Tuần 21. Đọc thêm: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (trích Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Van Anh
Ngày gửi: 22h:07' 25-03-2020
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 162
Nguồn:
Người gửi: Van Anh
Ngày gửi: 22h:07' 25-03-2020
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 162
Số lượt thích:
0 người
HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA
Thân Nhân Trung
I. Tác giả và tác phẩm Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ danh ký (Bài ký danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3)- 1442.
Tác giả
Tên: Thân Nhân Trung (1418-1499)
Tự: Hậu Phủ
Quê: Làng Yên Ninh, huyện Yên Dũng, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Bắc Giang)
Danh phận: Tiến sĩ, đại thần nhà Hậu Lê dưới thời vua Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông.
* Người có tài văn chương và được triều đình trọng vọng. Có đóng góp lớn cho việc khoa cử, giáo dục.
Hoàn cảnh ra đời tác phẩm: Năm 1484 Thân Nhân Trung vâng lệnh vua Lê Thánh Tông soạn bài kí đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3, để khắc họa tên bia trong Văn miếu, khởi đầu cho việc dựng bia ghi danh Tiến sĩ sẽ thành truyền thống sau này.
Tác phẩm
Thể loại: Là một bài bi ký chữ Hán (bài kí khắc trên bia đá) thuộc thể văn chính luận thời trung đại.
Tầm vóc: Vi ngôn đại nghĩa
Chủ đề: * Bài bi kí ngợi ca ân đức nhà Vua (truy tụng công lao của tiên đế Lê Thái Tông) đối với việc học hành đương thời.
* Nhận định về một số hiền tài trong quá khứ, đồng thời cho thấy nhận thức và thái độ của đương triều Hồng Đức đối với kẻ sĩ tài năng.
Nhà văn viết tác phẩm với tư cách, tâm thái và tư thế như thế nào?
- Tư cách: 1. Phụng mệnh thiên tử phát ngôn quan điểm của đương triều.
2. Kẻ sĩ có công được trọng vọng.
- Tâm thái: Lòng tôn kính minh quân vô lượng, lòng “biệt nhỡn liên tài” niềm tự tôn dân tộc và tự hào về bản thân.
- Tư thế: Của một công thần có uy tín và phẩm tước.
Việc đề danh “hiền tài” là một sự kiện trọng đại mang tầm vóc thời đại.
II. Tìm hiểu đoạn trích “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia: Là tinh chất làm nên sự sống còn
và phát triển của đất nước.
- Quan niệm chính thống của người Trung Hoa và Việt Nam xưa đều cho rằng sĩ đứng đầu tứ dân.
- Trong Luận ngữ (thiên Vi chính) đức Khổng Tử chỉ ra mối quan hệ giữa thiên tử và hiền tài: “Làm chính trị bằng đức thì ví như Sao Bắc đẩu ở một chỗ mà các sao đều chầu về”
- Theo chính trị học phương đông: số lượng và chất lượng hiền tài phụ thuộc vào vận số của đất nước và phúc lộc của đế vương.
* Nêu quan điểm của em về vai trò của hiền tài với quốc gia hoặc những quan niệm về hiền tài xưa nay mà em biết?
* Hiền tài ảnh hưởng đến sự thịnh suy, hưng phế của các vương triều.
* Hiền tài như loài cây quý phải luôn chăm sóc, “vun trồng”.
* Lòng quý trọng nhân tài thể hiện ở việc phát hiện, nâng niu, đối đãi và đối đãi, nâng niu bao nhiêu vẫn chưa thấy đủ.
* Vua đã ban phần thưởng để thể hiện sự đối đãi tử tế với người tài.
-> Câu văn được biểu đạt tự nhiên và chặt chẽ ý tứ đã bày tỏ được ý nghĩa quan trọng của hiền tài và sự trọng thị của các bậc đế vương sáng suốt về việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài.
1. Vai trò quan trọng của hiền tài.
2. Ý nghĩa của việc đãi ngộ hiền tài qua việc dựng bia đá.
Đối với hiền tài bia đá sẽ giúp “lưu vẽ sáng lâu dài”.
Hơn nữa, việc này sẽ khiến cho khen thưởng đối với hiền tài không phải là “văn suông”, “tiếng hão”.
Hiền tài sẽ phấn khởi bởi tài năng của mình được đấng chí tôn ghi nhận, được đời biết đến, từ đó càng có ý thức giữ dìn phẩm cách và tu dưỡng tài năng, hết lòng báo đáp quân vương. Tấm bia có ý nghĩa như tấm gương soi.
3. Bài học từ việc đổi thay danh phận cho kẻ sĩ.
8
- Từ kẻ ở “lều tranh, thân phận nhỏ mọn đến “được triều đình đề cao rất mực” họ sẽ tự thấy cần đưa hết tài đức của mình để báo đáp hoàng ân.
- Sĩ tử đi thi ví như vượt qua Vũ môn, cửa ải tuy gian nan nhưng sẽ một bước cá chép hóa rồng. Đó là động lực để người đời phấn đấu cầu mong thay danh đổi phận không chỉ cho bản thân gia đình mà cho cả dòng dõi gia tộc nhiều đời.
4. Khẳng định vai trò “củng cố mệnh mạng cho nhà nước” của hiền tài và ý nghĩa thiết thực của việc đề danh lên văn bia.
- “Có người đem văn học, chính sự tô điểm cho cảnh bình trị”, xứng đáng với danh vị và phần thưởng cao quí của vua ban.
- “Nhận hối lộ mà hư hỏng hoặc rơi vào hàng ngũ kẻ gian ác.”
-> Chốn quan trường có nhiều vinh hoa phú quý, nhiều trách nhiệm lớn lao, kẻ bị cám dỗ bởi vinh hoa phú quý là kẻ tài hèn đức mỏng còn người giữ được danh giá hiền tài là người quân tử bền chí xứng đáng được ca tụng muôn đời. Và tấm bia góp phần ngăn cản tình trạng tha hóa, “khuyến thiện trừ ác”, làm tấm gương cho đời đời.
III. Tổng kết.
Bài kí giàu chất hùng biện, mạch lạc, chặt chẽ trong lập ý, bút pháp rắn rỏi, cô đọng, súc tích, lời văn sang trọng. Thể hiện quan niệm về nhân tài với nhiều nội dung rất khả thủ, cho thấy giai đoạn cực thịnh của quốc gia, và sự sáng suốt của một bậc minh quân cai trị.của đất nước và phúc lộc của đế vương.
IV. Bài học về việc sử dụng nhân tài từ tác phẩm đối với nhà nước đương đại.
11
Hiện tình “hiền tài” đất nước.
- Nêu một vài dẫn chứng cho thấy người lãnh đạo trọng dụng nhân tài và ảnh hưởng đến thịnh suy nước nhà?
-Hãy thể hiện quyền dân chủ của mình để “hiến kế” cho lãnh đạo nhà nước về cách thức dụng người.
- Suy nghĩ của em về câu nói vui: Giàu nó ghét, đói rét nó khinh, thông minh nó tìm cách tiêu diệt.
Thân Nhân Trung
I. Tác giả và tác phẩm Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa Tiến sĩ danh ký (Bài ký danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3)- 1442.
Tác giả
Tên: Thân Nhân Trung (1418-1499)
Tự: Hậu Phủ
Quê: Làng Yên Ninh, huyện Yên Dũng, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Bắc Giang)
Danh phận: Tiến sĩ, đại thần nhà Hậu Lê dưới thời vua Lê Thánh Tông và Lê Hiến Tông.
* Người có tài văn chương và được triều đình trọng vọng. Có đóng góp lớn cho việc khoa cử, giáo dục.
Hoàn cảnh ra đời tác phẩm: Năm 1484 Thân Nhân Trung vâng lệnh vua Lê Thánh Tông soạn bài kí đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3, để khắc họa tên bia trong Văn miếu, khởi đầu cho việc dựng bia ghi danh Tiến sĩ sẽ thành truyền thống sau này.
Tác phẩm
Thể loại: Là một bài bi ký chữ Hán (bài kí khắc trên bia đá) thuộc thể văn chính luận thời trung đại.
Tầm vóc: Vi ngôn đại nghĩa
Chủ đề: * Bài bi kí ngợi ca ân đức nhà Vua (truy tụng công lao của tiên đế Lê Thái Tông) đối với việc học hành đương thời.
* Nhận định về một số hiền tài trong quá khứ, đồng thời cho thấy nhận thức và thái độ của đương triều Hồng Đức đối với kẻ sĩ tài năng.
Nhà văn viết tác phẩm với tư cách, tâm thái và tư thế như thế nào?
- Tư cách: 1. Phụng mệnh thiên tử phát ngôn quan điểm của đương triều.
2. Kẻ sĩ có công được trọng vọng.
- Tâm thái: Lòng tôn kính minh quân vô lượng, lòng “biệt nhỡn liên tài” niềm tự tôn dân tộc và tự hào về bản thân.
- Tư thế: Của một công thần có uy tín và phẩm tước.
Việc đề danh “hiền tài” là một sự kiện trọng đại mang tầm vóc thời đại.
II. Tìm hiểu đoạn trích “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia: Là tinh chất làm nên sự sống còn
và phát triển của đất nước.
- Quan niệm chính thống của người Trung Hoa và Việt Nam xưa đều cho rằng sĩ đứng đầu tứ dân.
- Trong Luận ngữ (thiên Vi chính) đức Khổng Tử chỉ ra mối quan hệ giữa thiên tử và hiền tài: “Làm chính trị bằng đức thì ví như Sao Bắc đẩu ở một chỗ mà các sao đều chầu về”
- Theo chính trị học phương đông: số lượng và chất lượng hiền tài phụ thuộc vào vận số của đất nước và phúc lộc của đế vương.
* Nêu quan điểm của em về vai trò của hiền tài với quốc gia hoặc những quan niệm về hiền tài xưa nay mà em biết?
* Hiền tài ảnh hưởng đến sự thịnh suy, hưng phế của các vương triều.
* Hiền tài như loài cây quý phải luôn chăm sóc, “vun trồng”.
* Lòng quý trọng nhân tài thể hiện ở việc phát hiện, nâng niu, đối đãi và đối đãi, nâng niu bao nhiêu vẫn chưa thấy đủ.
* Vua đã ban phần thưởng để thể hiện sự đối đãi tử tế với người tài.
-> Câu văn được biểu đạt tự nhiên và chặt chẽ ý tứ đã bày tỏ được ý nghĩa quan trọng của hiền tài và sự trọng thị của các bậc đế vương sáng suốt về việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài.
1. Vai trò quan trọng của hiền tài.
2. Ý nghĩa của việc đãi ngộ hiền tài qua việc dựng bia đá.
Đối với hiền tài bia đá sẽ giúp “lưu vẽ sáng lâu dài”.
Hơn nữa, việc này sẽ khiến cho khen thưởng đối với hiền tài không phải là “văn suông”, “tiếng hão”.
Hiền tài sẽ phấn khởi bởi tài năng của mình được đấng chí tôn ghi nhận, được đời biết đến, từ đó càng có ý thức giữ dìn phẩm cách và tu dưỡng tài năng, hết lòng báo đáp quân vương. Tấm bia có ý nghĩa như tấm gương soi.
3. Bài học từ việc đổi thay danh phận cho kẻ sĩ.
8
- Từ kẻ ở “lều tranh, thân phận nhỏ mọn đến “được triều đình đề cao rất mực” họ sẽ tự thấy cần đưa hết tài đức của mình để báo đáp hoàng ân.
- Sĩ tử đi thi ví như vượt qua Vũ môn, cửa ải tuy gian nan nhưng sẽ một bước cá chép hóa rồng. Đó là động lực để người đời phấn đấu cầu mong thay danh đổi phận không chỉ cho bản thân gia đình mà cho cả dòng dõi gia tộc nhiều đời.
4. Khẳng định vai trò “củng cố mệnh mạng cho nhà nước” của hiền tài và ý nghĩa thiết thực của việc đề danh lên văn bia.
- “Có người đem văn học, chính sự tô điểm cho cảnh bình trị”, xứng đáng với danh vị và phần thưởng cao quí của vua ban.
- “Nhận hối lộ mà hư hỏng hoặc rơi vào hàng ngũ kẻ gian ác.”
-> Chốn quan trường có nhiều vinh hoa phú quý, nhiều trách nhiệm lớn lao, kẻ bị cám dỗ bởi vinh hoa phú quý là kẻ tài hèn đức mỏng còn người giữ được danh giá hiền tài là người quân tử bền chí xứng đáng được ca tụng muôn đời. Và tấm bia góp phần ngăn cản tình trạng tha hóa, “khuyến thiện trừ ác”, làm tấm gương cho đời đời.
III. Tổng kết.
Bài kí giàu chất hùng biện, mạch lạc, chặt chẽ trong lập ý, bút pháp rắn rỏi, cô đọng, súc tích, lời văn sang trọng. Thể hiện quan niệm về nhân tài với nhiều nội dung rất khả thủ, cho thấy giai đoạn cực thịnh của quốc gia, và sự sáng suốt của một bậc minh quân cai trị.của đất nước và phúc lộc của đế vương.
IV. Bài học về việc sử dụng nhân tài từ tác phẩm đối với nhà nước đương đại.
11
Hiện tình “hiền tài” đất nước.
- Nêu một vài dẫn chứng cho thấy người lãnh đạo trọng dụng nhân tài và ảnh hưởng đến thịnh suy nước nhà?
-Hãy thể hiện quyền dân chủ của mình để “hiến kế” cho lãnh đạo nhà nước về cách thức dụng người.
- Suy nghĩ của em về câu nói vui: Giàu nó ghét, đói rét nó khinh, thông minh nó tìm cách tiêu diệt.
 







Các ý kiến mới nhất