Tuần 3. Đọc thêm: Vịnh khoa thi Hương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: hòang ngọc
Ngày gửi: 11h:18' 17-12-2021
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 230
Nguồn:
Người gửi: hòang ngọc
Ngày gửi: 11h:18' 17-12-2021
Dung lượng: 5.6 MB
Số lượt tải: 230
Số lượt thích:
0 người
Vịnh Khoa Thi Hương
Trần Tế Xương
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
▪Trần Tế Xương (1870-1907) thường gọi là Tú Xương.
▪Quê làng Vị Xuyên- Mĩ Lộc- Nam Định.
▪Tú Xương sống 37 năm chỉ đỗ tú tài nhưng sự nghiệp thơ ca của ông trở thành bất tử.
▪Các tác phẩm chính như: Thương Vợ, Ông Cò, Phường Nhơ, Vịnh Khoa Thi Hương.
▪Sáng tác của Tú Xương gồm mảng: trữ tình và trào phúng.
2. Tác phẩm
Vịnh Khoa Thi Hương
Bài thơ thuộc đề tài thi cử - một đề tài khá đậm nét trong sáng tác của Tú Xương
A
Bố cục
Gồm 4 phần
B
Thể loại
Thất ngôn bát cú đường luật
Hoàn cảnh sáng tác
Năm 1897 vợ chồng quan quyền Pháp đến tới dự lễ xướng danh tại trường thi Hà Nam. Đó là một nỗi nhục đối với các tri thức VN. Là một nhà nho Tú Xương cảm thấy u uất và cay đắng mà viết bài thơ này.
Bố cục
B
Hai câu đề
II. Đọc hiểu văn bản
Giới thiệu về kì thi
‘Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà.’
▪‘Nhà nước’ : bộ máy quản lí quốc gia, ở đây chỉ triều đình phong kiến nhà Nguyễn.
▪‘Ba năm’ : theo thường lệ dưới thời phong kiến, cứ ba năm có một khoa thi Hương.
▪ Thông báo về sự thay đổi trong tổ chức thi cử:
Bề ngoài thì bình thường: Một kì thi theo đúng thời gian thông lệ: Ba năm một lần.
Thực chất không bình thường: Trường Nam thi lẫn trường Hà. Người tổ chức không phải là triều đình mà là thực dân Pháp.
Cách thức tổ chức bất thường.
▪Cách dùng từ: Lẫn -> Mỉa mai, khẳng định một sự thay đổi trong chế độ thực dân cũ, dự báo một sự ô hợp, nhốn nháo trong việc thi cử.
Thực dân Pháp đã lập ra một chế độ thi cử khác.
Hai câu thực
Cảnh tượng khi đi thi
‘Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.’
▪ ‘Vai đeo’ : tư thế và tư cách của những kẻ một thời được mang danh là kẻ sĩ, tiêu biểu cho ý thức xã hội phong kiến.
▪ ‘Lọ’: lọ đựng nước uống( thí sinh làm bài ở trong lều cả ngày, phải mang theo đồ ăn , thức uống).
▪ Biện pháp đổi trật tự từ: nhấn mạnh dáng điệu và hành động sĩ tử, quan trường.
▪ Lôi thôi, vai đeo lọ: Hình ảnh có tính khôi hài, luộm thuộm, ý mỉa mai cái vẻ xiêu vẹo, gãy đổ, lếch thếch, chẳng ra gì của những ông cử tương lai.
Gây ấn tượng hình thức, hình ảnh thi cử của các sĩ tử khoa thi Đinh Dậu
▪ Quan trường: ậm ọe, miệng thét loa → ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.
▪ Cho nên, nếu "thí sinh" mất đi cái vẻ nho nhã trí thức của thuở nào thì giám thị, giám khảo cũng không còn cái dáng nghiêm trang đáng tôn kính nữa.
Cảnh quan trường nhốn nháo, thiếu vẻ trang nghiêm, sự suy vong của một nền học vấn, kì thi không nghiêm túc, không hiệu quả.
Hai câu luận
0
3
Những ông to bà lớn đến trường thi
‘Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,
Váy lê quét đất mụ đầm ra.’
▪ ‘Lọng’ : nghĩa là cờ.
▪ ‘Quan sứ’ : nói đầy đủ là quan Công sứ - viên quan người Pháp đứng đầu bộ máy cai trị của bọn thực dân ở một tỉnh .
▪ Hình ảnh: Cờ rợp trời - Tổ chức linh đình.
▪ Hình ảnh quan sứ và mụ đầm: Phô trương, hình thức, không đúng lễ nghi của một kì thi.
▪ ‘Mụ’ là từ chỉ loại đàn bà không ra gì, có là cách gọi chợ búa, thô tục. Và cách gọi như vậy làm cho người đọc thấy rất thỏa đáng. Một cách “chửi” rất sắc bén của Tế Xương.
▪ Hình ảnh: Lọng >< đất; quan sứ >< mụ đầm: Đả kích, hạ nhục bọn quan lại, bọn thực dân Pháp
Báo hiệu một sự sa sút về chất lượng thi cử - bản chất của xã hội thực dân phong kiến.
Đậm đà chất hiện thực, ông phơi bày cơn giận và niềm đau của tâm hồn, của tấm lòng con người.
Thái độ phê bình của nhà thơ với kì thi
Hai câu kết
▪ Câu hỏi tu từ mang ý nghĩa thức tỉnh các kẻ sĩ và cũng là câu hỏi với chính mình về thân phân kẻ sĩ thời mất nước.
▪ Gợi lên một nỗi nhục mất nước đang sờ sờ trước mắt mà có người còn không thấy, có kẻ còn làm ngơ, quay mặt đi như vậy, nên Tú Xương mới kêu gọi ‘ngoảnh cổ mà trông’.
▪ ’Ngoảnh cổ" của Tú Xương rất hình ảnh và biểu cảm, loại hình ảnh biếm họa.
▪ Tâm trạng thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi: Ngao ngán, xót xa trước sự sa sút của đất nước.
▪ Thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông.
Một lời nhắn nhủ các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Nhà thơ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.
Lòng yêu nước thầm kí, sâu sắc của Tế Xương.
‘ Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.’
III. Tổng Kết
Nội dung
Bài thơ cho người đọc thấy được thái độ trọng danh dự và tâm sự lo nước thương dân của tác giả trước hiện thực mất nước của chế độ thuộc địa phong kiến.
Nghệ thuật
-Sử dụng các từ ngữ phong phú, giàu sức biểu cảm.
- Nhân vật trữ tình tự nhận thức, bộc lộ sự hài hước châm biếm.
Thank You
Trần Tế Xương
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
▪Trần Tế Xương (1870-1907) thường gọi là Tú Xương.
▪Quê làng Vị Xuyên- Mĩ Lộc- Nam Định.
▪Tú Xương sống 37 năm chỉ đỗ tú tài nhưng sự nghiệp thơ ca của ông trở thành bất tử.
▪Các tác phẩm chính như: Thương Vợ, Ông Cò, Phường Nhơ, Vịnh Khoa Thi Hương.
▪Sáng tác của Tú Xương gồm mảng: trữ tình và trào phúng.
2. Tác phẩm
Vịnh Khoa Thi Hương
Bài thơ thuộc đề tài thi cử - một đề tài khá đậm nét trong sáng tác của Tú Xương
A
Bố cục
Gồm 4 phần
B
Thể loại
Thất ngôn bát cú đường luật
Hoàn cảnh sáng tác
Năm 1897 vợ chồng quan quyền Pháp đến tới dự lễ xướng danh tại trường thi Hà Nam. Đó là một nỗi nhục đối với các tri thức VN. Là một nhà nho Tú Xương cảm thấy u uất và cay đắng mà viết bài thơ này.
Bố cục
B
Hai câu đề
II. Đọc hiểu văn bản
Giới thiệu về kì thi
‘Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà.’
▪‘Nhà nước’ : bộ máy quản lí quốc gia, ở đây chỉ triều đình phong kiến nhà Nguyễn.
▪‘Ba năm’ : theo thường lệ dưới thời phong kiến, cứ ba năm có một khoa thi Hương.
▪ Thông báo về sự thay đổi trong tổ chức thi cử:
Bề ngoài thì bình thường: Một kì thi theo đúng thời gian thông lệ: Ba năm một lần.
Thực chất không bình thường: Trường Nam thi lẫn trường Hà. Người tổ chức không phải là triều đình mà là thực dân Pháp.
Cách thức tổ chức bất thường.
▪Cách dùng từ: Lẫn -> Mỉa mai, khẳng định một sự thay đổi trong chế độ thực dân cũ, dự báo một sự ô hợp, nhốn nháo trong việc thi cử.
Thực dân Pháp đã lập ra một chế độ thi cử khác.
Hai câu thực
Cảnh tượng khi đi thi
‘Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.’
▪ ‘Vai đeo’ : tư thế và tư cách của những kẻ một thời được mang danh là kẻ sĩ, tiêu biểu cho ý thức xã hội phong kiến.
▪ ‘Lọ’: lọ đựng nước uống( thí sinh làm bài ở trong lều cả ngày, phải mang theo đồ ăn , thức uống).
▪ Biện pháp đổi trật tự từ: nhấn mạnh dáng điệu và hành động sĩ tử, quan trường.
▪ Lôi thôi, vai đeo lọ: Hình ảnh có tính khôi hài, luộm thuộm, ý mỉa mai cái vẻ xiêu vẹo, gãy đổ, lếch thếch, chẳng ra gì của những ông cử tương lai.
Gây ấn tượng hình thức, hình ảnh thi cử của các sĩ tử khoa thi Đinh Dậu
▪ Quan trường: ậm ọe, miệng thét loa → ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.
▪ Cho nên, nếu "thí sinh" mất đi cái vẻ nho nhã trí thức của thuở nào thì giám thị, giám khảo cũng không còn cái dáng nghiêm trang đáng tôn kính nữa.
Cảnh quan trường nhốn nháo, thiếu vẻ trang nghiêm, sự suy vong của một nền học vấn, kì thi không nghiêm túc, không hiệu quả.
Hai câu luận
0
3
Những ông to bà lớn đến trường thi
‘Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,
Váy lê quét đất mụ đầm ra.’
▪ ‘Lọng’ : nghĩa là cờ.
▪ ‘Quan sứ’ : nói đầy đủ là quan Công sứ - viên quan người Pháp đứng đầu bộ máy cai trị của bọn thực dân ở một tỉnh .
▪ Hình ảnh: Cờ rợp trời - Tổ chức linh đình.
▪ Hình ảnh quan sứ và mụ đầm: Phô trương, hình thức, không đúng lễ nghi của một kì thi.
▪ ‘Mụ’ là từ chỉ loại đàn bà không ra gì, có là cách gọi chợ búa, thô tục. Và cách gọi như vậy làm cho người đọc thấy rất thỏa đáng. Một cách “chửi” rất sắc bén của Tế Xương.
▪ Hình ảnh: Lọng >
Báo hiệu một sự sa sút về chất lượng thi cử - bản chất của xã hội thực dân phong kiến.
Đậm đà chất hiện thực, ông phơi bày cơn giận và niềm đau của tâm hồn, của tấm lòng con người.
Thái độ phê bình của nhà thơ với kì thi
Hai câu kết
▪ Câu hỏi tu từ mang ý nghĩa thức tỉnh các kẻ sĩ và cũng là câu hỏi với chính mình về thân phân kẻ sĩ thời mất nước.
▪ Gợi lên một nỗi nhục mất nước đang sờ sờ trước mắt mà có người còn không thấy, có kẻ còn làm ngơ, quay mặt đi như vậy, nên Tú Xương mới kêu gọi ‘ngoảnh cổ mà trông’.
▪ ’Ngoảnh cổ" của Tú Xương rất hình ảnh và biểu cảm, loại hình ảnh biếm họa.
▪ Tâm trạng thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi: Ngao ngán, xót xa trước sự sa sút của đất nước.
▪ Thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông.
Một lời nhắn nhủ các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Nhà thơ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.
Lòng yêu nước thầm kí, sâu sắc của Tế Xương.
‘ Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.’
III. Tổng Kết
Nội dung
Bài thơ cho người đọc thấy được thái độ trọng danh dự và tâm sự lo nước thương dân của tác giả trước hiện thực mất nước của chế độ thuộc địa phong kiến.
Nghệ thuật
-Sử dụng các từ ngữ phong phú, giàu sức biểu cảm.
- Nhân vật trữ tình tự nhận thức, bộc lộ sự hài hước châm biếm.
Thank You
 







Các ý kiến mới nhất