Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 21. Di truyền y học

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Khánh Thư
Ngày gửi: 09h:56' 28-11-2022
Dung lượng: 384.0 KB
Số lượt tải: 40
Số lượt thích: 0 người
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TT HTCĐ THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TT HTCĐ PHƯỜNG MẠO KHÊ

1. Đặc trưng cơ bản của pháp luật
1.1 Tính quy phạm phổ biến
1.2. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
1.3 Tính bắt buộc chung

*Đặt vấn đề:
Đồng chí xác định pháp luật là gì? Bản chất của
pháp luật?
*Nội dung:
ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT
1. Đặc trưng cơ bản của pháp luật
•Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà
nước đặc ra (hoặc thừa nhận) có tính quy phạm phổ
biến, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức và tính
bặt buộc chung thể hiện ý chí của giai cấp nắm
quyền lực Nhà nước và được Nhà nước đảm bảo
thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp
luật có các đặc trưng cơ bản sau:

1.1 Tính quy phạm phổ biến
•Nói đến pháp luật là nói đến tính quy phạm phổ biến. Tức là nói
đến tính khuôn mẫu, mực thước, mô hình xử sự có tính phổ biến
chung.
•Trong xã hội không chỉ pháp luật có thuộc tính quy phạm. Đạo
đức, tập quán, tín điều tôn giáo, các điều lệ của các tổ chức
chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng (như điều lệ của tổ
chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh) đều có tính quy
phạm. Cũng như pháp luật, tất cả các quy phạm trên đều là
khuôn mẫu, quy tắc xử sự của con người. Nhưng khác với đạo
đức, tập quán, tín điều tôn giáo và điều lệ, tính quy phạm của
pháp luật mang tính phổ biến. Đây chính là dấu hiệu để phân biệt
pháp luật và các loại quy phạm nói trên.
•Thuộc tính quy phạm phổ biến của pháp luật thể hiện ở chỗ:
+ Là khuôn mẫu chung cho nhiều người.
+ Được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian rộng
lớn.

1.2. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
•Thuộc tính này của pháp luật thể hiện ở chỗ:
+ Nội dung của các quy tắc, khuôn mẫu pháp luật được quy định rõ
ràng, chính xác và chặt chẽ trong các điều khoản.
+ Nội dung của các quy tắc, khuôn mẫu pháp luật lại được thể hiện
trong các hình thức xác định. Các hình thức xác định đó là các văn
bản pháp luật có tên gọi được quy định chặt chẽ. Tên gọi của các
văn bản pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật, Đạo luật, Pháp lệnh, Nghị
định,...
•Các văn bảm quy phạm pháp luật:
•Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật là hình thức biểu hiện
mối liên hệ bên ngoài của pháp luật bằng các loại văn bản quy phạm
pháp luật có giá trị cao thấp khác nhau do các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền ban hành theo một trình tự và thủ tục do pháp luật quy
định, nhưng đều tồn tại trong thể thống nhất.
•Các văn bản quy phạm pháp luật tạo nên hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật có các đặc điểm:

1.2. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
- Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật là các quy phạm
pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Các văn bản quy phạm pháp luật có tên gọi khác nhau (luật,
pháp lệnh, nghị định,...) do Hiến pháp quy định. Giá trị pháp lý
của chúng cao thấp khác nhau do vị trí của cơ quan Nhà nước
trong bộ máy nhà nước quy định.
- Các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trong không gian
(hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ), hiệu lực theo thời gian (bắt đầu
có hiệu lực hay hết hiệu lực) và hiệu lực theo nhóm người (có
hiệu lực đối với nhóm người này mà không có hiệu lực đối với
nhóm người khác.
- Hiến pháp năm 2013, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật năm 2015 quy định hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật gồm các văn bản có giá trị pháp lý như sau:
- Hiến pháp là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong
hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.

1.2. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
- Các Đạo luật (Bộ luật) là các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc
hội ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp. Đạo luật và Bộ luật đều là
những văn bản có giá trị pháp lý cao, chỉ đứng sau Hiến pháp.
- Nghị quyết của Quốc hội thường được ban hành để giải quyết các
vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhưng thường
mang tính chất cụ thể.
- Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội có giá trị
pháp lý thấp hơn các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban
hành.
- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước: theo Hiến pháp 2013, Chủ
tịch nước ban hành lệnh để công bố Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh;
ban hành quyết định để giải quyết các công việc thuộc thẩm quyền
của mình như quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, quyết định
đại xá,...
- Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của thủ
tướng Chính phủ.

1.2. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức
- Các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ
có giá trị pháp lý thấp hơn Pháp lệnh và Nghị quyết của Ủy ban thường vụ
Quốc hội.
- Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan
ngang bộ có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản của Chính phủ và Thủ
tướng Chính phủ.
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định,
chỉ thị, thông tư của Viện trưởng VKSND tối cao;
- Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,
giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội.
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp.
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải phù hợp và không được trái hoặc
mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước
Trung ương, với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp trên và Ủy ban
nhân dân cấp trên.
- Quyết định, chỉ thị của UBND và Chủ tịch UBND các cấp.
- Quyết định, chỉ thị của UBND và Chủ tịch UBND cấp nào thì có giá trị
pháp lý trong địa hạt của cấp đó.

1.3 Tính bắt buộc chung
Sở dĩ pháp luật có tính bắt buộc chung vì pháp luật
do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện thống
nhất. Tính bắt buộc chung thể hiện ở chỗ:
+ Việc tuân theo các quy tắc pháp luật không phụ
thuộc vào ý thức chủ quan của mỗi người. Bất kỳ ai
dù có địa vị, tài sản, chính kiến, chức vụ như thế nào
cũng phải tuân theo các quy tắc pháp luật.
+ Nếu ai đó không tuân theo các quy tắc pháp luật thì
tùy theo mức độ vi phạm mà Nhà nước áp dụng các
biện pháp tác động phù hợp để đảm bảo thực hiện
đúng các quy tắc đó.
+ Tính quyền lực Nhà nước là yếu tố không thể thiếu,
bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện.

Câu hỏi thảo luận:
Đồng chí cho biết sự khác nhau giữa
quy phạm pháp luật với các quy
phạm xã hội khác?

TT HTCĐ THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TT HTCĐ PHƯỜNG MẠO KHÊ
 
Gửi ý kiến