Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 6. Thực hành: Đa dạng thế giới sinh vật

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Trung
Ngày gửi: 15h:12' 02-01-2008
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 230
Số lượt thích: 0 người
Bài Học
Đa Dạng Thế Giới Sinh Vật
Nguyễn Minh Trung
Giới động vật
Đặc điểm chung :
Giới động vật (Animalia) gồm những sinh vật nhân thực , đa bào , cơ thể gồm nhiều tế bào phân hóa thành các mô , các cơ quan và các hệ cơ quan khác nhau
Đặc biệt là động vật có hệ cơ quan vận động và thân kinh
Đặc điểm sinh dưỡng và đời sống
Dị dưỡng nhờ chất hữu cơ sẵn có của các cơ thể khác
Động vật có hệ cơ , di chuyển tích cực để tìm kiếm thức ăn
Có hệ thần kinh phát triển nên chúng có khả năng phản ứng nhanh
Điều kiển hoạt động cơ thể , thích ứng cao với môi trường
Các ngành của giới động vật
Tổ tiên : tập đoàn đơn bào dạng trùng roi nguyên thủy
Chia thành 2 nhóm

Động vật không xương sống
Không có bộ xương trong ☺
Bộ xương ngoài ( nếu có ) bằng kitin
Hô Hấp thẩm thấu qua da hoặc bằng ống khí
Thần kinh dạng hạch hoặc chuỗi hạch ở mặt bụng

Đặc điểm chung
Các ngành động vật không xương sống
Thân lỗ
(Spongia, Porifera; tk. thân lỗ, hải miên), ngành động vật đa bào nguyên thuỷ, có cấu trúc tế bào tách biệt. Sống ở biển. Cơ thể hình cốc gồm các tế bào sắp xếp lỏng lẻo, giữa các tế bào ít có mối liên hệ thần kinh. Các tế bào cổ áo lót trong các phòng tiêm mao và tạo nên dòng nước chảy từ ngoài qua thành cơ thể vào xoang vị giả rồi qua lỗ thoát nước. BB có bộ xương trong bằng canxi cacbonat hay silic cacbonat hoặc các sợi protein. Cấu tạo xương là đặc điểm để phân loại. Có khoảng 5 nghìn loài. Ở Việt Nam, đã biết 160 loài, gặp nhiều ở vùng biển phía nam, nhất là Nam Trung Bộ, đảo Phú Quốc, Côn Đảo.
BACk
Giun dẹp
(Palthelminthes hoặc Platodes), ngành động vật không xương sống có tổ chức cơ thể thấp trong giới động vật, có đối xứng hai bên, có 3 lá phôi, chưa có thể xoang. Cơ thể dẹp, dài 2 mm - 18 m, có dạng 2 túi lồng vào nhau có chung một lỗ miệng, phân hoá thành: đầu, lưng, bụng, đuôi. Di chuyển có định hướng. Hệ sinh dục lưỡng tính, có thêm tuyến phụ, ống dẫn và có thể có cơ quan giao cấu. Hệ thần kinh tập trung, chạy dọc hai bên. Bài tiết theo kiểu nguyên đơn thận. Có khoảng 7.500 loài. Chia thành 5 lớp: Sán tiêm mao, Sán đơn chủ, Sán song chủ, Cestodaria và Sán dây.
Trong ngành GD chỉ có lớp Sán tiêm mao là sống tự do, các lớp khác kí sinh: ở người, động vật có xương sống khác. Những loài sống kí sinh có hình thái và chức phận thích nghi với lối sống này, như giác bám, hệ sinh dục phát triển, chu trình sống có nhiều loại ấu trùng khác nhau...
Các loài GD kí sinh gây hại cho người, vật nuôi, trong đó đáng chú ý là sán lá gan (Fasciola hepatica), sán lá gan nhỏ (Clonorchis sinensis), sán lá ruột (Fasciolopsis buski); sán dây bò (Taeniarhynchus saginatus), sán mép (Diphyllobothrium mansoni); sán dây cá (Ligula intestinalis), sán máu (Schistosoma hematobium, S. mansoni, ...), sán dây lợn (Taenia solium).
Để điều trị giun sán cần xét nghiệm phân để xác định bị nhiễm loài nào để có thuốc điều trị đúng; điều trị thường xuyên kết hợp với phòng và cải tạo môi trường sống.
BACK
Giun tròn
(Nemathelminthes), ngành động vật không xương sống, có khoang cơ thể nguyên sinh, có ống tiêu hoá nhưng chưa có hệ tuần hoàn và hô hấp. Phần lớn các loài đơn tính, hệ sinh dục cấu tạo đơn giản, hệ thần kinh cấu tạo đặc trưng kiểu ortogon, hệ bài tiết có thể có hoặc không, hay là dạng biến đổi của tuyến da hoặc theo kiểu nguyên đơn thận (x. Nguyên đơn thận). Ngoài đặc điểm trên, GT còn có những đặc điểm riêng: tầng cuticun, lớn lên bằng lột xác, số lượng tế bào trong cơ thể tương đối ít, ổn định, phân cắt trứng xác định. Mỗi loài có chu kì sống riêng. Gồm các lớp: GT, Giun bụng lông, Giun cước, Trùng bánh xe, Pripulida và Giun đầu gai. Có khoảng 18 nghìn loài, sống tự do trong đất, nước, kí sinh ở người, động vật, thực vật. Những năm gần đây, nhờ những nghiên cứu sâu các đại diện của ngành, người ta có thể hình dung chung nguồn gốc của GT là từ sán tiêm mao như trong chu trình phát triển của các loài có giai đoạn có tiêm mao... (xt. Sán tiêm mao). GT kí sinh gây tổn thương tại chỗ, tiết độc tố làm suy nhược cơ thể, mở đường cho các bệnh khác xâm nhập vào. Nhiều loài kí sinh trong thực vật làm năng suất cây trồng giảm 30 - 40% (có nơi 60 - 70%) như GT gây nốt sần ở rau Heterodera, Ditylenchus, Pratylenchus. Ở động vật, GT có thể kí sinh trong hệ tuần hoàn, hệ bạch huyết (x. Giun chỉ), làm phù bộ phận sinh dục, chân, vú, mặt...; kí sinh trong ruột (x. Giun đũa) gây tắc ruột... GT có thể xâm nhập vào động thực vật bằng nhiều con đường: qua nước, đất, qua vật chủ trung gian (muỗi, các súc vật nuôi trong nhà...). Phòng trừ bằng các biện pháp tổng hợp: vệ sinh môi trường, tiêu diệt các nguồn bệnh bằng tẩy giun... Ở người, cần có xét nghiệm phân để biết rõ bị nhiễm loại nào; điều trị thường xuyên đúng liều theo hướng dẫn của thầy thuốc.
BACK
back
Chân khớp
Có 4 tiểu thể loại trong thể loại này.
[+] Động vật giáp xác
[+] Lớp Côn trùng
[+] Lớp Hình nhện
[+] Lớp Sâu bọ
BACK
Thân mềm
ngành động vật không xương sống, cơ thể đối xứng hai bên (về cơ bản), riêng nhóm Ốc có hiện tượng xoắn vặn cơ thể nên mất đối xứng; không có hiện tượng phân đốt rõ ràng, chỉ có một số nhóm có một số cơ quan sắp xếp theo kiểu phân đốt; xoang cơ thể thứ sinh gồm xoang bao tim, xoang sinh dục, giữa các cơ quan lấp đầy mô liên kết. Cơ thể chia ba phần: đầu, thân và chân, tổ chức cơ thể này biến đổi theo từng nhóm. Dựa trên sự sai khác, thể hiện các hướng phát triển khác nhau, chia TM ra 2 phân ngành: Song kinh (Amphineura) và Vỏ liền (Conchifera). Có các lớp: Song kinh có vỏ (Loricata) có khoảng 1.000 loài; Song kinh không vỏ (Aplacophora hay Solenogastre) có 150 loài; Vỏ một tấm (Monoplacophora); Chân bụng (Gastropoda) có 90 nghìn loài; Thân mềm hai mảnh vỏ (Bivalvia) có khoảng 15 nghìn loài; Chân thuỳ (Scaphopoda) khoảng trên 1.000 loài; Chân đầu (Cephalopoda) có khoảng 11 nghìn loài. Thuỷ tổ của Chân đầu là Cúc đá (Ammonoit) đã bị tuyệt diệt từ kỉ Krêta. Cúc đá có ý nghĩa lớn trong việc xác định địa tầng đại Trung sinh.
TM có vai trò quan trọng trong thiên nhiên cũng như đối với con người, là nguồn thực phẩm có giá trị. Hiện nay, hằng năm thế giới khai thác khoảng 3 triệu tấn, thành phần khai thác chủ yếu là hàu (Ostrea), vẹm (Mytylus), bào ngư (Haliotis), trai điệp (Pecten, Amussium), ngao (Meretrix), sò (Arca), mực (Sepia, Loligo). Nhiều nước đã có công nghiệp nuôi hàu. Vỏ nhiều loài ốc có xà cừ đẹp dùng làm đồ mĩ nghệ. Ngọc trai là sản phẩm quý. Vỏ bào ngư, mai mực làm dược liệu. Vỏ đá vôi cứng và bền của TM được giữ lại trong các địa tầng là một trong các sinh vật chỉ thị có giá trị. Bên cạnh các mặt có lợi, TM còn gây hại nghiêm trọng như hà biển (Teredo, Bankia), hà sông (Dreissena) đục thuyền, các công trình cầu cảng, làm tắc ống dẫn nước, vv. Các loài ốc sên (Achatina, Helix), sên trần (Arion, Deroceras) phá hại cây trồng. Các loài ốc nước ngọt (Lymnaeidae, Bithyniidae) là vật chủ của ấu trùng nhiều loài giun sán kí sinh ở người và gia súc; ốc sên, ốc bươu vàng là đối tượng gây hại cây trồng như lúa, chuối, vv.
back
Giun đốt
(Annelida), ngành động vật không xương sống có ba lá phôi, cơ thể đối xứng hai bên và phân đốt (rươi, giun đất, đỉa). Cơ thể mềm, dài, được bọc một lớp cuticun mỏng và đa số có tơ kitin phân bố theo đốt. Đốt là cơ quan vận chuyển. Thành cơ thể gồm: lớp cơ vòng, cơ dọc và xoang cơ thể thứ sinh tách biệt ruột với thành cơ thể. Đặc điểm này cùng với sự phân đốt cơ thể làm cho con vật có khả năng vận chuyển tốt. Nhiều loài lưỡng tính. Ruột chạy từ miệng xuống hậu môn. Hệ tuần hoàn và thần kinh phát triển. Cơ quan bài tiết là hậu đơn thận. Trong quá trình phát triển có ấu trùng Trochophora. Có khoảng 8400 loài, thuộc 4 lớp: Giun nhiều tơ (Polychaeta), Giun ít tơ (Oligochaeta), Đỉa (Hirudinea) và Giun đốt cổ (Archiannelida) (x. Ấu trùng Trochophora; Giun nhiều tơ; Giun ít tơ).
Back
Ruột khoang
Coelenterata), ngành lớn của động vật không xương sống ở nước, chủ yếu ở biển. Là những động vật đa bào nguyên thuỷ nhất. Có 2 lá phôi, đối xứng toả tròn điển hình; thành cơ thể gồm 2 lớp tế bào, ở giữa là tầng trung giao. Có xoang vị (coelenteron) với một lỗ đơn giản ở phía trên (miệng) để lấy thức ăn và thải bã, có vùng tua cảm giác bao quanh miệng, dùng bắt mồi và tự vệ nhờ có những tế bào lông châm. Có 2 kiểu cấu trúc cơ thể: kiểu polip sống cố định (các thuỷ tức đơn độc, huệ biển, san hô tập đoàn); kiểu thuỷ mẫu di động (sứa). Một hoặc cả hai kiểu này gặp trong chu trình sống của RK (x. San hô; Thuỷ tức; Sứa; Thuỷ tức tập đoàn). RK hiện nay còn khoảng 9 nghìn loài. Ở Việt Nam có khoảng hơn 1 nghìn loài, thuộc 3 lớp: Thuỷ tức (Hydrozoa), Sứa (Scyphozoa), San hô (Anthozoa).
Trong lịch sử địa chất, lớp san hô đã tiến hoá từ san hô vách đáy, san hô bốn tia phổ biến trong đại Palêôzôi đến san hô sáu tia phổ biến trong Mêzôzôi và san hô tám tia phổ biến trong Kainôzôi và hiện nay. Ở Việt Nam, hoá thạch RK rất phổ biến trong các trầm tích Palêôzôi, nhất là trong các hệ tầng đá vôi Silua, Đêvôn, Cacbon và Pecmi. Vì vậy, đối với một số hệ tầng, chúng giữ vai trò chủ đạo trong việc định tuổi và phân chia địa tầng. Trong các trầm tích Mêzôzôi mới, gặp hoá thạch san hô sáu tia trong hệ tầng đá vôi ám tiêu Triat thượng và lác đác trong trầm tích Jura hạ
BACK
Da Gai
(Echinodermata), ngành động vật không xương sống, ở biển. Có miệng thứ sinh (Deuterostomia). Cơ thể cấu tạo theo kiểu đối gai thò ra ngoài; xoang cơ thể thứ sinh gồm xoang chung và hệ thống ống dẫn nước và chân ống là cơ quan vận chuyển độc đáo xứng toả tròn bậc 5; có bộ xương đá vôi phát triển với các của DG; phát triển cá thể trải qua giai đoạn ấu trùng dipleurula (x. Ấu trùng dipleurula) có đối xứng hai bên chứng tỏ DG có quan hệ họ hàng với các nhóm động vật có dây sống. Ngành DG hiện nay có khoảng 5.000 loài, 2 phân ngành: Pelmatozoa, dạng trưởng thành sống bám như Huệ biển và các lớp đã tuyệt chủng; Eleutherozoa, trưởng thành sống tự do, gồm 4 lớp còn tồn tại là Sao biển (Asteroidea), Đuôi rắn (Ophiuroidea), Cầu gai (Echinoidea), Hải sâm (Holothuroidea) và Ophiocystidea đã tuyệt chủng. Trong số động vật DG, hải sâm và cầu gai được dùng làm thực phẩm ở nhiều nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Malaixia, vv. Hằng năm sản lượng DG được khai thác 60 - 70 nghìn tấn, trong đó 60% là cầu gai. Một số các hợp chất trong cơ thể sao biển, hải sâm có giá trị dược liệu. Trong môi trường biển, DG có khả năng tích tụ canxi tạo bộ xương và tích tụ cả chất phóng xạ trong nước biển nên có vai trò trong cân bằng muối. DG còn dùng làm thức ăn cho cá, làm phân bón
Động vật có xương sống
Bộ xương trong bằng sụn hoặc xương với dây sống hoặc cột sống làm trụ
Hô hấp bằng mang hoặc phổi
Hệ thân kinh đạng ống ở mặt lưng
Động vật có xương sống có 1 ngành dc chia làm 8 lớp
Động vật nữa dây sống
Ngành Động vật nửa dây sống (danh pháp khoa học: Hemichordata) là một ngành chứa các động vật miệng thứ sinh giống như giun, sống trong lòng đại dương, nói chung được coi là nhóm có quan hệ chị em với động vật da gai (Echinodermata). Chúng có lẽ đã xuất hiện vào cuối hay giữa kỷ Cambri và bao gồm một lớp quan trọng chứa các hóa thạch, gọi là lớp Bút thạch (Graptolithina), phần lớn trong chúng đã bị tuyệt chủng vào kỷ Than Đá. Chúng dường như có dạng nguyên thủy của dây sống, nhưng điều này rất có thể chỉ là kết quả của tiến hóa hội tụ. Ống thần kinh rỗng tồn tại ở một số loài (ít nhất là ở giai đoạn đầu của sự sống của chúng), có lẽ là đặc điểm nguyên thủy mà chúng chia sẻ với tổ tiên chung của động vật có dây sống (Chordata) và phần còn lại của siêu ngành Động vật miệng thứ sinh (Deuterostomia). Hệ thống cơ trong ruột của chúng rất kém phát triển, và thức ăn được vận chuyển thông qua đó chủ yếu là nhờ các lông rung che phủ bề mặt bên trong của ruột.
Nhóm động vật còn tồn tại trong ngành Hemichordata được chia thành 2 lớp: Enteropneusta, nói chung hay được gọi là giun vòi quả đầu và Pterobranchia, trong đó rất có thể bao gồm cả Graptolithina. Lớp thứ ba, Planctosphaeroidea, là lớp được đề xuất trên cơ sở của một loài duy nhất (Planctosphaera pelagica) chỉ được biết đến ở dạng ấu trùng. Ngành này chứa khoảng 100 loài còn tồn tại. Vị trí phân loại chính xác của Hemichordata và việc nhóm này có phải là đơn ngành hay không hiện tại đang bị tranh cãi. Một trong các đề xuất cho rằng Pterobranchia là nhóm động vật miệng thứ sinh cơ sở, trong khi Enteropneusta là nhánh xuất hiện sớm của dòng dõi dẫn tới Chordata.
BACK
Cá miệng tròn
Siêu lớp Cá không hàm (Agnatha) (từ tiếng Hy Lạp, nghĩa là "không quai hàm") là một siêu lớp cận ngành gồm các loài cá không có hàm, thuộc phân ngành Vertebrata, ngành Chordata. Hiện nay còn hai nhóm cá không hàm đang tồn tại (đôi khi được gọi là cá miệng tròn-Cyclostomata) là cá mút đá và cá mút đá myxin, với khoảng 60 loài. Ngoài việc không có hàm, nhóm Agnatha còn được đặc trưng bởi sự thiếu vắng các cặp vây; sự hiện diện của dây sống ở cả ấu trùng và cá trưởng thành; cũng như 7 hoặc nhiều hơn các cặp túi mang. Các vòm mang hỗ trợ các túi mang nằm gần với bề mặt cơ thể. Chúng có các cặp mắt hình quả thông nhạy sáng (tương tự như tuyến nội tiết trong não (tuyến quả thông) ở động vật có vú). Dạ dày không xác định rõ. Việc thụ tinh diễn ra bên ngoài. Nhóm Agnatha là động vật máu lạnh, với bộ xương được tạo thành từ chất sụn và tim có 2 ngăn.
Mặc dù về bề ngoài chúng khá tương tự, nhưng phần nhiều các điểm tương tự này có lẽ đã được chia sẻ từ các đặc trưng nguyên thủy của động vật có xương sống cổ đại và các phân loại hiện đại có xu hướng chuyển các loài cá mút đá myxin thành vài nhóm tách biệt (Myxini hoặc Hyperotreti), với các loài cá mút đá (Hyperoartii) được cho là có quan hệ họ hàng gần gũi hơn với cá có quai hàm.
BACK
Cá Sụn
Chondrichthyes), lớp động vật có xương sống, có bộ xương hoàn toàn bằng sụn, lỗ mang lộ ra hai bên đầu. Da thường có vảy tấm hoặc trơn, lớp da trong miệng có kích thước lớn dần phân hoá thành răng; có vây ngực, vây bụng; đuôi dị vĩ. Không có phổi và bóng hơi nên khi ngừng bơi, cá sẽ bị chìm. Đa số có khe mang tách biệt, không nắp mang, một lỗ thở nhỏ. Vây bụng con đực thường có gai giao cấu, thụ tinh trong. Sống ở biển, ăn thịt. Là đối tượng kinh tế khá quan trọng, thịt đều ăn được. Gan lớn (chiếm 10 - 15%, có khi tới 50% khối lượng cơ thể), dầu gan CS có nhiều sinh tố A và D dùng làm dược liệu. Da CS thuộc để đóng giày, làm nhiều vật dụng khác. Đại diện thường gặp là các loài cá nhám, cá đuối, cá ó, cá đao, vv. Ở biển Việt Nam, đã biết 80 loài, 43 chi, 22 họ. Nhiều loài có sản lượng lớn và giá trị kinh tế.
BACK
Cá xương
Siêu lớp Cá xương (danh pháp khoa học: Osteichthyes) là một siêu lớp trong phân loại học cho các loài cá, bao gồm Lớp Cá vây tia (Actinopterygii) và Lớp Cá vây thùy (Sarcopterygii).
Theo truyền thống nhóm cá xương được coi là một lớp của động vật có xương sống, với các phân lớp là Actinopterygii và Sarcopterygii, nhưng các sơ đồ mới nhất phân chia chúng thành vài lớp khác nhau. Siêu lớp này trong một số tài liệu về sinh vật học của Việt Nam vẫn gọi là lớp Cá xương cùng với lớp Cá sụn (Chondrichthyes) và một số nhóm cá không quai hàm khác hợp thành các loài cá nói chung. Tuy nhiên, các nghiên cứu phát sinh loài gần đây nhất chỉ ra rằng Osteichthyes là một nhóm cận ngành với các loài động vật có xương sống trên đất liền, và vì thế trong một số sơ đồ phân loại thì động vật bốn chân (siêu lớp Tetrapoda) được coi là thành viên của nhóm Osteichthyes.
Phần lớn cá xương thuộc về nhóm vây tia (Actinopterygii), chỉ có bảy loài còn tồn tại thuộc về nhóm cá vây thùy (Sarcopterygii), bao gồm cá có phổi và cá vây tay, trong đó một số loài cá vây thùy có khớp xương.
Osteichthyes là nhóm đa dạng nhất của động vật có xương sống, bao gồm trên 29.000 loài, điều này làm cho nó trở thành siêu lớp lớn nhất của động vật có xương sống mà hiện nay còn tồn tại.
Cá xương được đặc trưng bởi kiểu xương sọ khá ổn định, các răng có chân răng, chỗ bám trung bình của các cơ thuộc hàm dưới. Đầu và đai vai (vây ngực) được che phủ bằng các xương da lớn. Nhãn cầu được hỗ trợ bằng một vòng màng cứng gồm 4 xương nhỏ, nhưng đặc trưng này đã bị mất hoặc bị biến đổi ở nhiều loài hiện nay. Đường rối thuộc tai trong chứa các sỏi thính giác lớn. Vỏ não thông thường được chia thành các phần trước và sau, được ngăn cách bằng khe nứt. Cá xương hoặc là có bong bóng hoặc là có phổi. Chúng không có các gai vây, thay vì thế chúng hỗ trợ vây bằng các tia vây bằng xương (lepidotrichia). Chúng cũng có nắp mang cá, điều này giúp chúng có thể thở mà không cần bơi.
BACK
Lưỡng cư
(Amphibia; tk. lưỡng thê), lớp động vật có xương sống, gồm các loài động vật có xương sống ở cạn nguyên thuỷ như ếch, nhái, cóc, sa giông, cá cóc... Có bốn chân, chân năm ngón. Da trần và ướt (không có vảy). Đai chậu khớp với xương cùng. Có tai giữa, không có tai ngoài. LC là động vật biến nhiệt. Con trưởng thành có phổi, sống ở cạn, nhưng có thể hô hấp qua lớp da mỏng và ướt. Chỉ sống nơi ẩm ướt. Thụ tinh ngoài nên phải có nước để sinh sản. Ấu trùng thở bằng mang và trải qua quá trình biến thái trước khi đến dạng trưởng thành. Có hiện tượng ấu trùng kéo dài hoàn toàn hay từng phần ở một số như giông hổ (Ambystoma), sống hoàn toàn trong nước nên mang của ấu trùng tồn tại đến lúc trưởng thành và phổi bị teo đi. Lớp LC có vai trò quan trọng trong tiến hoá của động vật có xương sống, là động vật đầu tiên sống trên cạn, là động vật trung gian giữa cá và bò sát. Những đại diện nguyên thuỷ nhất ở kỉ Đêvon như Ichtyostegalia có hộp sọ rất giống hộp sọ của cá, còn Segmouriamorphe ở kỉ Pecmi lại có cấu tạo gần với bò sát. Hoá thạch phổ biến của LC trong trầm tích Đêvon - Triat có hộp sọ bao bọc bởi tấm xương cứng và dày như Stegocephalia. Các đại diện của LC hiện đại chỉ là phần nhỏ của lớp và được chia ra ba bộ, 2 850 loài. LC là động vật có ích, chúng ăn sâu bọ gây hại cho nông nghiệp.
BACK
Bò sát
(Reptilia), lớp động vật có xương sống bốn chân đầu tiên thích nghi hoàn toàn với đời sống ở cạn. Da khô, thiếu tuyến da và có vảy sừng chống thoát hơi nước. Thở bằng phổi. Tim 4 ngăn chưa hoàn toàn: máu giàu oxi (đã khử cacbon đioxit) và máu đen vẫn trộn lẫn vào nhau. Thụ tinh trong. Trứng lớn, vỏ thấm vôi hoặc vỏ dai. Phôi phát triển không qua giai đoạn ấu trùng. BS là động vật biến nhiệt, tiến hoá từ lưỡng cư nguyên thuỷ. Trong lịch sử địa chất, BS xuất hiện từ cuối nguyên đại Palêôzôi. BS hiện nay chỉ là phần sót lại của thế giới BS rất phong phú trong đại Trung sinh (cg. Mêzôzôi). Trong các kỉ Triat, Jura và Krêta, BS đã phát triển rất đa dạng và sống cả trên cạn, dưới nước (BS dạng cá) và trên không. Kích thước BS lúc đó thường rất lớn (khủng long), có loài dài tới 26 m (Diplodocus). Phân tích giải phẫu học và tài liệu cổ sinh vật, người ta cho rằng từ BS cổ của đại Trung sinh có ba nhánh tiến hoá, xuất hiện và hình thành ba nhóm động vật: động  vật có vú, chim và BS hiện nay. Đến cuối kỉ Krêta, tất cả các loài BS khổng lồ Trung sinh bị tuyệt diệt. Các loài BS hiện nay gồm các loài ở cạn như thằn lằn, rắn và ở nước như cá sấu, rùa. Xt. Diplodocus.
BACK
Chim
lớp động vật có xương sống. Cơ thể phủ lông vũ, hai chi trước biến thành cánh (cơ quan di chuyển trên không của đa số các loài C), đi bằng hai chân. Thân nhiệt cố định và cao (38 - 45 oC). Tim có 4 ngăn, máu động mạch và tĩnh mạch riêng. Bán cầu não và các giác quan, nhất là thị giác, thính giác rất phát triển. Bộ xương chắc, xốp và nhẹ, hàm biến thành mỏ, không có răng. Hô hấp kép: lúc hít vào và thở ra phổi đều có trao đổi khí do có hệ thống túi khí. Thức ăn của C rất đa dạng: một số ăn thực vật; một số ăn động vật; nhiều loài ăn cả hai loại hoặc ăn theo mùa, theo tuổi. Sinh sản tuỳ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh (thức ăn, khí hậu, vv.). Phân bố rộng khắp thế giới; ở sâu trong lục địa, các hải đảo, sa mạc, rừng rậm, bờ biển và quanh khu dân cư. C được hình thành từ bò sát cổ, có họ hàng với khủng long và cá sấu, vì vậy C còn một số đặc điểm của bò sát. Hiện nay đã biết khoảng 8,6 nghìn loài còn sống, trong đó hơn 5 nghìn loài thuộc bộ Chim sẻ. Ở Việt Nam, đã biết 826 loài, thuộc 72 họ, 20 bộ (nếu kể cả phân loài có hơn 1 nghìn dạng).
BACK
Thú
Mammalia), lớp động vật có vú, có tổ chức cơ thể cao nhất trong giới động vật, được thể hiện: sự phát triển cao của hệ thần kinh (cấu trúc vỏ não, van não mới) đảm bảo thích ứng nhạy bén với môi trường sống phức tạp; thân nhiệt cao và ổn định (nhiệt độ cơ thể 36 - 37oC); có cơ hoành ngăn cách xoang ngực và xoang bụng để bảo vệ các nội quan và hô hấp; đẻ con và nuôi con bằng sữa. Da T có chức năng chống chịu sự xâm nhập của vi khuẩn, tham gia bài tiết, điều hoà thân nhiệt và dự trữ năng lượng; da còn có sản phẩm sừng, lông, ria mép, trâm cứng (nhím, don), vảy sừng (tê tê) hoặc móng guốc (trâu, bò, ngựa, vv.). Xương chi phân hoá thích nghi với môi trường sống đa dạng, từ cấu tạo xương chi 5 ngón điển hình (T ăn thịt, Khỉ hầu, người), đến các loài thú móng guốc có số lượng ngón tiêu giảm còn 4, 3 hoặc 1 như hươu, nai, tê giác, ngựa. T có thính giác rất phát triển, có thể nghe được tần số dao động từ 16 Hz đến 20.000 Hz; vd. chó có thể nghe được âm thanh có tần số 25.000 Hz, dơi có thể nghe sóng siêu âm 98.000 Hz. Khứu giác giúp T tìm kiếm mồi, phân biệt giới tính, phát hiện kẻ thù... Các hệ hô hấp, sinh dục, tiêu hoá phát triển đầy đủ. Trọng lượng cơ thể biến động rất lớn, có loài như dơi muỗi chỉ nặng 15 g, có loài nặng 6.000 - 7.000 kg như voi Châu Phi hoặc nặng đến 150 tấn như cá voi xanh. Hiện nay, đã biết được khoảng 4 nghìn loài, 1.200 chi
BACK
Mục Lục
Động vật không xương sống
Thân lỗ
Giun dẹp
Giun tròn
Chân khớp
Thân mềm
Giun đốt
Da Gai
Động vật có xương sống
Cá miệng tròn
Động vật nữa dây sống
Cá Sụn
Cá xương
Lưỡng cư
Bò sát
Chim
Thú

END
 
Gửi ý kiến