Cổ Ngư
Cổng chùa Láng – Hà Nội
Đền Ngọc Sơn
Hồ Trúc Bạch
Bia Tiến sĩ
Chùa Láng
Chùa Báo Ân
Ấp Thái Hà
Khuê Văn Các
I.Quy hoạch đô thị:
Tượng Chu Văn An
Trống cái khu Thái Học
Khuê Văn Các
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Công trình kiến trúc Thăng Long chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho Giáo, Phật Giáo, tư tưởng triết học phương Đông: Thuyết âm- dương, thuyết Ngũ hành, sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người.
Thể hiện rõ nét đẹp của tâm hông và tư tưởng của người Việt: Coi trọng trí thức, tôn thờ người có công với đất nước
Đến cuối năm 1010, 8 điện 3 cung đã hoàn thành. Những năm sau, một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm. Một vòng thành bao quanh các cung điện cũng được xây đắp trong năm đầu, gọi là Long Thành hay Phượng Thành. Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này. Thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở 4 cửa: Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại Hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc. Cửa Tường Phù mở ra phía Chợ Đông và khu phố buôn bán tấp nập của phường Giang Khẩu và đền Bạch Mã. Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay. Cửa Diệu Đức nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay.
Mùa thu Kỷ Dậu ( 1009), Nhà Lý đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua, triều đình và hoàng gia. Trung tâm là điện Càn Nguyên, nơi thiết triều của nhà vua, hai bên có điện Tập Hiền và Giảng Võ, phía sau là điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ.
Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia. Trong đời Lý, các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
- Đời Lê, vòng ngoài thành vẫn mang tên thành Đại La. Vòng thứu hai chính thức được gọi là Hoàng Thành. Vòng thành trong cùng được gọi là Cung Thành.
Năm 1014, nhà Lý xây vòng thành ngoài cùng. Vũng thnh ny v?a lm ch?c nang thnh lu? b?o v?, v?a l dờ ngan lu l?t. Thnh du?c d?p m?i v cú t?n d?ng, tu b? m?t ph?n thnh D?i La cu d?i Du?ng. Thnh D?i La phớa dụng ch?y d?c theo h?u ng?n sụng Nh? nhu m?t do?n dờ c?a sụng ny t? B?n N?a d?n ễ D?ng Mỏc, phớa b?c d?a theo h?u ng?n sụng Tụ L?ch phớa nam H? Tõy t? Bu?i d?n Hng Bu?m ngy nay, phớa tõy theo t? ng?n sụng Tụ L?ch t? Bu?i d?n ễ C?u Gi?y, phớa nam theo sụng Kim Nguu qua Gi?ng Vừ, ễ Ch? D?a, ễ C?u D?n, d?n ễ D?ng Mỏc. Thnh D?i La d?i Lý m? cỏc c?a: Tri?u Dụng (d?c Hũe Nhai), Tõy Duong (C?u Gi?y), Tru?ng Qu?ng (ễ Ch? D?a), C?a Nam (ễ C?u D?n), V?n Xuõn (ễ D?ng Mỏc). Thnh D?i La du?c bao b?c m?t ngoi b?i ba con sụng: sụng Nh?, sụng Tụ L?ch, sụng Kim Nguu v du?c t?n d?ng nhu nh?ng con ho t? nhiờn.
- Cuộc thay triều đổi đại từ triều Lý sang triều Trần đã diễn ra ở kinh đô Thăng Long cuéc nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng cho chồng là Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông) vào năm 1225.
- Cuộc đảo chính đó làm kinh đô của đất nước hầu như không bị xáo động. Ngay cả cái tên kinh đô: Thăng Long, cũng tồn tại nguyên vẹn; cho mãi tới cuối triều Trần, khi mà Hồ Quý Ly cho xây dựng thành Tây Đô để chuẩn bị cướp ngôi nhà Trần, kinh thành Thăng Long mới được gọi thêm tên mới là Đông Đô nhằm phân biệt với Tây Đô.
- Nhà Trần tiếp thu toàn bộ mọi tài sản của kinh đô nhà Lý rồi tiếp tục tu bổ xây dựng theo yêu cầu mới.
- Vòng thành Đại La có lúc mở rộng thêm, có hồi dựng thêm rào trại củng cố việc phòng thủ chung cho cả kinh thành. Tuy nhiên về cơ bản vòng thành này vẫn không có gì thay đổi về cả hình dáng, kỹ thuật kiến trúc lẫn chức năng của nó.
- Đáng chú ý có vòng thành trong cùng được đắp từ thời Lý gọi là Long Thành. ë thời Lý, Long Thành mới được đắp như một vòng tường bao quanh một số cung điện nơi vua ở và làm việc.
- Tới thời Trần, vòng thành này được đắp thêm kiên cố và có đặt quân canh gác nghiêm mật. Vòng thành đã mang hoàn toàn tính chất quân sự và trở thành vòng tường thứ ba của công trình kiến trúc quân sự Thăng Long.
Cung điện trong thành được dựng thêm không ít. Ngay từ đời Trần Thái Tông đã xây thêm cung điện mới. Đại Việt sử ký toàn thư chép "Canh dần (1230)... Trong thành dựng cung điện, lầu gác và nhà lang vũ đông tây, bên tả là cung Thánh Từ (nơi Hoàng thượng ở), bên hữu là cung Quan Triều (nơi vua ở)". Tiếp tục những đời sau xây thêm khá nhiều. Đường sá phố phường có nhiều đổi thay.
Những lần chiến tranh, kẻ thù vào cướp phá Thăng Long ví như lần quân Chiêm Thành vào Thăng Long ngày 27 tháng 3 nhuận năm Tân Hợi (1371) đã "đốt phá cung điện cướp lấy con gái, ngọc lụa đem về", "giặc đốt cung điện, đồ thư trụi cả", khiến cho "Trong nước từ đấy sinh ra nhiều chuyện". Bộ mặt Thăng Long đổi thay to lớn, vẻ uy nghiêm, tráng lệ, sầm uất mất hẳn. Song những vòng thành, những dải hào ngoài thì, dù cũng có bị tàn phá phần nào, vẫn giữ được dáng vẻ cũ, vẫn hoàn toàn có thể sử dụng lại được.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Thời Nguyễn, năm 1803, Gia Long phá bỏ Hoàng Thành cũ, xây toà thành mới theo kiểu Vô-băng (Pháp), hình vuông, chu vi khoảng 5 km. Tường thành cao khoảng 4m, dày khoảng 16m, phía dưới xây bằng đá ong, đá xanh, phía trên bằng gạch hộp. Thành mở 5 cửa: Bắc, Tây, Đông, Đồng - Nam, Tây - Nam (1805). Bên trong, chính giữa hoàng cung có điện Kính Thiên, chỉ mở cửa khi vua ngự giá Bắc tuần, tiếp sứ thần phương Bắc. Phía trước điện Kính Thiên có Đoan Môn.
Trong chiến tranh và tại thực dân, Hoàng cung bị phá, chỉ còn: Bắc Môn, Đoan Môn, Hậu Lâu, thềm điện Kính Thiên, Cột cờ.
cờ.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Hiện nay còn lại:
Dấu tích kiến trúc thời Lý - Trần ở hố D4 - D6
Dấu vết nền cung điện thời Lý ở Hố A20
Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn
(xây trên nền Cửa Bắc thời Lê)
Cột cờ thành Hà Nội thời Nguyễn. Quang cảnh trước khi doanh trại binh lính Pháp được dựng lên xung quanh
Cột cờ Hà Nội
- Nam 2001, gi?i kh?o c? h?c du?c phộp do ? khu v?c quanh H?u Lõu v C?a B?c. Phớa du?i C?a B?c hi?n t?n, cỏc nh kh?o c? dó tỡm th?y m?t C?a B?c khỏc th?i Lờ, r?ng hon, chỡm sõu hon, dang r?i nylon l?p cỏt vựi l?i, ch? cụng cu?c khai qu?t quy mụ l?n hon. Cũn ? quanh H?u Lõu, dó tỡm th?y t?ng dỏ kờ chõn c?t ch?m hoa sen th?i Lý cựng nhi?u hi?n v?t khỏc th?i Lờ, nhung dó du?c "dựng l?i" v?i cụng nang khỏc. Kh?o c? h?c xỏc d?nh dõy cú th? l m?t cỏi b?n d?i ? Hong Thnh b?c, thụng v?i sụng Tụ L?ch (du?ng Quỏn Thỏnh - Th?y Khuờ).
- Điện Kính Thiên còn 4 bệ 9 bậc (cửu trùng) Rồng đá thời đầu Lê. “Cô Tư Hồng” đấu thầu phá thành, chỉ dùng gạch của thành cũ đã xây được vài khu phố mới ở đường Nguyễn Biểu - Đặng Dung nay, sau khi dùng phế tích lấp hồ Cổ Ngựa - cái hồ kéo dài Hồ Tây - hồ Trúc Bạch với hồ Hàng Đậu - hồ Hàng Khoai - hồ Hàng Đào nối với hồ Hoàn Kiếm qua Cầu Gỗ.
Đôi rồng đá thời Lý
- Ở phía bắc thì còn Chính Bắc Môn với một vết đạn chưa mờ trên Cửa Bắc. Vết tích trận giặc 1882 và việc ngài Hoàng Diệu tử tiết. Lùi vào một chút thì còn Hậu Lâu, Pháp gọi là “Lầu Công Chúa” mà kiến trúc đã bị làm biến dạng, lai căng đi rất nhiều rồi.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
- Ở phía nam, may mà còn Đoan Môn, năm cổng xây bằng đá, phía ngoài là cửa Tam Môn khoảng 1812 - 1814, triều Nguyễn Gia Long phá, xây Cột Cờ (nay vẫn còn sừng sững). Năm 2002, giới khảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong Đoan Môn đã tìm thấy “lối xưa xe ngựa” thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lý, con đường từ Đoan Môn. Phía nam là chợ Cửa Nam (cửa Đại Hưng (Nam) đã bị phá). Ngoài cửa Nam, còn có tên đất Đình Ngang (nơi dừng lại để soát xét giấy tờ, thẻ bài trước khi vào Hoàng Thành), Cấm Chỉ (dừng nơi khu cấm) và cái vườn hoa, thời Pháp thuộc có dựng tượng “Bà đầm xòe” .
- Ở phía đông, thì trên mặt đất còn di tích Đông Môn đình (Đình Cửa Đông) nay đeo biển số nhà 10 Hàng Cân và Đông Môn tự (Chùa Cửa Đông), nay đeo biển số nhà 38B Hàng Đường mà nhiều tấm bia cổ còn giữ được ở trong chùa có niên đại Lê - Nguyễn khẳng định là chùa được xây dựng ngay phía ngoài cửa Đông Hoa, Hoàng Thành Lê. Cửa Đông Hoa giữa số 4 (Đông Cung) và số 5 (Càn (Kiền) điện trên bản đồ, nay đánh số 4b) là ở nền nhà Hội quán Phúc Kiến phố Lãn Ông hiện nay. Các bia Gia Long, Tự Đức còn giữ trong nhà hội quán nói là “Mân thuyền” (thuyền đất Mân Phúc Kiến) đến Thăng Long buôn bán, mua được khu đất hoang, thuộc cửa Đông Hoa thời Lê cũ, xây nhà hội quán.
- Về phía tây Hoàng Thành Lê, thì còn chứng cứ: Khán Sơn. Toàn thư chép là ở góc tây bắc Hoàng Thành, nơi vua Lê Thánh Tông và các đại quan ngự xem (khán) quân sĩ tập trận (số 11 trên bản đồ). Thời Pháp thuộc, chính quyền Pháp sai san phẳng Khán Sơn làm nền, trên đó xây dựng trường trung học mang tên viên toàn quyền Albert Sarraut, nay được cải tạo, sửa thành trụ sở Trung ¬ng Đảng Céng s¶n ViÖt Nam.
Vườn hoa Cửa Nam nơi xưa kia có tượng "Bà Đầm Xoè"
- Năm 1889, khi thực dân Pháp mở vườn Bách Thảo có tìm thấy cột đá chạm rång suèt thân cột, đường kính cột 0,50 mét, cao trên 2 mét [11]. Đây là cây cột đá chạm rồng độc nhất ở nơi cung điện nhà vua trong thành Thăng Long đời Lý.
- Mắy năm đầu thế kỷ XX lại đào được ở phía tây vườn Bách Thảo lan can đá chạm sấu, hai bên lan can còn chạm hoa cúc dây mang phong cách Lý - Trần [12]. Đây cũng là lan can bậc lên xuống các cung điện nhà vua.
- Tháng 7-1932 đã tìm thấy một hộp nhỏ chạm hoa cúc dây, trong có một cán dao hình đầu con vẹt. Hai hiện vật đều bằng vàng tìm thấy ở độ sâu chừng 2 mét, nơi cổng vào trường Đua Ngựa [13].
- Vùng Ngọc Hà, Vạn Phúc, Hữu Tiệp, Kim Mã v.v... hàng trăm năm nay thường tìm thấy đồ đất nung hình rồng, phượng, cầm thú v.v... Đó là những bộ phận vật liệu kiến trúc và trang trí kiến trúc mang phong cách Lý - Trần. Hàng vạn mảnh đồ sứ tráng men xanh, vàng, nâu cũng tìm được tại vùng này.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
- Chùa Một Cột nằm trong quần thể chùa Diên Hựu. Nằm trên đất làng Thanh Bảo, huyện quảng đức. Chùa được xây dựng năm 1049, đời vua Lý Thánh Tông (1049), c?u cho vua s?ng lõu. T?m bia Thiờn phự du? vu (1 121) trờn chựa D?i (H Nam - "Sựng thi?n diờn linh thỏp bi ký") núi chựa Diờn H?u du?c xõy d?ng l?i honh trỏng vo th?i Lý Nhõn Tụng.
Hu?ng tõy c?m chi danh viờn,
Quy?t Diờn H?u chi ng? t?
(Hu?ng v? khu vu?n n?i ti?ng phớa tõy c?m thnh
Xõy d?ng ngụi chựa ng? (c?a vua sai xõy - Diờn H?u).
Chựa M?t C?t nay, tr?i bao l?n tn phỏ, xõy d?ng l?i (cỏi hi?n th? chựa M?t C?t l du?c d?ng l?i thỏng 4/1955) nhung v?n ? d?a di?m nguyờn so.
V?y chựa M?t C?t l m?t di?m m?c ghi d?u C?m thnh th?i Lý.
Văn bia chùa Đọi ở Hà Nam viết về chùa ấy như sau : "Đào hồ thơm Linh Chiểu, giữa hồ vọt lên một cột đá, đỉnh cột nở đóa sen ngàn cánh, trên đó dựng một tòa điện đỏ sẫm, trong điện đặt pho tượng Phật bằng vàng, quanh hồ có hành lang bao bọc, ngoài hành lang có ao Bích Trì, có cầu vồng bắc qua, phía sân trước cầu hai bên tả hữu có bảo tháp lưu ly".
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
- Nói tới văn hóa nghệ thuật thời Lý trước hết phải nhắc tới bốn văn vật lớn vang bóng một thời, dưới tên gọi tứ đại khí, đó là tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, tháp Báo Thiên (dựng năm 1057) gồm 12 tầng, chuông Qui Điền (đúc năm 1101) và vạc Phổ Minh (được đúc vào thời Trần). Các văn vật ấy nay đều không còn.
- Cùng với những cung điện của Đại Nội Thăng Long, Đại Việt thời ấy có hàng trăm ngôi chùa lớn, hàng trăm pho tượng đẹp mà ngày nay chỉ còn lại một số rất ít, nhưng cũng đủ để nói lên sức sáng tạo nghệ thuật rực rỡ của một thời văn hóa Phật giáo huy hoàng.
- Vĩ đại nhất trong các chùa thời Lý là chùa Dạm, tức chùa Đại Lãm Thần Quang do nguyên phi Ỷ Lan cho xây dựng tại núi Dạm, ở Bắc Ninh, vào những năm 1086-1094. Bị phá hủy hoàn toàn năm 1947, qui mô đồ sộ của chùa còn thấy được ở bốn lớp nền dài tới 120 m, rộng 65 m, mỗi lớp chênh nhau từ 6 tới 8 m, với 25 bậc để lên xuống.
- Một trong những ngôi chùa đẹp nhất thời Lý là chùa Phật Tích, tức chùa Vạn Phúc, dựng năm 1057 trên núi Lạng Kha (Bắc Ninh), một quần thể kiến trúc trải dài trên ba lớp nền (60x40m), mỗi cấp chênh nhau khoảng 4-5 m, có bậc đá lên xuống. Bị phá hủy vào năm 1947, di tích còn lại là một số tác phẩm điêu khắc trên đá : tượng thú, tượng kim cương, tượng thần nửa người nửa chim, tảng đá kê chân cột… Đặc biệt chùa còn giữ được một kiệt tác bất hủ của nền mỹ thuật Việt Nam, đó là tượng A Di Đà, tạc bằng đá hoa cương xanh cao 1,87 m, tính cả bệ là 2,77 m : dáng Phật thanh tú, khoác áo cà sa, hai bàn tay để ngửa trong lòng, ngồi xếp bằng tham thiền nhập định ; tất cả tỏa ra một vẻ đẹp dịu dàng đầy nữ tính.
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Ngôi mộ cổ thời Trần
Kiến trúc thời Lý
Cung điện Lý Trần
Giếng cổ thời Trần
Nền cung điện Lý
Mộ cổ thời Lý
Giếng cổ thời Đại La dấu vết cung điện thời Lý Trần
Dấu vết con đường trải sỏi hệ thống cống thoát nước của cung điện thời Lý - Trần
Toàn cảnh dấu tích kiến trúc thời Lý - Trần - Lê
Chi tiết đoạn cống thoát nước lớn thời Trần
Sân gạch nằm giữa hai thềm kiến trúc thời Lý
Gạch lát sân
Chân tảng đá kê cột thời Lý
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Phong cỏch ki?n trỳc phuong tõy du?c ti?p thu v t?n t?i súng song v?i phong cỏch truy?n th?ng phuong Tõy. Di?u dú du?c th? hi?n rừ qua cỏc cụng trỡnh:
Trụ sở Tài Chính
Hội chợ Đấu Xảo
Nhà hát lớn Hà Nội
Sở công an thành phố Hà Nội
II.Kiến trúc và xây dựng đô thị:
Trong th?i gian t? 1954 d?n nay,Cựng quỏ trỡnh h?i nh?p, nh?ng cụng trỡnh ki?n trỳc du?c xõy d?ng: Khỏch s?n, nh hng, cụng ty, nh mỏy xớ nghi?p... ph?c v? phỏt tri?n kinh t?, xó h?i c?a d?t nu?c. Cỏc cụng trỡnh ki?n trỳc khỏc v?n du?c gi? gỡn
Sân Vận động Mỹ ĐÌnh
Sân bay Nội Bài
Phố Cổ Hà Nội
III. Phát triển kinh tế đô thị:
- Thập tam trại là khu vực sản xuất nông nghiệp của Kinh thành được xây dựng ở phía Tây Hoàng thành: Ngọc Hà, Đại Yên, Vĩnh Phúc, Liễu Giai, ... Các nghề thủ công liên tục phát triển.
- Nghề gốm Bát Tràng có từ lâu đời. Sản phẩm gốm Bát Tràng thế kỉ XVI, XVII đã được trưng bày ở Bảo Tàng Mạc Phủ Đức Xuyên ở Kyoto. Phần nhiều là đồ thờ: Bát hương, bình hoa, cây đèn,... do những bậc kì mục cung tiến vào đình, đền, chùa. Tên những người cung tiến khăc thành từng hàng. Đôi khi có cả tên người thợ gốm. Đó là điều đặc biệt vì Việt Nam xưa, phần lớn những đồ gốm mang tính nghệ thuật đều không ghi tên người làm...
Tháp gốm hoa nâu thời Trần
Gốm sứ thời Trần
đầu rồng đất nung thời Trần
đầu rồng gỗ thời Trần
chậu gốm hoa nâu thời Trần
chiếc bát gốm đen thời Trần
Đồ gốm thời Lê
Đồ gốm thời Lê
Nắp hộp trang trí men lục thời Lý
Tượng phật Adida_Lý
Sứ trắng trang trí rồng thời Lý
Tượng phật chùa Phật Tích
Tháp chùa Chò
III. Phát triển kinh tế đô thị:
III. Phát triển kinh tế đô thị:
-Nghề đúc đồng Ngũ Xã là một trong bốn nghề thủ công mỹ nghệ hàng đầu của Thăng Long: "Lĩnh Hoa Yên Thái, đồ gốm Bát Tràng, thợ vàng Định Công, thợ đồng Ngũ Xã"
- Nghề kim hoàn (đúc và chạn trổ vàng bạc) cũng là nghề nổi tiếng do hội tụ được tinh hoa của bốn phương. Phố hàng Bạc hội tụ được thợ kim hoàn từ ba nơi: Định Công, Đồng Sâm, Trâu Khê.
III. Phát triển kinh tế đô thị:
- Thời Lý, dưới triều Lý Huệ Tông (1210 - 1224) nghề dệt được phát triển tại các địa phương miền Bắc, trong đó công chúa Thụ La là người nổi tiếng về dệt vải được nhà vua mời vào cung để dạy cho các cung nữ và công chúa.
- Thời Trần dưới triều Trần Anh Tông (1293 - 1314), bà Mỵ Châu là người đã có công qui tụ nhân dân lập vùng trồng bông, chăn tằm ở Yên Định - Thanh Hóa. Sau khi bà mất được lập đền thờ tại đây.
- Thời Lê, dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) bà Quỳnh Hoa công chúa là người đã mở rộng nghề trồng dâu nuôi tằm, được dân suy tôn là bà Chúa Tằm và tôn là Thành Hoàng ở vùng dệt Nghi Tàm - Hà Nội.
- Thời Nguyễn, các nghề dệt lụa, tằm tơ, nghề thêu...được mở rộng và phát triển tại các địa phương. Vào thời vua Minh Mạng (1820 - 1840), ông Trần Quý là người đã sử dụng những vật liệu ở vùng La Khê để dệt thành gấm, sản phẩm này được sử dụng nhiều trong các trang phục tại triều đình. Với chính sách phát triển các ngành kinh tế, nghề dệt đã được các vua đầu triều Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị đã ra các sắc chỉ lập các phường, cục để sản xuất chuyên ngành về tơ lụa, trồng dâu nuôi tằm.
- Sách Đại Nam Hội Điển Sự Lệ đã ghi rất rõ các địa phương có nghề này.
- Dệt lụa: có Gia Định, Định Tường, An Giang, Khánh Hòa.
- Dệt sa Nam: có vùng dệt La Khê - Từ Liêm, Hà Nội.
- Dệt sa nhỏ sợi: phát triển ở các xã thuộc huyện Thanh Hóa, Hà Tây.
- Dệt vải: Hà Nội có 9 xã thôn,Nam Định có 8 xã thôn, Sơn Tây có 26 xã thôn, Bắc Ninh có 26 xã thôn. Ngoài ra còn có nhiều làng xã thuộc các tỉnh Bình Thuận,Vĩnh Long, Quảng Nam, Thừa Thiên,Thanh Hóa, Hải Dương...
- Các địa phương trên đã sản xuất phục vụ việc buôn bán và hàng năm cung cấp hàng chục nghìn tấm vải, sa các loại để chế tác y phục và đồ dùng cho Hoàng gia.
- Từ các vật liệu trên nhà vua đã cho tuyển mộ những người thợ giỏi vào triều đình để may theo các quy cách mà nhà vua và bộ lễ quy định.
-Thời vua Gia Long thứ 3 và 13, vua xuống chỉ tuyển mộ lính vào trong Thự vệ may để phục vụ triều đình.
-Thời vua Minh Mạng năm thứ 6 (1825) và năm thứ 20 (1839) lấy lính vào may, sai các thợ trang trí hội họa vẽ trên vải để thêu và tuyển thợ nhuộm vải.
-Bên cạnh các sản phẩm được chế tác trong nước, cuối thế kỷ XIX do có sự giao lưu buôn bán với các nước nên có một số đồ dệt , nguyên liệu được nhập vào Việt Nam phục vụ các sinh hoạt của triều đình.
-Nguyên liệu chính dùng chế tác y phục bao gồm tơ lụa, gấm sa, kim tuyến, khuy (đồng, bạc, vàng, hổ phách, mã não...) các loại chỉ thêu, chỉ may.
-Các nguyên liệu trên được chế tác tùy theo mục đích đồ dùng và tính chất công việc. Các loại y phục thường được cắt may theo khổ vải đã dệt và để trơn sau đó may thành sản phẩm. Riêng đối với các y phục mặc đại triều... được chế tác tỉ mỉ, công phu hơn, sau khi may còn dệt các mẫu hình với nhiều lớp, nhiều màu khác nhau và đính các dãi kim tuyến, các hạt kim loại dát mỏng và hệ thống khuy bằng kim loại đồng, vàng, bạc.
- Y h?c: Nam du?c th?n hi?u (Tu? Tinh), B?n th?o th?c v?t toỏt y?u (Phan Phu Tiờn), H?i Thu?ng Lón ễng y tụng linh (Lờ H?u Trỏc)...
Toỏn h?c: D?i thnh toỏn phỏp (Luong Th? Vinh), L?p thnh toỏn phỏp (Vu H?u)...
- Quõn s?: Binh thu y?u lu?c (Tr?n Qu?c Tu?n)...
D?a lý: Du d?a chớ (Nguy?n Trói)...
L?ch s?:D?i Vi?t s? kớ (Lờ Van Huu), s?:D?i Vi?t s? kớ ton thu (Ngụ Si Liờn),...
Bỏch khoa ton thu d?u tiờn c?a nu?c ta: Thiờn nam du h? t?p (N?a sau th? k? XV), Võn di l?ai ng?, Ki?n van t?p l?c (Lờ Quý Dụn)...
Đại học Đông Dương được thành lập vào tháng 5 năm 1906 tại Hà nội. Đại học Đông Dương đáp ứng mong muốn của Jules Ferry “dành cho Đông Dương những cán bộ ngang tầm với sự phát triển kinh tế và văn hóa của Đông Dương”. Đại học Đông Dương cung cấp một tổng thể các tiết học và hội thảo cho các sinh viên đã nắm vững kiến thức phổ thông và có khả năng đảm nhiệm các công tác hành chính. Giáo dục được tổ chức theo ba khối : khoa học, pháp lý và văn học.
III. Phát triển kinh tế đô thị:
Đại học Y
III. Phát triển kinh tế đô thị:
IV. Quõn s?:
-Quân đội nhà Lý đã đạt đến một trình độ tổ chức và huấn luyện khá cao. Quân đội phiên chế thành các đơn vị: Quân, vệ và bao gồm các binh chủng: bộ binh, thủy binh, kỵ binh, tượng binh.
Trang bị quân đội, ngoài các loại vũ khí như giáo mác, cung nỏ, khiên v.v.. còn có thêm máy bắn đá.
-Đội quân chuyên bảo vệ cung điện của nhà vua, đóng xung quanh kinh thành, gọi là cấm vệ, mỗi quân 200 người, cộng 2.000 người, đặt tên là Quảng Thành, Quang Vũ, Ngự Long, Phủng Nhật, Trừng Hải. Năm 1059, đời vua Lý Thánh Tông, lại thêm sáu quân nữa. Cấm quân bấy giờ gồm có 16 quân, tổng cộng 3.200 người. Tên quân cũng đặt lại như sau: Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thông Điện, Phủng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược, Vạn Tiệp. Tất cả cấm quân đều thích trên trán 3 chữ "Thiên tử quân". Đứng đầu các tướng phụ trách cấm quân là chức thiếu úy. Toán quân trực ở trước điện vua do điện tiền đô chỉ huy sứ chỉ huy. Các vệ thì có các cấp tướng như: Tả hữu kim ngô vệ tướng quân, Kim ngô độ lãnh binh sứ, Tả hữu vệ tướng quân, Đinh thắng thượng tướng quân, Đại tướng quân, Tướng quân.
-Ngoài cấm quân, có quân các lộ, các phủ. Tất cả nhân dân đến tuổi hoàng nam (18 tuổi) đều phải đăng lính, nhưng vẫn được ở nhà cày bừa, mỗi tháng mới phải đi phiên một kỳ ngắn. Đó là chính sách ngụ binh ư nông (giữ quân lính ở nhà nông) vừa đảm bảo số quân cần thiết phòng khi không may có chiến tranh xảy tới. Các chức chỉ huy quân đội có: Đô thống, Nguyên soái, Thống quản, Thượng tướng, Đại tướng, Đô tướng.
-Thời Lý Trần, vương quốc Đại Việt với mong muốn ổn định trật tự xã hội, sắp xếp chính quyền, đồng thời tăng cường lực lượng quân sự đủ sức đưa đất nước vượt qua các trở ngại bảo vệ nền độc lập dân tộc. ĐẶc biệt đến thời Trần, quân đội nhà Trần được phát triển và hoàn thiện theo mấy hướng sau:
-Về tổ chức, phiên chế. Quân chủ lực gồm cấm quân và quân các lộ. Quân các lộ ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh (phiên/phên - binh lính vùng phên dậu).
-Năm 1239, Trần Thái Tông hạ chiếu tuyển trai tráng làm binh lính, chia làm ba bậc thượng, trung, hạ. Nhà Trần đặc biệt chú ý cấm quân, gọi là quân túc vệ. Thường trực quân túc vệ đóng ở Thăng Long và ngoại vị có đến 5000 người. Năm 1246, thời điểm quan trọng đánh dấu một bước tiến lớn trong công cuộc xây dựng quân đội, đặc biệt là cấm quân. Cấm quân hầu hết được lựa chọn những người mạnh khoẻ, dẻo dai và được huấn luyện tinh thông một vài loại binh khí. Chủ yếu lấy người vùng Long Hưng (Thái Bình) và Thiên Trường (Nam Định) vì đây là quê nội, ngoại của nhà Trần.
Quân quấn vệ thời Trần:
Năm 1246, Trần Thái Tông đặt các vệ quân tứ thiên, tứ thánh, tứ thần:
- Quân các Thiên Trường, Long Hưng nhập vào quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh, Củng Thần. Đây là đạo quân tinh nhuệ nhất, tin cậy nhất của Nhà Trần.
- Quân các lộ Hồng Châu, Khoái Châu (quânthuộc vùng Hải Dương ngày nay) nhập vào các quân tả hữu Thánh Dực.
- Quân các lộ Trường Yên, Kiến Xương nhập vào các quân Thánh Dực, Thần Sách.
Năm 1267, Thánh Tông lập thêm Toàn Kim Cương đô, Chân Thượng đô, Cấm Vệ Thủy dạ xoa đô, Chân Kim đô. Sang thế kỉ XIV, cấm quân được tăng cường và phiên chế chặt chẽ:
- Năm 1311, Anh Tông lập thêm quân Vũ Tiệp.
Duệ Tông (1373- 1377) lập thêm các quân Uy Tiệp, Bảo Tiệp, Long Tiệp, Long Dực, Tả Ban, Hữu Ban.
- Năm 1378, Phế Đế lập thêm các quân Thần Dực, Thiên Uy, Hoa Ngạch, Thị Vệ, Thần Vũ, Thiên Thương, Thiết Giáp, Thiết Liêm, Thiết Hồ, Ô Đồ.
-Cấm quân ở kinh thành có thích chữ ````thiên tử quân```` vào trán, là do tôn thất hoặc là người được đặc biệt. tin tưởng như Phạng Ngũ Lão chỉ huy gọi là điện tiền chỉ huy sứ gọi tắt là điện súy). Chức phiêu kị tướng quân phải do chính hoàng tử nắm giữ. Trong chiến tranh chống Mông Nguyên thì toàn quân đặt dưới quyền của một vị tiết chế do quý tộc Trần Quốc Tuấn phụ trách. Cấm quân là nòng cốt cho các binh lính khác.
-Quân đội ở các địa phương chia làm các lộ quân, có khoảng 20 phong đoàn. Khi có chiến sự xảy ra, các lộ quân có thể huy động được vài ngàn người. Giữa thế kỉ XIV Dụ Tông ( 1341-1369) đặt thêm bình hải quân ở Hải Đông. Sang đời Duệ Tông (1373- 1377) lại tăng thêm số quân ở các lộ Thiên Trường, Bắc Giang, Thanh Hóa, Nghệ An, Lâm Bình, Thuận Hoá. -Lúc thời bình, quân ở các lộ được ở nhà cày ruộng, theo một thời hạn nhất định thì tập trung huấn luyện, khi nào hữu sự mới dùng đến. Cách làm kiểu "ngụ binh ư nông" này rất thuận lợi, vừa tăng gia sản xuất, vừa cần kíp thì huy động được ngay.
-Ngoài ra, còn có lực lượng vũ trang của các quý tộc, hoàng thất, những người được phong đất đai, được ban tặng nô lệ... Họ có tiền và được tuyển mộ binh lính. Hầu hết là những người mồ côi, có tài nghệ (như Yết Kiêu, Dã Tượng: gia tướng của Trần Hưng Đạo), số này gọi là thân binh/gia binh.
- Thời Lê, Lê Thánh Tông ra sắc chỉ đầu tiên là chỉnh đốn lại quân đội, đôn đốc và thực hiện các bước để tăng cường các khả năng chiến đấu của các vệ quân năm đạo. Việc canh phòng và cảnh giác về vấn đề biên cương rất chặt chẽ và cẩn thận nên triều đình nhà Minh rất tôn trọng và có phần e ngại. Vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc. Lê Thánh Tông cải tổ quân đội mạnh mẽ về mặt tổ chức, trước đó quân đội chia làm 5 đạo vệ quân, nay đổi làm 5 phủ đô đốc. Mỗi phủ có vệ, sở. Bên cạnh còn có 2 đạo nội, ngoại, gồm nhiều ti, vệ. Ngoài tổ chức quân thường trực, Lê Thánh Tông còn chú ý lực lượng quân dự bị ở các địa phương. 43 điều quân chính là luật quân đội Lê Thánh Tông ban hành cho thấy kỷ luật quân đội của ông rất nghiêm ngặt, có sức chiến đấu cao.
IV. Quõn s?:
-Hồ Nguyên Trừng, con cả của Hồ Quý Ly không chỉ là vị tướng tài mà còn là một công trình sư lỗi lạc, được coi là ông tổ của nghề đúc súng thần công Việt Nam. Việc ông lập một phòng tuyến chống giặc bắt đầu cứ điểm then chốt Ða Bang (Ba Vì) kéo dài theo bờ nam sông Ðà, sông Hồng cho đến sông Ninh (Nam Hà) rồi lại tiếp tục theo bờ sông Luộc, sông Thái Bình đến Bình Than dài trên 400 km, đã tỏ rõ ông là một nhà quân sự kiệt xuất, Hồ Nguyên Trừng cũng sáng tạo ra cách đánh độc đáo: ông cho đúc nhiều dây xích lớn chăng qua những khúc sông hiểm trở, kết hợp với quân mai phục trang bị những hoả lực mạnh, từng khiến cho thuỷ binh giặc nhiều phen khiếp đảm. Tuy vậy, nói đến Hồ Nguyên Trừng người ta thường nhắc đến công sáng chế ra súng “thần cơ ” của ông.
-Do yêu cầu chống giặc ngoại xâm, muốn có nhiều súng trang bị cho thành trì và các hạm đội, Hồ Nguyên Trừng đã phải gấp tổ chức những xưởng đúc lớn.Hồ Nguyên Trừng đã đúc kết những kinh nghiệm cổ truyền, phát minh, sáng chế ra nhiều loại súng có sức công phá sấm sét từ việc cải tiến súng, chế thuốc súng, hiểu rõ sức nổ của thuốc đạn Nguyên Trừng phát minh ra phương pháp đúc súng mới gọi là súng “Thần cơ”. Súng Thần Cơ của Nguyên Trừng có đầy đủ các bộ phận cơ bản của loại súng thần công ở những thế kỷ sau này. đúc kín có bộ phận ngòi cháy ở chỗ nhồi thuốc nổ. Ðạn pháo Nòng súng là một ống đúc bằng sắt hoặc bằng đồng. Phía đuôi súng được là mũi tên bằng sắt lớn. Khi bắn người ta nhồi thuốc súng phía đáy rồi đặt mũi tên vào giữa và nhồi loại đạn ghém bằng sắt và chì.
-Súng “Thần cơ” có nhiều loại: loại nhỏ dùng cho bộ binh bắn xa áng chừng 700 mét, Hồ Nguyên Trừng đặc biệt cho chế tạo nhiều loại thần cơ lớn gọi là “thần cơ pháo”. Thần cơ pháo thực chất là súng thần công cỡ lớn được đặt cố định trên thành hoặc trên xe kéo cơ động. Quân Minh bao phen kinh hoàng về loại súng này mà không hiểu nổi. Nhưng cuộc kháng chiến của Hồ thất bại vì không được dân ủng hộ. trong lúc giặc giương cao cờ “phù Trần diệt Hồ”. Giặc Minh bắt được nhiều súng “Thần Cơ”, bắt được cả nhà sáng chế ra nó. Trong “Vân Ðài loại ngữ”, Lê Quý Ðôn nhắc đến tình tiết: “quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng”.
- Nhà Nguyễn lại có một chỗ đứng hoàn toàn riêng rẽ về quân sự. Thoạt tiên, đoàn quân của họ rất nhỏ bé chỉ mong được thoát hiểm, gồm các đồng hương vùng Thanh Hóa, tương đối đồng nhất về khả năng và kinh nghiệm chuyên biệt về thủy chiến. Nếu được kể là từ khi Nguyễn Hoàng có quyết tâm khởi đầu cơ nghiệp cho đến khi họ Nguyễn đủ thế lực xưng Chúa, thành phần nòng cốt của họ đã chiến đấu sinh hoạt cạnh nhau trong vòng nhiều chục năm trời. Nhóm quân lính đó đặt cứ điểm trên Hạm đội, thường qua lại khắp các vùng biển Quảng Nam, Thuận Hoá, Nghệ An, Thanh Hóa và ra vào các sông ngòi miền châu thổ hai sông Hồng và Thái Bình, Bắc Đại Việt.
-Truyền thống thủy chiến được con cháu họ Nguyễn chuyên cần phát triển và nuôi dưỡng suốt một chiều dài lịch sử gần 350 năm, kéo theo con đường Nam Tiến của họ từ Thanh Hóa đến tận Phú Quốc Hà Tiên. Truyền thống này theo một vài sử gia chính là động lực lớn nhất đưa Nhà Nguyễn đến sự thành công trong việc mở mang bờ cõi, thống nhất giang sơn và duy trì được vương quyền sau nhiều cơn sóng gió.
Học hỏi Kỹ thuật Nhưng không Nệ Người Tây Phương
-Trình độ xâm nhập kỹ thuật Tây phương tăng tiến trong những năm đầu chinh chiến, nhưng ảnh hưởng cá nhân của bọn phiêu lưu người Pháp sụt xuống rõ rệt về sau này. Nguyễn Ánh dùng người Ngoại Quốc làm Cố Vấn nhưng Ông rất quyết đoán, không để Nam quân lệ thuộc vào họ.
Đời nhà Lê, các loại hoả khí, súng ống ngày một phong phú, phát triển không ngừng. Rất nhiều loại súng như: súng lửa, súng Bách Tử, súng Trên Ngựa, súng Báng Gỗ, súng Tiêu,súng Điểu Sang, súng Tích Sơn, súng Bắc Cơ Điểu Sang,…
Đạn dược gồm đạn chì, đạn đá, đạn gang.
Ở các triều đại sau,sung Thần Công của Đại Việt ngày càng đa dạng: Nhiều kiểu nòng to nhỏ,dài ngắn khác nhau. Quân đội đã biên chế đơn vị pháo binh gọi là Thần Cơ Doanh.
Năm 1858,người Việt lại chế ra kiểu xe Loại Bằng Thuỷ Hoả Kế,dung sức nước quay để giã luyện thuốc súng.
Năm1859,Tượng cục Vũ Khố Hoàng Văn Hiến chế tạo súng đồng, ráp, tháo rời nòng súng dễ dàng nhờ ren xoáy ở những đoạn nối, được vua khen thưởng.
Về sau, các vua Nguyễn lơi là việc binh bị, súng Thần Công không được cải tiến kĩ thuật, nên trở thàn lạc hậu so với các loại pháo bắn đạn nổ của phương Tây,kết quả khi giặc Pháp tấn công, triều đình Nguyễn đành thất thủ trước vũ khí hiện đại của họ…
IV. Quõn s?:
Các loại thuyền ở nước ta:
-Lâu thuyền: Thuyền 3 tầng do vua chỉ huy xuất trận
-Tẩu kha: Thuyền do nữ tướng chỉ huy, không dùng buồm, thân thon dài, trên có 3 cột cờ đại và 2 hàng cờ nheo dọc thân thuyền, phu chèo và thuỷ binh đều tinh nhuệ, lợi hại là đi như bay, đột kích bất ngờ, rút lui nhanh chóng.
-Du đĩnh: Thuyền có nhiều tầng to cao, trên có mái che với hàng dọc cờ xí, chứa nhiều quân cung thủ, quan sát giặc từ xa, lợi hại khi đổ quân, đánh úp.
-Mông xung: Không buồm, không cờ quạt, mui tròn căng phủ da trâu khiến tên đạn không xuyên thủng đwocj. Khoét nhiều lỗ tò vò để bắn cung nỏ, đâm giáo khi tiếp cận thuyền giặc. Chèo tới lui nhanh chóng.
-Khai lãng: Hai đầu thuyền cong vút như chim bay, 4 chèo 1 lái, chứa đến 50 quân, nước thuận nghịch đều xoay xở dễ dàng, 3 cột buồm, cột giữa cao có đài quan sát, bắn cung tên
Tàu buồm cỡ tàu Phấn Trắng
IV. Quõn s?:
- Tuy ra đời rất sớm và có quá trình phát triển lâu dài hàng ngàn năm nhưng loại vũ khí sử dụng sức lực con người hầu như ít có sự tiến bộ về cấu tạo nên hiệu quả không cao, dần dần bị sự phát triển của loại vũ khí sử dụng thuốc nổ thay thế. Thuật ngữ gọi hai loại vũ khí này là Bạch khí và Hỏa khí.
- Nước ta trong suốt các triều đại Lý – Trần – Lê không khi nào quên việc sửa sang võ bị để tăng cường khả năng chống giặc ngoại xâm. Ngay trong thời bình nhiều nhà vua đã xuống chiếu nhắc nhở tướng sĩ không được lơ là phòng thủ quốc gia, phải chăm lo rèn binh luyện tướng, đóng chiến thuyền và rèn vũ khí. Binh thư yếu lược viết “ Cái đạo mạnh binh để chiến thắng có 5 điều: Sửa sang binh khí; Có đủ quân lính và xe cộ; Súc tích nhiều; Rèn luyện sĩ tốt; Kén được tướng giỏi”. Như vậy, “sửa sang binh khí” là điều quan trọng đầu tiên.
- Trong lịch sử nước ta, trang bị bạch khí cho quân đội phát triển nhất vào thời Lê, thế kỷ XV – XVI. Đến thế kỷ XVIII loại bạch khí phổ biến nhiều loại thông dụng. Theo Hội Điển của triều Nguyễn thì đến giữa thế kỷ XIX phần lớn binh lính của triều đình ra trận còn trang bị bằng bạch khí. Quân đội Tây Sơn tuy đã có pháo và một số loại hỏa khí nhưng về cơ bản vẫn trang bị bạch khí là chính.
Vũ khí cổ Việt Nam có thể chia thành các loại theo chức năng vận hành và hình dáng, gồm có:
- Bạch khí: vũ khí đánh gần, vũ khí đánh xa, vũ khí phòng ngự.
- Hỏa khí: súng lệnh, súng thần công, đạn đá, đạn gang.
* Bạch khí.
- Về giáo: có giáo có chuôi hoặc họng tra cán, mũi giáo hình búp đa, hình ngòi bút, hình lá lúa, giáo có ngạnh ở thân. Giáo có thể tra cán ngắn hay dài đến hơn 2m (giáo trường) nên họng tra cán hay chuôi lắp cán đặc biệt cần vững chắc. Kích thước chung của các loại giáo: dài toàn thân từ 29 – 44cm, rộng lưỡi từ 3 - 4,4cm, nặng từ 250 – 540gr. Riêng giáo có ngạnh ở thân dài từ 23 – 40cm, nặng 100 – 320gr, thân giáo có tiết diện vuông thon dần về mũi, ngạnh vuông ở gần mũi nhọn. Ngạnh vuông nhọn dài khoảng 1,5 - 2cm. Chuôi giáo có lỗ chốt đinh để gắn vào cán.
- Mũi trường: là loại giáo có cán rất dài có thể đến 4m, tác dụng dùng để đâm với lực rất mạnh. Mũi trường có tiết diện hình vuông chia thành hai phần rõ rệt là mũi và chuôi tra cán. Kích thước chung: dài từ 40 – 64cm, tiết diện mũi 1,4 x 1,4cm, nặng từ 300 – 520gr.
Vũ khí đánh xa. Gồm có lao, móc câu, mũi tên. Đây là loại vũ khí có khả năng sát thương đối phương trong khoảng cách xa, sức đẩy vũ khí đi xa do sức của con người, và sức đẩy cơ học.
- Lao: Phần đầu của lao giống mũi tên có cánh lớn , có 2,3 ngạnh, họng tra cán dài, kích thước trung bình 20 – 26cm, nặng khoảng 100 – 120gr.
- Móc câu chùm: hình dáng giống chiếc mỏ neo nhưng có 3 móc câu uốn cong lên, dùng để quăng, móc. Tiết diện thân hình chữ nhật, móc cong tiết diện hình tròn.
- Mũi tên: dùng với cung, nỏ, loại vũ khí đánh xa
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất