Tuần 19. Đại cáo bình Ngô (Bình Ngô đại cáo)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Thị Hồng Đào
Ngày gửi: 22h:09' 20-10-2021
Dung lượng: 6.7 MB
Số lượt tải: 136
Nguồn:
Người gửi: Hồ Thị Hồng Đào
Ngày gửi: 22h:09' 20-10-2021
Dung lượng: 6.7 MB
Số lượt tải: 136
Số lượt thích:
0 người
Chào mừng cô và các bạn đến với bài thuyết trình của tổ 3
7/5/2021
A) Tác Phẩm
1) Hoàn Cảnh Sáng Tác
Đầu năm 1428 , sau 10 năm “ ăn gió nằm sương
nếm mật làm gai” – KN Lam Sơn Lê Lợi toàn thắng
hiểm hách , quân Minh hoàn toàn bị quét sạch
khỏi bờ cõi nước ta kết thúc 20 năm nô lệ đau thương
Tháng 1 / 1428, Thừa Lệnh Lê Lợi Nguyễn Trãi viết
Bình Ngô Đại Cáo để thông cáo cho toàn dân được biết
chiến tranh đã kết thúc và hòa bình lập lại mở ra 1
thời đại mới cho toàn dân tộc
2)Thể loại
Bài văn được viết bằng thể cáo, cáo là thể văn nghị
luận có từ thời cổ Trung Quốc , thường được vua
chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày 1 chủ trương ,
1 sự nghiệp, tuyên ngôn , 1 sự kiện để mọi người
cũng biết.
Cáo có thể được viết bằng văn vần hay văn xuôi
bởi phần nhiều được viết bằng văn biểu mẫu, lời lẽ
phải đanh thép , lí luận phải sắc bén, kết cấu phải
chặt chẽ, mạch lạc
3) Bố cục: 2 phần
- Phần 1:(Từ đầu đến chứng cớ còn ghi)
→ Nêu luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến
-Phần 2 : (vừa rồi….chịu được)
→Tố cáo tội ác của giặc Minh
↔ Tuyên bố chiến tranh kết thúc và nêu cao
ước nguyện xây dựng chế độ thịnh trị của Lê Lợi
B) Phân Tích
1) Phần 1 : Luận đề chính nghĩa
Luận điểm 1 : Tư tưởng nhân nghĩa
“Nhân nghĩa” vốn là mối quan hệ giữa con người với con
người trên cơ sở của tình thương yêu con người ( làng xã)
và đạo lí sống làm người:biết trước,biết sau,biết trên,biết
dưới .Nhân nghĩa xuất phát chính từ làng xã đạo đạo làm
người- một truyền thống đạo đức đẹp đẽ của con người
Việt Nam ta. Việc làm xã nghĩa nhất là phải giữ cho dân
được yên, mà muốn dân yên thì phải ra tay “trừ bạo” .
“Bạo” có nghĩa là giặc, là quân hung tàn bạo ngược giặc
ba gồm cả giặc ngoài, cả ngoại xâm lẫn nội quân xâm lược
hung tàn(quân Minh),bảo vệ nền độc lập dân tộc.
↔ Đây là tư tưởng xã nghĩa vô cùng trong sáng cao cả, đẹp đẽ của
Nguyễn Trãi và cũng là d.tộc VN ta tư tưởng ấy xuyên suốt bài cáo, là
tư tưởng chủ đạo.
Luận điểm 2 : Lời tuyên ngôn độc lập
Là những lời cáo hùng hồn khẳng định chủ quyền quốc
gia dân tộc : “Như nước ….đời nào cũng có”
Nền văn hiến đã có từ lâu và được hình thành từ khi đất nước ta tồn tại theo hàng nghìn năm lịch sử đã tạo nên một diện mạo riêng của dân tộc. Cùng với đó là sự phân chia về lãnh thổ, núi sông và các phong tập tập quán đặc trưng của hai miền Nam, Bắc đã thể hiện đất nước ta là một đất nước có chủ quyền, có các anh hùng hào kiệt luôn cống hiến, chiến đấu hết mình để bảo vệ non sông. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn đặt các triều đại của nước ta ngang hàng với các triều đại của Trung Quốc như Hán, Đường, Tống, Nguyên. Nếu các triều đại phương Bắc phát triển hưng thịnh thì các triều đại Việt Nam cũng phát triển hùng mạnh không kém.
↔Điều đó đã thể hiện lòng tự tôn, tự hào dân tộcsâu sắc của tác giả.
Luận điểm 3: Lời răn đe quân xâm lược
Và sau cùng, Nguyễn Trãi đã rất hả hê khi nhắc lại những chiến công oanh liệt do những anh hùng hào kiệt nước Đại Việt lập nên. Ông như muốn cười vào mũi bọn phương Bắc – cái lũ đã xem nước ta như một quận huyện nhỏ của chúng, cái lũ chỉ tham công, thích lớn, thậm chí còn trắng trợn muốn làm cỏ nước Nam – thế mà lại thua te tua và thảm hại, thua hết sức nhục nhã mỗi khi giao chiến với nước Nam nhỏ bé ấy: Lưu..ghi
Đây là lời đầy tự hào qua hệ thống lập luận hết sức đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc.Thể hiện rõ nét qua một đất nước có nhân nghĩa, có một nền văn hiến hết sức lâu đời và nhờ lấy “nhân nghĩa” làm triết lí sống nên mới có được nền văn hiến lâu đời đến như vậy, mới đánh thắng được bọn xâm lược phương Bắc, những kẻ không có chút “nhân nghĩa” đó.
↔ Khẳng định luận đề chính nghĩa , việc làm của người xã nghĩa , khẳng định cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chính nghĩa ,những cuộcchiến phi nghĩa sẽ bị tiêu vọng
2) Phần 2 : Làm rõ tội ác giặc Minh
“Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh”
Đoạn 1 )
Sau khi khẳng định chủ quyền dân tộc trên các lĩnh vực triều đại, văn hóa, biên giới, lịch sử, Nguyễn Trãi trình bày cho toàn dân thiên hạ biết về âm mưu xâm chiếm nước ta một lần nữa của bọn giặc Minh:
-Đến cuối năm 1427 trải qua 20 năm vô cùng đau thương và tủi nhục
của dân tộc Đại Việt .Trong 20 năm đó chính quyền đô hộ nhà Minh đã
thực hiện nhiều chính sách cai trị thâm độc bằng những biện pháp vừa
tinh vi vừa thắng trơn để xóa bỏ quá khứ lịch sử đấu tranh dựng nước giữ nước .Nhà Minh đã nhiều lần cho đốt sách vở để làm khuynh bại văn hóa văn hiến của chúng ta , họ còn cho đốt sách của các em nhỏ ,đập phá các bia đá và các chứng tích lịch sử.
-Cuối năm 1406 thời thế có nhiều biến loạn, chính sự nhà Hồ bất ổn, con cháu nhà Trần lại sang cầu viện giặc Minh.Nhà Minh nhân đó lấy cớ “ phù Trần diệt Hồ”, điều 20 vạn binh chia làm 2 mũi, tràn vào nước ta cả đường bộ, lẫn đường thủy . Nhà Minh còn sai người mang sắc dụ vua Chăm-Pa phối hợp tấn công nước ta ở biên giới phía Nam.Nhà Hồ chính thức sụp đổ vào năm 1407 và nhà Minh chính thức đặt nền đô hộ lên nước ta.
Đoạn 2: Trong đại cáo Đại Cáo Bình Ngô vạch
rõ và tố cáo 1 cách mạnh mẽ tất cả những tội ác
của chúng.
-Đầu tiên, tác giả khẳng định đó là 1 tội ác “ bại nhân nghĩa nát
cả đất trời”-tội khủng bố hết sức dã man:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hùng tàn
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”
Dối trời lừa dân đủ muôn kế nghìn kế
Gây binh kết oán trải hai mươi năm .
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi
“ Dân đen” là những tầng lớp bầng hàn nghèo khó khó hèn kém, là những người dân vô tội. “Con đỏ” là những đứa trẻ sơ sinh còn đỏ hỏn rất là yếu ớt bé nhỏ. Dân đỏ - con đỏ là dùng để chỉ chung cho những con người bé nhỏ yếu ớt ko có sức chống đỡ ko tữ bảo vệ được mình .Nhưng chính những “ dân đen- con đỏ” này lại là đối tượng bị tàn sát đầu tiên của bọn
giặc dữ .Chúng sát hại dân ta bằng những hình thức vô cùng man rợ . Thiêu sống , chôn sống – hình thức giết người của cái thời trung cổ bạo tàn, lời cáo của Nguyễn Trãi chất ngất nỗi uất hận đau thương.Bằng những hình thức ấy chúng khủng bố tinh thần dân ta làm ai nấy đều khiếp đảm → để chúng dễ bề cai thị bóc lột. Nhưng đau đớn hơn, là tội ác chúng gây ra cho dân tộc, những người dân đen con đỏ, đầy thương xót. Dưới ngòi bút sắc sảo của thi hào Nguyễn Trãi, chưa bao giờ hình ảnh nhân dân hiện lên lại chua xót, cay đắng và đầy căm phẫn đến như vậy
Đoạn 3:Những bóc lột của Quân Minh được Nguyễn
Trãi vạch rõ bằng những lời cáo vô cùng cụ thể rành rõ:
“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăn Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt”
2 câu văn có độ dài đặc biệt khác thường cho chúng ta thấy được tội ác
của bọn giặc dữ là không gì kể hết được vì vô cùng to lớn thâm độc. Quân Minh đã phá đi cuộc sống của họ, phá tan biết bao cơ nghiệp, làm chảy máu và nước mắt của biết bao gia đình. Không những thế chúng còn đặt ra nhiều thứ thuế vô lý bóp nghẹt con đường sống của những người dân lương thiện này. Chúng tận vơ , tận vét tất cả ngọc ngà, châu báu dưới biển sâu trên rừng thẳm.Tìm bắt “chim trả”, “hươu đen”.Để nói rõ tội ác của giặc ,Nguyễn Trãi đã Sử dụng rõ phép liệt kê , đối lập, câu văn, giọng văn thay đổi linh hoạt và rất giàu hoàn cảnh đầy cảm xúc .
Đoạn 4 : Không dừng lại ở đó, quân xâm lược còn thi hành hàng loạt biện pháp man rợ khác nhằm bóc lột sức lao động, vắt kiệt sinh khí của nước ta, đồng thời tàn phá kế sinh nhai của nhân dân:
“Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng…”
Hiện trạng đất nước được phô ra trước mắt với những hình ảnh đau thương, khắp nơi khắp chốn cạm bẫy, lưới giăng đến cây cỏ còn bị sát hại huống chi đến con người. Từ những sản vật cho đến động vật, thực vật đều không sống nổi với sự tàn ác của giặc Minh .
Chúng đề ra những việc ép nhân dân thành nô lệ, bóc lột tận cùng sức lao động của nhân dân.Tội ác của quân Minh được nhìn nhận ở góc độ tác động đến cuộc sống của nhân dân.
Đoạn 5: Lúc chất ngất hờn căm phẫn nộ , lúc đầy xót xa đau đớn:
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no
nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch
cho vừa?
Nặng nề những nỗi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.”
Bại hoại nhân nghĩa, trời bất dung, đất bất thứ là những thứ dùng để diễn tả về những tội ác đẫm máu của quân Minh trên đất Đại Việt. Tất cả đều được ngòi bút sắc hơn ngọn giáo của Nguyễn Trãi ghi tạc vào sử sách bằng giọng điệu uất hận nghẹn ngào kết hợp với biện pháp phóng đại, hình ảnh kì vĩ, vô tận, tội ác chồng chất bị phơi bày trong bản cáo trạng đẫm máu và nước mắt. ở đây, bản tuyên ngôn độc lập còn có giá trị như một bản tuyên ngôn nhân quyền, vạch rõ sự bại hoại nhân nghĩa của quân thù. Tất cả những tội ác của chúng đều được vạch rõ và chứng minh bằng những chứng cứ xác đáng, không thể chối cãi, rồi dồn lại vào hình tượng đối lập giữa lũ giặc mọi rợ hùng bạn với người dân nhỏ bé bị chúng hành hạ, vắt kiệt sức lực, mồ hôi, máu và nước mắt
Đoạn 6 :Những tội ác của quân Minh không sao kể
hết bởi lẽ:
"Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được"?
Ngay cả trúc Nam Sơn, nước Đông Hải cũng không thể ghi hết tội ác và rửa sạch mùi dơ bẩn của quân xâm lược. Những hành động tàn ác, dã man của chúng khiến trời đất cũng không thể dung tha huống chi là con người. Câu hỏi tu từ cuối đoạn thứ hai đã nhấn mạnh thêm một lần nữa tội ác của kẻ thù. Chúng ta không thể nào tha thứ cho những kẻ đã tàn sát đồng bào, tàn hại cả cây cỏ thiên nhiên của đất nước mình.
Hình ảnh đối lập giữa những người dân đen vô tội bị bóc lột tàn bạo và kẻ thù vô nhân tính cùng giọng điệu cảm thương, đanh thép, lí luận sắc bén đã thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Hai đoạn đầu của bài cáo là bản cáo trạng hùng hồn tố cáo những hành động dã man của quân Minh. Đó là minh chứng tiêu biểu nhất cho sự khổ cực, áp bức, sự cướp bóc, bóc lột trắng trợn mà nhân dân ta phải gánh chịu trong suốt thời gian
B) Nội Dung Và Nghệ Thuật
-Nội Dung :
+) Phần 1 bàn về khẳng định chủ quyền , lãnh thỗ ,nền văn
hiến , phân chia ranh giới tư tưởng nhân nghĩa của NT là lấy
dân làm gốc .Ông đưa ra các dẫn chứng các thời đại như là ;
Triệu, Đinh,Lý ,Trần ,Hán,Đường ,Tống ,Nguyên.Từ đó , ông muốn khẳng định lãnh thổ là Việt Nam là bất khả xâm phạm
và những kẻ xâm lược sẽ nhận kết cục xấu :
“Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cứ còn ghi”.
Phần 2 : Kể ra những tội ác phi nhân
nghĩa của giặc :
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán
thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng
sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
-Nghệ Thuật:
+) Liệt kê: qua những triều đại phong kiến,độc ác của giặc.
+) Lập luận chặt chẽ ,sắc bén, đưa ra những dẫn chứng cụ
thể ,dùng giọng thơ hùng hồn.
- Ý nghĩa :
+) Nổi bật lên hình ảnh của tráng sĩ Nguyễn Trãi tài ba,
mưu lược
+) Đã khẳng định hùng hồn chủ quyền nước Nam
+) Tố cáo những thể lực xấu xa.
+) Khát vọng nhân dân có 1 cuộc sống bình yên
Cảm Ơn Cô Và Các Bạn Đã XEM
7/5/2021
A) Tác Phẩm
1) Hoàn Cảnh Sáng Tác
Đầu năm 1428 , sau 10 năm “ ăn gió nằm sương
nếm mật làm gai” – KN Lam Sơn Lê Lợi toàn thắng
hiểm hách , quân Minh hoàn toàn bị quét sạch
khỏi bờ cõi nước ta kết thúc 20 năm nô lệ đau thương
Tháng 1 / 1428, Thừa Lệnh Lê Lợi Nguyễn Trãi viết
Bình Ngô Đại Cáo để thông cáo cho toàn dân được biết
chiến tranh đã kết thúc và hòa bình lập lại mở ra 1
thời đại mới cho toàn dân tộc
2)Thể loại
Bài văn được viết bằng thể cáo, cáo là thể văn nghị
luận có từ thời cổ Trung Quốc , thường được vua
chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày 1 chủ trương ,
1 sự nghiệp, tuyên ngôn , 1 sự kiện để mọi người
cũng biết.
Cáo có thể được viết bằng văn vần hay văn xuôi
bởi phần nhiều được viết bằng văn biểu mẫu, lời lẽ
phải đanh thép , lí luận phải sắc bén, kết cấu phải
chặt chẽ, mạch lạc
3) Bố cục: 2 phần
- Phần 1:(Từ đầu đến chứng cớ còn ghi)
→ Nêu luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến
-Phần 2 : (vừa rồi….chịu được)
→Tố cáo tội ác của giặc Minh
↔ Tuyên bố chiến tranh kết thúc và nêu cao
ước nguyện xây dựng chế độ thịnh trị của Lê Lợi
B) Phân Tích
1) Phần 1 : Luận đề chính nghĩa
Luận điểm 1 : Tư tưởng nhân nghĩa
“Nhân nghĩa” vốn là mối quan hệ giữa con người với con
người trên cơ sở của tình thương yêu con người ( làng xã)
và đạo lí sống làm người:biết trước,biết sau,biết trên,biết
dưới .Nhân nghĩa xuất phát chính từ làng xã đạo đạo làm
người- một truyền thống đạo đức đẹp đẽ của con người
Việt Nam ta. Việc làm xã nghĩa nhất là phải giữ cho dân
được yên, mà muốn dân yên thì phải ra tay “trừ bạo” .
“Bạo” có nghĩa là giặc, là quân hung tàn bạo ngược giặc
ba gồm cả giặc ngoài, cả ngoại xâm lẫn nội quân xâm lược
hung tàn(quân Minh),bảo vệ nền độc lập dân tộc.
↔ Đây là tư tưởng xã nghĩa vô cùng trong sáng cao cả, đẹp đẽ của
Nguyễn Trãi và cũng là d.tộc VN ta tư tưởng ấy xuyên suốt bài cáo, là
tư tưởng chủ đạo.
Luận điểm 2 : Lời tuyên ngôn độc lập
Là những lời cáo hùng hồn khẳng định chủ quyền quốc
gia dân tộc : “Như nước ….đời nào cũng có”
Nền văn hiến đã có từ lâu và được hình thành từ khi đất nước ta tồn tại theo hàng nghìn năm lịch sử đã tạo nên một diện mạo riêng của dân tộc. Cùng với đó là sự phân chia về lãnh thổ, núi sông và các phong tập tập quán đặc trưng của hai miền Nam, Bắc đã thể hiện đất nước ta là một đất nước có chủ quyền, có các anh hùng hào kiệt luôn cống hiến, chiến đấu hết mình để bảo vệ non sông. Không chỉ vậy, Nguyễn Trãi còn đặt các triều đại của nước ta ngang hàng với các triều đại của Trung Quốc như Hán, Đường, Tống, Nguyên. Nếu các triều đại phương Bắc phát triển hưng thịnh thì các triều đại Việt Nam cũng phát triển hùng mạnh không kém.
↔Điều đó đã thể hiện lòng tự tôn, tự hào dân tộcsâu sắc của tác giả.
Luận điểm 3: Lời răn đe quân xâm lược
Và sau cùng, Nguyễn Trãi đã rất hả hê khi nhắc lại những chiến công oanh liệt do những anh hùng hào kiệt nước Đại Việt lập nên. Ông như muốn cười vào mũi bọn phương Bắc – cái lũ đã xem nước ta như một quận huyện nhỏ của chúng, cái lũ chỉ tham công, thích lớn, thậm chí còn trắng trợn muốn làm cỏ nước Nam – thế mà lại thua te tua và thảm hại, thua hết sức nhục nhã mỗi khi giao chiến với nước Nam nhỏ bé ấy: Lưu..ghi
Đây là lời đầy tự hào qua hệ thống lập luận hết sức đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc.Thể hiện rõ nét qua một đất nước có nhân nghĩa, có một nền văn hiến hết sức lâu đời và nhờ lấy “nhân nghĩa” làm triết lí sống nên mới có được nền văn hiến lâu đời đến như vậy, mới đánh thắng được bọn xâm lược phương Bắc, những kẻ không có chút “nhân nghĩa” đó.
↔ Khẳng định luận đề chính nghĩa , việc làm của người xã nghĩa , khẳng định cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chính nghĩa ,những cuộcchiến phi nghĩa sẽ bị tiêu vọng
2) Phần 2 : Làm rõ tội ác giặc Minh
“Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh”
Đoạn 1 )
Sau khi khẳng định chủ quyền dân tộc trên các lĩnh vực triều đại, văn hóa, biên giới, lịch sử, Nguyễn Trãi trình bày cho toàn dân thiên hạ biết về âm mưu xâm chiếm nước ta một lần nữa của bọn giặc Minh:
-Đến cuối năm 1427 trải qua 20 năm vô cùng đau thương và tủi nhục
của dân tộc Đại Việt .Trong 20 năm đó chính quyền đô hộ nhà Minh đã
thực hiện nhiều chính sách cai trị thâm độc bằng những biện pháp vừa
tinh vi vừa thắng trơn để xóa bỏ quá khứ lịch sử đấu tranh dựng nước giữ nước .Nhà Minh đã nhiều lần cho đốt sách vở để làm khuynh bại văn hóa văn hiến của chúng ta , họ còn cho đốt sách của các em nhỏ ,đập phá các bia đá và các chứng tích lịch sử.
-Cuối năm 1406 thời thế có nhiều biến loạn, chính sự nhà Hồ bất ổn, con cháu nhà Trần lại sang cầu viện giặc Minh.Nhà Minh nhân đó lấy cớ “ phù Trần diệt Hồ”, điều 20 vạn binh chia làm 2 mũi, tràn vào nước ta cả đường bộ, lẫn đường thủy . Nhà Minh còn sai người mang sắc dụ vua Chăm-Pa phối hợp tấn công nước ta ở biên giới phía Nam.Nhà Hồ chính thức sụp đổ vào năm 1407 và nhà Minh chính thức đặt nền đô hộ lên nước ta.
Đoạn 2: Trong đại cáo Đại Cáo Bình Ngô vạch
rõ và tố cáo 1 cách mạnh mẽ tất cả những tội ác
của chúng.
-Đầu tiên, tác giả khẳng định đó là 1 tội ác “ bại nhân nghĩa nát
cả đất trời”-tội khủng bố hết sức dã man:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hùng tàn
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”
Dối trời lừa dân đủ muôn kế nghìn kế
Gây binh kết oán trải hai mươi năm .
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi
“ Dân đen” là những tầng lớp bầng hàn nghèo khó khó hèn kém, là những người dân vô tội. “Con đỏ” là những đứa trẻ sơ sinh còn đỏ hỏn rất là yếu ớt bé nhỏ. Dân đỏ - con đỏ là dùng để chỉ chung cho những con người bé nhỏ yếu ớt ko có sức chống đỡ ko tữ bảo vệ được mình .Nhưng chính những “ dân đen- con đỏ” này lại là đối tượng bị tàn sát đầu tiên của bọn
giặc dữ .Chúng sát hại dân ta bằng những hình thức vô cùng man rợ . Thiêu sống , chôn sống – hình thức giết người của cái thời trung cổ bạo tàn, lời cáo của Nguyễn Trãi chất ngất nỗi uất hận đau thương.Bằng những hình thức ấy chúng khủng bố tinh thần dân ta làm ai nấy đều khiếp đảm → để chúng dễ bề cai thị bóc lột. Nhưng đau đớn hơn, là tội ác chúng gây ra cho dân tộc, những người dân đen con đỏ, đầy thương xót. Dưới ngòi bút sắc sảo của thi hào Nguyễn Trãi, chưa bao giờ hình ảnh nhân dân hiện lên lại chua xót, cay đắng và đầy căm phẫn đến như vậy
Đoạn 3:Những bóc lột của Quân Minh được Nguyễn
Trãi vạch rõ bằng những lời cáo vô cùng cụ thể rành rõ:
“Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăn Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt”
2 câu văn có độ dài đặc biệt khác thường cho chúng ta thấy được tội ác
của bọn giặc dữ là không gì kể hết được vì vô cùng to lớn thâm độc. Quân Minh đã phá đi cuộc sống của họ, phá tan biết bao cơ nghiệp, làm chảy máu và nước mắt của biết bao gia đình. Không những thế chúng còn đặt ra nhiều thứ thuế vô lý bóp nghẹt con đường sống của những người dân lương thiện này. Chúng tận vơ , tận vét tất cả ngọc ngà, châu báu dưới biển sâu trên rừng thẳm.Tìm bắt “chim trả”, “hươu đen”.Để nói rõ tội ác của giặc ,Nguyễn Trãi đã Sử dụng rõ phép liệt kê , đối lập, câu văn, giọng văn thay đổi linh hoạt và rất giàu hoàn cảnh đầy cảm xúc .
Đoạn 4 : Không dừng lại ở đó, quân xâm lược còn thi hành hàng loạt biện pháp man rợ khác nhằm bóc lột sức lao động, vắt kiệt sinh khí của nước ta, đồng thời tàn phá kế sinh nhai của nhân dân:
“Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng…”
Hiện trạng đất nước được phô ra trước mắt với những hình ảnh đau thương, khắp nơi khắp chốn cạm bẫy, lưới giăng đến cây cỏ còn bị sát hại huống chi đến con người. Từ những sản vật cho đến động vật, thực vật đều không sống nổi với sự tàn ác của giặc Minh .
Chúng đề ra những việc ép nhân dân thành nô lệ, bóc lột tận cùng sức lao động của nhân dân.Tội ác của quân Minh được nhìn nhận ở góc độ tác động đến cuộc sống của nhân dân.
Đoạn 5: Lúc chất ngất hờn căm phẫn nộ , lúc đầy xót xa đau đớn:
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no
nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch
cho vừa?
Nặng nề những nỗi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.”
Bại hoại nhân nghĩa, trời bất dung, đất bất thứ là những thứ dùng để diễn tả về những tội ác đẫm máu của quân Minh trên đất Đại Việt. Tất cả đều được ngòi bút sắc hơn ngọn giáo của Nguyễn Trãi ghi tạc vào sử sách bằng giọng điệu uất hận nghẹn ngào kết hợp với biện pháp phóng đại, hình ảnh kì vĩ, vô tận, tội ác chồng chất bị phơi bày trong bản cáo trạng đẫm máu và nước mắt. ở đây, bản tuyên ngôn độc lập còn có giá trị như một bản tuyên ngôn nhân quyền, vạch rõ sự bại hoại nhân nghĩa của quân thù. Tất cả những tội ác của chúng đều được vạch rõ và chứng minh bằng những chứng cứ xác đáng, không thể chối cãi, rồi dồn lại vào hình tượng đối lập giữa lũ giặc mọi rợ hùng bạn với người dân nhỏ bé bị chúng hành hạ, vắt kiệt sức lực, mồ hôi, máu và nước mắt
Đoạn 6 :Những tội ác của quân Minh không sao kể
hết bởi lẽ:
"Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được"?
Ngay cả trúc Nam Sơn, nước Đông Hải cũng không thể ghi hết tội ác và rửa sạch mùi dơ bẩn của quân xâm lược. Những hành động tàn ác, dã man của chúng khiến trời đất cũng không thể dung tha huống chi là con người. Câu hỏi tu từ cuối đoạn thứ hai đã nhấn mạnh thêm một lần nữa tội ác của kẻ thù. Chúng ta không thể nào tha thứ cho những kẻ đã tàn sát đồng bào, tàn hại cả cây cỏ thiên nhiên của đất nước mình.
Hình ảnh đối lập giữa những người dân đen vô tội bị bóc lột tàn bạo và kẻ thù vô nhân tính cùng giọng điệu cảm thương, đanh thép, lí luận sắc bén đã thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi. Hai đoạn đầu của bài cáo là bản cáo trạng hùng hồn tố cáo những hành động dã man của quân Minh. Đó là minh chứng tiêu biểu nhất cho sự khổ cực, áp bức, sự cướp bóc, bóc lột trắng trợn mà nhân dân ta phải gánh chịu trong suốt thời gian
B) Nội Dung Và Nghệ Thuật
-Nội Dung :
+) Phần 1 bàn về khẳng định chủ quyền , lãnh thỗ ,nền văn
hiến , phân chia ranh giới tư tưởng nhân nghĩa của NT là lấy
dân làm gốc .Ông đưa ra các dẫn chứng các thời đại như là ;
Triệu, Đinh,Lý ,Trần ,Hán,Đường ,Tống ,Nguyên.Từ đó , ông muốn khẳng định lãnh thổ là Việt Nam là bất khả xâm phạm
và những kẻ xâm lược sẽ nhận kết cục xấu :
“Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết chí lớn phải vong thân
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cứ còn ghi”.
Phần 2 : Kể ra những tội ác phi nhân
nghĩa của giặc :
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán
thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng
sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng.
-Nghệ Thuật:
+) Liệt kê: qua những triều đại phong kiến,độc ác của giặc.
+) Lập luận chặt chẽ ,sắc bén, đưa ra những dẫn chứng cụ
thể ,dùng giọng thơ hùng hồn.
- Ý nghĩa :
+) Nổi bật lên hình ảnh của tráng sĩ Nguyễn Trãi tài ba,
mưu lược
+) Đã khẳng định hùng hồn chủ quyền nước Nam
+) Tố cáo những thể lực xấu xa.
+) Khát vọng nhân dân có 1 cuộc sống bình yên
Cảm Ơn Cô Và Các Bạn Đã XEM
 








Các ý kiến mới nhất