Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 10. Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: VÕ THỊ HỒNG VÂN
Ngày gửi: 09h:58' 08-11-2021
Dung lượng: 9.5 MB
Số lượt tải: 438
Số lượt thích: 0 người
( Trích trường ca Mặt đường khát vọng)
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
- Sinh 1943, xã Phong Hoà, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế.
- Xuất thân: trong gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng.
- Là một trong những cây bút tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ trong những năm chống Mĩ.
- Phong cách thơ: Giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, mang màu sắc chính luận.
- Tác phẩm chính:
+ Đất ngoại ô (Tập thơ, 1972)
+ Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974)
+ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986)
+ Thơ Nguyễn Khoa Điềm (tuyển chọn, 1990)
+ Cõi lặng (thơ, 2007)
2. Trường ca Mặt đường khát vọng:
a. Hoàn cảnh sáng tác:

Năm 1971, ở giữa chiến khu Trị - Thiên, hướng về tuổi trẻ Việt Nam trong những ngày sục sôi đánh Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm viết "Mặt đường khát vọng".
 Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong kháng chiến chống Mỹ
b. Nội dung:
Viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm ở miền Nam trước 1975:
- Nhận thức rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ
- Hướng về nhân dân, đất nước
- Ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình trong cuộc đấu tranh của toàn dân tộc.
 Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong kháng chiến chống Mỹ
3. Đoạn trích:
- Phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng”
- Được xem là đoạn thơ hay về đề tài quê hương đất nước của thơ ca Việt Nam hiện đại.
- Thể loại: Trường ca (có sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình)
- Bố cục: Gồm hai phần:
- Phần 1: Từ đầu đến “Làm nên đất nước muôn đời”
 Những cảm nhận mới mẻ của tác giả về đất nước.
- Phần 2: Còn lại
 Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”.
II. Đọc – hiểu văn bản:
1. Phần 1: Những cảm nhận mới mẻ của tác giả về đất nước:
- Mở đầu bài thơ Quê hương Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Đình Thi có viết:
"Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả dập dờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều“
 Nguyễn Đình Thi cảm nhận đất nước ở những đường nét hoành tráng
(Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn;
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều)
- Trong bài “Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”, nhà thơ Chế Lan Viên viết:
"Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ Quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trong sóng Bạch Đằng".
 Chế Lan Viên nhìn đất nước qua những trang sử hào hùng
a. “Đất Nước” có từ bao giờ ?: (Từ đầu…đến “Đất Nước có từ ngày đó”)
“Ta” : đại diện cho cả thế hệ trẻ nói lên ý thức tìm hiểu cội nguồn của đất nước.
- “Đã có rồi”: Khẳng đinh sự hiện hữu lâu đời của Đất nước (ĐN có từ trước khi con người sinh ra)
+ “Đất Nước có từ… “ngày xửa ngày xưa…” : Thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích --> Đất nước có từ rất lâu, rất xa trong sâu thẳm của thời gian lịch sử.
Nguyễn Khoa Điềm giải mã bằng nhận thức lắng sâu.
Đất Nước có trong câu chuyện cổ tích “ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”  khắc sâu những hình ảnh về cuộc sống của cha ông trong quá khứ.
“miếng trầu bây giờ bà ăn”: Từ phong tục tập quán giao tiếp của người Việt “Miếng trầu là đầu câu chuyện”,từ tâm hồn dân tộc giàu tình yêu thương, thủy chung, gắn bó (sự tích Trầu Cau, ca dao…)
+ Đất nước hình thành và phát triển từ :
Đất Nước phát triển từ lịch sử đấu tranh của dân tộc: Truyền thuyết "Thánh Gióng"  cho biết sự vươn mình, đánh dấu về sức mạnh quật khởi của dân tộc trong sự nghiệp chiến đấu hi sinh bảo vệ bờ cõi.
+ Đất Nước còn gắn với phong tục, tập quán quen thuộc (Tóc mẹ thì bới sau đầu) và đạo lí tốt đẹp lâu đời của dân tộc - tình nghĩa thủy chung vợ chồng (Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn)
+ Đất Nước còn phát triển cùng với quá trình lao động cần cù, lam lũ và sự sáng tạo không ngừng nghỉ của con người:
. Mỗi vật dụng đều có một cái tên riêng "Cái kèo cái cột thành tên"  những cái tên có từ rất lâu, từ khi con người biết "dựng nhà, dựng cửa".
Làng quê Việt Nam có luỹ tre xanh, có mái nhà tranh
. Qúa trình lao động để làm ra hạt gạo cũng rất gian truân: thành ngữ: “một nắng hai sương” + động từ “xay, giã, giần, sàn”
- Lịch sử lâu đời của đất nước:
Được nhắc đến bằng:
+ câu chuyện cổ tích “Trầu cau”,
+ truyền thuyết Thánh Gióng,
+ phong tục tập quán,
+ nền văn minh lúa nước.
 Tác giả dùng một loạt hình ảnh và ngôn từ đậm màu sắc dân gian: miếng trầu, các truyện kể dân gian, thành ngữ "gừng cay muối mặn", "một nắng hai sương"
 Đất Nước được cảm nhận từ chiều sâu văn hoá và lịch sử.
b. Đất nước là gì?
- Về phương diện không gian - địa lí: Tác giả chia tách khái niệm Đất Nước thành hai yếu tố Đất và Nước để cảm nhận và suy tư về đất nước một cách sâu sắc:
+ Là nơi gắn với cuộc sống sinh hoạt hàng ngày:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
+ Là nơi gắn với kỉ niệm tình yêu đôi lứa:
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
+ Đất Nước còn là núi sông, rừng bể:
Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi”
 không gian mênh mông, rộng lớn.
 niềm tự hào về đất nước trù phú, giàu đẹp, tài nguyên vô tận.
+ Đất Nước là không gian sinh tồn của cộng đồng người Việt qua biết bao thế hệ:
Từ quá khứ (Những ai đã khuất), hiện tại (Những ai bây giờ), đến các thế hệ tương lai (Dặn dò con cháu chuyện mai sau)
+ Tất cả đều không quên nguồn cội:
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ
LỄ GIỔ TỔ HÙNG VƯƠNG
- Về phương diện thời gian lịch sử:
+ Đất Nước gắn liền với huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, truyền thuyết các vua Hùng dựng nước.
 Niềm tự hào về bề dày lịch sử đất nước, về cội nguồn thiêng liêng của dân tộc.
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
- Đất Nước trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng:
+ Đất Nước không ở đâu xa mà có mặt trong mỗi con người:
“Trong anh và em hôm nay,
Đều có một phần Đất Nước”
 Mỗi người Việt Nam đều được thừa hưởng một phần vật chất và tinh thần của đất nước.
+ Đất nước là sự hài hoà nhiều mối quan hệ:
.Đất nước hóa thân trong tình yêu lứa đôi:“Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
. Lớn mạnh trong tình đoàn kết dân tộc: Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn to lớn”
 Đất nước được xây dựng trên cơ sở của tình yêu thương và tình đoàn kết của dân tộc.
Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
- Lời nhắn nhủ của tác giả:
Em ơi em
Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời..
 Điệp ngữ, những từ ngữ “máu xương”, “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân”, cách xưng hô thân mật “Em ơi em”, giọng thơ ngọt ngào -> nhắn gửi thế hệ trẻ cũng như bản thân: Cần có trách nhiệm giữ gìn, xây đắp, làm cho đất nước sống mãi muôn đời.
2. Phần 2: Tư tưởng “Đất Nước của nhân dân”:
a. Ai đã làm ra bức tranh địa lí muôn màu của đất nước?
- Địa lí của đất nước được hình thành từ cuộc đời và số phận của nhân dân:
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”
+ Bao thế hệ con người VN đã tạc vào núi sông vẻ đẹp tâm hồn yêu thương, thủy chung để ta có: “Núi Vọng Phu”, “Hòn Trống Mái”.
Núi Vọng Phu
hòn Trống Mái
 Lẽ sống anh hùng và truyền thống đánh giặc giữ nước để t có những “ao đầm” hôm nay.
+ Ca ngợi vẻ đẹp của Đất Nước về mặt lịch sử và truyền thống:
"Gót ngựa của …
… Hùng Vương"
"Chín mươi chín" núi con Voi đã quần tụ, chung sức chung lòng "góp mình dựng đất tổ Hùng Vương".
+ Đất Nước ta còn có những dòng sông thơ mộng:
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
 Rồng "nằm im" từ bao đời nay mà quê hương có "dòng sông xanh thẳm" cho nước ngọt phù sa, nhiều tôm cá, mênh mông biển lúa bốn mùa.
+ Truyền thống hiếu học của nhân dân để ta có những “Núi Bút, non Nghiên”:
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên
 "Nghèo" mà vẫn góp cho đất nước ta núi Bút non Nghiên, làm rạng rỡ nền văn hiến Đại Việt, văn hiến Việt Nam.
+ Những cái tên giản dị, mộc mạc cùng những con vật gần gũi, thân quen với nhân dân cũng góp phần tạo nên:
“...Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”
“Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”
Cồn Ông Trang
 Những tên làng, tên núi, tên sông như "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm " do những con người vô danh, bình dị làm nên.
Sông Ông Đốc
Cồn Ông Trang
Bà Điểm
Núi Bà Đen
- Qua cái nhìn của nhà thơ, mỗi danh thắng còn ẩn chứa nét đẹp tâm hồn của nhân dân:
+ Núi Vọng Phu, hòn Trống Mái biểu tượng cho sự thuỷ chung, tình nghĩa vợ chồng thắm thiết.
+ Những "ao đầm" mà "gót ngựa Thánh Gióng đi qua" tượng trưng cho truyền thống yêu nước và sức mạnh bất khuất của dân tộc.
+ Núi Bút non Nghiên tượng trưng truyền thống hiếu học, vượt khó vươn lên của nhân dân.
+ Những địa danh ở vùng cực Nam đất nước xa xôi tượng trưng cho tinh thần xả thân vì cộng đồng, đức tính cần cù, siêng năng, dũng cảm trong lao động sáng tạo của nhân dân ta.
- Từ đó, tác giả đi đến một kết luận mang tính khái quát:
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
+ Những tên núi, tên sông, tên làng, tên bản, tên ruộng đồng , gò bãi… bất cứ đâu trên đất nước đều mang theo "một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha"
+ Tất cả đều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh từ công sức và khát vọng của nhân dân - những con người bình thường, vô danh.
+ Tầm vóc của Đất Nước và nhân dân không chỉ trên bình diện địa lí "mênh mông" mà còn ở dòng chảy thời gian lịch sử “bốn nghìn năm” "đằng đẵng".
Chính vì vậy, khi cảm nhận Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, nhà thơ không nói đến các triều đại, các anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị:
b. Trên phương diện thời gian - lịch sử cũng chính nhân dân đã “làm nên đất nước muôn đời”:
Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào 4.000 năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhỏ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai
Trong 4.000 lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
+Nhân dân Việt Nam từ thế hệ này đến thế hệ khác nối tiếp nhau trong lao động và đánh giặc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 Chọn nhân dân không tên tuổi kế tục nhau làm nên Đất Nước là nét mới mẻ độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm.
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyển lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
c. Ai đã làm nên chiều sâu văn hóa của đất nước?
- Trên phương diện văn hoá, cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc:
- Họ có công trong việc chống ngoại xâm, dẹp nội thù:
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để Đất Nước là Đất Nước nhân dân
Đất Nước của nhân dân,
Đất Nước của ca dao thần thoại
 Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình.
- Điểm hội tụ và cũng là cao điểm của cảm xúc trữ tình trong đoạn thơ là ở câu:
“Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
 Khi nói đến “Đất Nước của nhân dân”, tác giả mượn văn học dân gian để nhấn mạnh thêm vẻ đẹp của đất nước: “Đất Nước của ca dao thần thoại”
- Vẻ đẹp truyền thống của nhân dân trong ca dao, thần thoại:
Từ nền văn học dân gian, nhà thơ đã khám phá ra những vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của dân tộc:
+ Họ là những con người yêu say đắm và thuỷ chung: “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi”,
+ Quý trọng nghĩa tình (Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội)
+ Kiên gan, bền chí trong công cuộc bảo vệ đất nước (Biết trồng tre đợi ngày thành gậy - Đi trả thù mà không sợ dài lâu)
 như muốn kéo dài thêm giai điệu ngân nga với nhiều cung bậc của bản trường ca về Đất Nước.
- Kết thúc đoạn thơ là hình ảnh dòng sông với những điệu hò:
Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi
III. Tổng kết:
Ghi nhớ (SGK)
 
Gửi ý kiến