GD ĐP ĐỒNG NAI

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Dư Thị Thơm
Ngày gửi: 20h:56' 04-12-2021
Dung lượng: 6.4 MB
Số lượt tải: 36
Nguồn:
Người gửi: Dư Thị Thơm
Ngày gửi: 20h:56' 04-12-2021
Dung lượng: 6.4 MB
Số lượt tải: 36
Số lượt thích:
1 người
(Dư Thị Thơm)
PHềNG GD DT VINH C?U
TRU?NG THCS Lấ QUí DễN
K
CHÀO MỪNG CÁC EM ĐẾN VỚI
MÔN HỌC GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
LỚP 6
… Đồng Nai có nhiều địa danh, thắng cảnh đẹp…
Rừng Nam Cát Tiên – Tân Phú – Đồng Nai
… Đồng Nai có nhiều địa danh, thắng cảnh đẹp…
Đá Ba Chồng – Định Quán – Đồng Nai
… Đồng Nai có nhiều địa danh, thắng cảnh đẹp…
Em có biết thác nước có tên gọi là gì? Có ở địa phương nào?
Thác Trị An – Vĩnh Cửu – Đồng Nai
Trên thế giới này… mỗi vùng đất, mỗi kì quan, mỗi thắng cảnh… đều có tên gọi do con người đặt cho. Tên gọi luôn gắn liền với những lí do khi con người đặt cho các địa danh, kì quan hay thắng cảnh đó…nhằm để khắc sâu một dấu ấn, kỉ niệm hay một ước nguyện nào đó…
Em có biết vì sao thác nước ở địa phương chúng ta có tên gọi là TRỊ AN không?
Nội dung 2:
Truyện cổ tích
SỰ TÍCH THÁC TRỊ AN
Chủ đề 1:
THÔNG ĐIỆP TỪ CHUYỆN KỂ DÂN GIAN (TT)
Truyện kể: SỰ TÍCH THÁC TRỊ AN
Ngày xưa, ở vùng Đồng Nai, có một bộ tộc du mục thuộc dân tộc Châu Mạ1,chuyên sống bằng nghề nương rẫy và săn bắt thú rừng. Đứng đầu bộ tộc này là tù trưởng Sora Đin, tuy râu tóc đã bạc phơ nhưng trông ông còn rất khoẻ mạnh.Sora Đina là con trai lớn của tù trưởng Sora Đin, được cha truyền nghề cung ná từ nhỏ nên sớm trở thành tay thiện xạ 2 . Trong một ngày, Sora Đina có thể dễ dàng hạ hai con hổ. Chàng còn có thể hạ được cả loài cá sấu hung dữ đã một thời gây khiếp sợ ở vùng giáp sông Bé và sông Đồng Nai. Lúc bấy giờ ở thượng nguồn sông Đồng Nai có nàng Điểu Du là trưởng nữ của tù trưởng Điểu Lôi, người Châu Ro 3. Điểu Du say mê tập tành với chí hướng nối nghiệp cha. Chính cô đã trừ được con voi một ngà hung dữ ở vùng Đạt Bo. Tiếng thơm bay xa. Tài thiện xạ của Sora Đina gây được sự cảm mến trong lòng Điểu Du. Và Sora Đina cũng muốn được gặp mặt người con gái nổi tiếng về tài phóng lao ở miền thượng lưu con sông. [1]
Năm nọ, trời hạn hán, các con suối lớn nhỏ đều khô cạn. Cả người lẫn thú đổ xô ra sông tìm nước uống. Một hôm trời chuyển động, mây đen chao đảo trên vòm trời. Một chiếc xuồng độc mộc4 chở một thiếu nữ tất tả xuôi mau vào bờ. Bỗng một con cá sấu từ dưới nước nổi lên và đuổi theo chiếc xuồng. Lập tức, hai mũi lao từ tay Điểu Du phóng nhanh về phía con cá sấu. Nó bị thương nên càng vẫy vùng lồng lộn, há miệng định nuốt chửng cả chiếc xuồng và người con gái. Trong cơn nguy hiểm, may sao thuyền của Sora Đina vừa kịp xuất hiện. Nhanh như chớp, chàng bắn liền hai phát tên. Cá sấu trúng tên chạy được một đoạn thì chìm nghỉm.
(1) Châu Mạ: còn gọi là dân tộc Mạ, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai,…
(2) Thiện xạ: bắn giỏi
(3) Châu Ro: còn gọi là dân tộc Chơ Ro, Chrau Jro, Đơ-Ro, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh: Đồng Nai, Bình Thuận, Bình Phước,…
(4) Xuồng độc mộc: chiếc xuồng làm bằng một thân cây đục rỗng
Sora Đina và Điểu Du quen nhau từ đó. Họ trở thành đôi bạn xuôi ngược dòng sông. Dần dần, họ yêu nhau. Mối tình của hai người được Sora Đin và Điểu Lôi chấp thuận. Theo phong tục hồi đó, trước ngày cưới, Sora Đina phải về ở rể bên đàng gái. Sora Đin cho con trai mình chiếc tù và và căn dặn:
– Gặp trắc trở thì thổi tù và, sẽ có người đến giúp.
Sora Đina lên con ngựa trắng tiến về miền thượng lưu. Đi một đoạn đường, gặp con suối cạn, Sora Đina phải dìu ngựa qua các gộp đá lởm chởm. Đột nhiên từ trên cây cổ thụ có một con cọp xám phóng xuống ôm choàng lấy Sora Đina. Đó là một gã đàn ông đội lốt hổ. Nó vừa đánh nhau với Sora Đina vừa hăm doạ:
– Thần hổ đây, tao sẽ giết mày vì mày có tội… [2]
Sora Đina nào phải tay vừa. “Thần hổ” bị đánh ngã, bèn xông tới toan cướp ngựa. Con ngựa trắng hí lanh lảnh chồm lên dữ dội, “thần hổ” bị ngựa đá, phóng nhanh vào rừng. Đi thêm một đỗi ngắn, Sora Đina đã thấy Điểu Du ra đón chàng ở bìa rừng. Đàng xa, Điểu Lôi cũng vừa tới.
Nhân lúc ngồi nghỉ, Sora Đina hỏi Điểu Du:
– Vùng này có hổ không em?
Điểu Du cười đáp:
– Thằng thầy mo1 Sang Mô đó. Nó bày trò hù doạ dân làng. Nó oán em lắm vì em không ưng nó.
Thấy bóng Sang Mô loáng thoáng gần đây, Sora Đina lên tiếng:
– Mời anh Sang Mô đến uống rượu với chúng tôi.
Sang Mô đến, hắn trừng mắt nói với Sora Đina:
– Anh là kẻ xa lạ, đến đây để làm gì?
Một lát, hắn nhìn Sora Đina cười nham hiểm:
– Nghe nói anh nổi tiếng về tài thiện xạ. Vậy ta thách anh, nếu anh bắn trúng cái lá chót trên cành cây ta đang cầm trên tay thì ta sẽ nhường Điểu Du cho anh.
Hắn bẻ một nhánh quýt rừng và giơ lên. Hắn vừa thách vừa lắc lắc bàn tay khiến nhánh quýt run rẩy như gặp gió.
– Nào bắn đi!
Dừng một phút, Sora Đina quát lớn:
– Thần hổ coi đây!
Sang Mô giật mình, ngừng tay. Sora Đina bắn mũi tên xuyên qua chiếc lá chót. Mọi người reo hò hoan hỉ.
(1) Thầy mo: thầy cúng ở các vùng dân tộc thiểu số.
Lễ cưới diễn ra trọng thể. Đâm trâu, mời rượu, múa hát,… Dân làng ca ngợi đôi trai gái bằng tiếng hát và tiếng cồng chiêng1 vang dậy. Riêng Sang Mô tức tối, kiếm cách trả thù. Năm sau, Điểu Du sinh được một bé trai. Ngày đứa bé ra đời, mưa tầm tã, Sang Mô nhân đó tung tin: “Điểu Du sanh ra ma quỷ, rồi sẽ có nạn mất mùa đói kém!”. Do đồn nhảm, Sang Mô bị Điểu Lôi gọi đến quở phạt. Hắn càng oán giận. Năm sau nữa, trong một chuyến đi săn chung với Điểu Lôi, Sang Mô đã sát hại viên tù trưởng bằng một mũi tên bắn lén sau lưng. Rồi hắn cùng với mười tên phản loạn khác kéo về suối Đạt Bo để giết luôn vợ chồng Sora Đina. Canh hai đêm đó, ngôi nhà của vợ chồng Sora Đina bỗng dưng bốc cháy. Sora Đina chỉ kịp hét lớn: “Có kẻ đốt nhà!”, rồi ẵm con cùng Điểu Du thoát ra khỏi vùng lửa.
Cuộc xô xát diễn ra ác liệt. Mải lo che chở cho con, Sora Đina bị thất thế. Điểu Du sau một lúc chống cự cũng bị Sang Mô bắt. Sora Đina xông tới cứu vợ, đứa con tuột khỏi tay chàng văng xuống đất. Bỗng một cái bóng mảnh mai lao nhanh đến và ôm lấy thằng bé chạy thoát vào rừng. Người đó chính là Sang My, em gái Sang Mô. Sang Mô gào lên:
– Đuổi theo, trừ cho tiệt nòi! Cho dù là em gái ta, cũng cứ bắn!
Tên bay vun vút. Sang Mô còn đốt cháy rừng hòng ngăn cản em gái mình chạy thoát. [3] Dù vậy, bóng con ngựa trắng của Sora Đina chở Sang My trên lưng vẫn biến mất vào rừng. Tức giận, Sang Mô nghiến răng trói chặt vợ chồng Sora Đina quăng xuống một chiếc xuồng có chất sẵn một thứ nhựa cây dễ cháy, rồi thả xuồng trôi theo dòng nước chảy xiết. Sang Mô cho xuồng chèo rượt theo và cứ nhắm vào xuồng của Sora
Đina buông những phát tên lửa. Đến một bậc đá, xuồng bị cản lại. Sora Đina đã kịp tháo dây trói và rút tù và ra thổi một hồi dài. [4]
Hàng trăm người ở miền hạ lưu nghe tiếng tù và liền đổ xô ra bờ sông, nhảy qua những gộp đá, tiến tới chiếc xuồng đang bốc cháy ngùn ngụt. Mọi người ngậm ngùi trước cái chết đau đớn của Sora Đina và Điểu Du. Vừa lúc ấy, con ngựa trắng chở Sang My và đứa bé cũng chạy tới. Trên lưng Sang My có hai mũi tên cắm sâu. Nàng chỉ kịp trao đứa bé cho ông già Sora Đin rồi ngã gục xuống ngựa. Sora Đin vuốt mắt Sang My.
– Ngàn đời tri ân nàng đã cứu cháu ta.
Còn con ngựa trắng thì ngóc đầu nhìn ra phía ngọn lửa đang bốc cháy. Không thấy chủ, nó hí lên một tiếng dài buồn thảm rồi phóng mình xuống dòng thác xoáy.
Trong khi đó bà con đã bắt trói Sang Mô và mười tên phản loạn đem nộp cho Sora Đin. Những tên nghe lời dụ dỗ mua chuộc của Sang Mô được Sora Đin xoá tội, còn Sang Mô thì bị trói chặt vào chỗ nó gây ra tội ác.
Tù trưởng Sora Đin giương ná và lắp một mũi tên ngắm vào Sang Mô. Mọi người hồi hộp chờ đợi. Chợt Sora Đin hạ ná và hô to một tiếng “Pap”, rồi quẳng cái ná xuống dòng thác. Ông nói:
– Hận thù không nên nối tiếp bằng máu! Vì lòng tri ân đối với Sang My, ta tha chết cho Sang Mô!
Sang Mô dập đầu lạy tạ Sora Đin rồi ôm xác Sang My bước xuống xuồng, nước mắt rơi lã chã. Từ đó, người trong vùng gọi thác này là thác Tri Ân, sau đọc trại thành Trị An.
(Trích Truyện dân gian Đồng Nai, Huỳnh Tới biên soạn,
NXB Đồng Nai, 1994)
I/ Chủ đề và thông điệp của truyện:
1/ Chủ đề:
? Em hãy cho biết truyện Sự tích thác Trị An thuộc thể loại văn học nào?
- Truyện thuộc thể loại văn học dân gian. Được tác giả (Huỳnh Tới) biên soạn lại dựa theo Truyện dân gian Đồng Nai.
2/ Thông điệp:
- Truyện kể ca ngợi tình yêu chung thủy của chàng Sora Đina và cô gái Điểu Du của hai dân tộc Châu Mạ và Châu - Ro
- Truyện kể còn ca ngợi lòng gan dạ, dũng cảm và lòng vị tha, bao dung của những con người sống ven dòng sông Đồng Nai
Theo em, nội dung truyện muốn nói lên điều gì?
- Truyện kể còn muốn lí giải về tên gọi của một con thác đẹp trên sông Đồng Nai: Thác Trị An
Em hãy kể tên các địa danh, hoặc dân tộc thuộc tỉnh Đồng Nai có ở trong truyện?
Dân tộc Châu Mạ
Dân tộc Mạ được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Chau Mạ (Chau: người; Mạ: tên tộc người), Chê Mạ, Mạ Ngan… Người Mạ được coi là dân bản địa, sống chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Nông, Bình Phước, Đồng Nai…
Tại Đồng Nai, người Mạ tập trung ở một số ấp, xã như Hiếu Nghĩa huyện Định Quán, xã Tà Lài, Phú Bình, Phú Sơn huyện Tân Phú… Với những nét đặc trưng rất riêng, văn hóa người Mạ thể hiện trong các phong tục, cách ăn,mặc, ở…và suy nghĩ lối sống đã góp phần làm đa dạng văn hóa các dân tộc trên mảnh đất Việt Nam nói chung, và Đồng Nai nói riêng.
LỊCH SỬ VÀ QUẦN CƯ CỦA NGƯỜI MẠ
Người Mạ sống thành từng bon (làng), mỗi bon có từ 5 đến 10 nhà sàn dài (nhà dài là nơi ở của các thế hệ có chung huyết thống). Đứng đầu bon là quăng bon (ông già trưởng làng).
LỊCH SỬ VÀ QUẦN CƯ CỦA NGƯỜI MẠ
Từ xa xưa, họ đã làm nương rẫy trồng lúa và các loại cây khác. Người Mạ coi cây lúa là nguồn lương thực chính nuôi sống gia đình, ngoài ra còn cây lương thực phụ trợ như sắn, ngô. Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại dao xà gạc, cuốc xà bách, rìu, gậy chọc lỗ tra hạt.
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA NGƯỜI MẠ
Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc. Nghề rèn sắt cũng từng nổi tiếng ở nhiều bon làng. Họ tự luyện quặng lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như dao xà gạc lưỡi cong, lao… Ở những vùng ven sông Đồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA NGƯỜI MẠ
Lề cúng thần bến sông của người Mạ
Lề cúng thần rừng của người Mạ
Lề cúng thần lúa của người Mạ
Lề cúng thần suối của người Mạ
Người Mạ tin có rất nhiều thần: Yang (trời) là thần tối cao, ngoài ra có thần sông, thần núi, thần lửa… Cũng như các dân tộc khác thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơmer, người Mạ thường tổ chức lễ đâm trâu vào dịp tết cổ truyền (sau tết Nguyên đán khoảng 1 tháng và mùa lễ hội đâm trâu kéo dài tới 1-2 tháng).
TỤC LỆ, TÍN NGƯỠNG
Có một tục lệ mà đến nay người Mạ vẫn còn giữ nguyên đó là tục “chia của” cho người đã mất. Chia của ở đây có nghĩa là sự san sẻ những tài sản của người đang sống với người đã mất. Người Mạ quan niệm có cả cõi dương và cõi âm, trần thế sao thì âm phủ vậy, đều có buồn, vui, đau thương, giận hờn... …Sau khi chôn cất và chia của xong, người Mạ sẽ bỏ luôn ngôi mộ đó không quay lại nữa. Nhưng về sau này, khi người Mạ định cư gần người Kinh thì tập tục một số phần bị phai nhạt, vì họ nhận thấy việc thờ cúng, chăm sóc mồ mả tổ tiên cũng là nét đẹp truyền thống nên phát huy. Đến nay thì người Mạ đã có nghĩa địa dành riêng cho làng dành cho việc chôn cất người đã khuất.
TỤC LỆ, TÍN NGƯỠNG
Phụ nữ Mạ thường mặc váy quấn, dài quá bắp chân, nam giới thì đóng khố. Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền.
Phong tục làm đẹp của người Mạ xưa là “cà răng, căng tai”, đeo nhiều vòng trang sức. Cà răng thì đàn ông làm, căng tai thì dành đàn bà, phụ nữ. Thế nhưng đến nay thì tục lệ đó đã không còn nữa, do điều kiện sống và quan niệm đã thay đổi. Còn tục căng tai thì chỉ còn dấu tích trên những đôi tai dài thỏng của người già. Căng tai là cách làm đẹp của con gái và phụ nữ người Mạ, người ta quan niệm dái tai càng dài, đeo được nhiều vật nặng có nghĩa là đẹp, người giàu có thường đeo ngà voi cưa ra thành đoạn, còn phần lớn người bình thường thì đeo những loại trang sức khác.
TRANG PHỤC, THẨM MĨ
Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai theo chế độ phụ hệ, một vợ một chồng và tuyệt nhiên không có quan niệm trọng nam khinh nữ. Đặc biệt, khi con cái trong nhà đến tuổi trưởng thành, khoảng 15 - 17 tuổi được thoải mái tự do tìm hiểu. Nhà trai chủ động trong hôn nhân, nhưng sau lễ cưới chú rễ phải sang ở nhà vợ, đến khi nộp đủ đồ sính lễ cho nhà gái mới được đưa vợ về ở hẳn nhà mình.
HÔN NHÂN
Kho tàng văn học dân gian Mạ rất phong phú, gồm nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại độc đáo... Nhạc cụ có bộ chiêng 6, đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô. Một trong những loại hình tiêu biểu cho vốn văn hóa dân gian của cư dân Mạ ở Đồng Nai là thể loại văn thơ truyền miệng: hát Tăm pớt. Một loại hình hát kể đối đáp tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể như khi kết bạn, giao duyên, uống rượu cần, lúc lên nương rẫy hay tại nhà đón khách, hoặc được dùng để thể hiện tâm tư tình cảm.
VĂN HỌC – NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI MẠ
Dân tộc Châu Mạ
- Dân tộc Mạ là dân tộc sinh sống lâu đời ở Đồng Nai, tập trung nhiều ở các huyện Định Quán, Tân Phú.
- Người Mạ sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, săn bắn, rèn đúc.... Phụ nữ Mạ có nghề thủ công dệt vải thổ cẩm nổi tiếng.
-Người Mạ có nhiều truyền thống văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc: Thờ cúng nhiều thần linh, có nhiều lễ hội dân gian, có nhiều tục lệ (cà răng, căng tai…)
DÂN TỘC CHÂU - RO
Châu Ro là một trong những dân tộc ít người bản địa cư trú lâu đời ở vùng trung du Đông Nam bộ. Ngoài địa bàn cư trú chủ yếu ở Đồng Nai, người Châu Ro còn có ở Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận với số dân ít hơn và phân bố rải rác ở các vùng rừng, vùng cao.
Người Châu-Ro đến Đồng Nai khai khẩn lập nghiệp trước thế kỷ XVI, được xem là cư dân tại chỗ của vùng đất Đồng Nai. Châu Ro chưa có chữ viết, việc truyền bá kiến thức cho thế hệ sau đều theo lối truyền khẩu. Hiện nay trên địa bàn Đồng Nai, người Châu-Ro có khoảng 16.169 người chiếm 8,55% nhân khẩu là đồng bào dân tộc thiểu số trên toàn tỉnh, xếp đứng thứ 4 trong gần 40 thành phần dân tộc tỉnh Đồng Nai.
LỊCH SỬ VÀ QUẦN CƯ CỦA NGƯỜI CHÂU - RO
Người Châu Ro sống tập trung chủ yếu tại ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu; xã Túc Trưng huyện Định Quán; các xã: Bảo Vinh, Bảo Quang, Hàng Gòn, thị xã Long Khánh; các xã: Xuân Trường, Xuân Phú, Xuân Thọ huyện Xuân Lộc; xã Phước Bình (huyện Long Thành), xã Xuân Thiện (huyện Thống Nhất). Còn lại sống rác rác trên khắp địa bàn các huyện, thị và thành phố Biên Hòa.
LỊCH SỬ VÀ QUẦN CƯ CỦA NGƯỜI CHÂU - RO
- Hoạt động kinh tế của người Châu - Ro:
Kinh tế truyền thống của người Châu Ro ở Đồng Nai là kinh tế nương rẫy. Nguồn sống của người dân chủ yếu dựa vào kết quả mùa màng. Xưa kia, người dân khai thác vùng đồi núi nơi cư trú của mình để trồng trọt theo lối du canh du cư, nên cuộc sống nghèo nàn và không ổn định. Sau này, người dân đã biết biến rẫy thành đất định canh và phát triển nương rẫy thành ruộng nước, vì vậy đời sống có phần khá hơn. Cùng với nông nghiệp ruộng nước, nương rẫy, việc làm vườn, chăn nuôi, săn bắt, đánh cá, hái lượm... là những ngành kinh tế phụ bổ trợ cho kinh tế nương rẫy. Ngoài ra, một số ít sống bằng nghề đan lát, dệt thổ cẩm, rèn, làm các đồ dùng bằng tre, gỗ.
Các nghi lễ:
Từ xưa, để tiếp xúc và khẩn cầu đến thần linh, con người đã từng bước hình thành các nghi lễ vừa mang tính dân gian vừa mang yếu tố tôn giáo. Hàng năm người Châu Ro thường tổ chức cúng Thần Lúa (SaYangva); cúng thần Rừng, Lễ cầu mưa, dựng cây nêu….Các nghi lễ trong chu kỳ vòng đời được tính đến là các nghi lễ của một con người từ khi sinh ra đến khi chết.
+ Hôn nhân: Kiêng kỵ lớn nhất của người Châu Ro là hôn nhân cùng dòng họ. Nói cách khác, ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc bắt buộc đối với nam nữ Châu Ro. Độ tuổi kết hôn thường từ 16 - 20. Hiện nay, tuổi kết hôn trung bình của người dân Châu Ro đã tăng hơn 1 - 2 tuổi so với vài năm trước. Người Châu Ro không theo chế độ mẫu hệ hay phụ hệ mà coi trọng cả hai như nhau. Trong hôn nhân, tuy nhà trai hỏi vợ cho con, nhưng lễ cưới tổ chức tại nhà gái, chàng trai phải ở rể vài năm rồi vợ chồng làm nhà ở riêng. Người Châu Ro thường có tục chia của cho con cái khi ra ở riêng, do đó chàng trai sẽ được một phần của cải của gia đình. Chế độ một vợ một chồng đã được thiết lập từ lâu trong xã hội người Châu Ro và vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận.
- Văn hoá tâm linh:
Người Châu Ro ở Đồng Nai thờ đa thần. Họ tin mọi vật đều có “hồn” và các “thần linh” chi phối vô hình đối với con người, khiến con người phải kiêng kỵ và cúng tế. Yang bri (thần rừng) được xem là vị thần tối cao. Đó chính là nguyên nhân của các kiêng kỵ và các lễ cúng tế. Trong một dòng họ thường có một hoặc hai thầy bóng. Người làm nghề thầy bóng chủ yếu là nữ.
- Văn hoá nghệ thuật: Vốn văn nghệ dân gian của người Châu Ro phong phú, với nhiều thể loại: truyện kể, thơ ca trữ tình, múa, lối hát đối đáp, nhiều loại nhạc cụ... Các câu tục ngữ, phương ngôn đúc kết các kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, kinh nghiệm về thiên nhiên và cuộc sống xã hội.
Nhạc cụ của người Châu Ro gồm nhiều loại, trong đó nổi bật và cũng là phổ biến là bộ chiêng 7 chiếc. Ngoài ra, người Châu Ro còn sử dụng nhiều loại nhạc cụ cổ truyền khác như: trống, kèn, sáo...
Dân tộc Châu- Ro
- Dân tộc Châu – Ro cũng là dân tộc sinh sống lâu đời ở Đồng Nai, tập trung nhiều ở các huyện Vĩnh Cửu, Long Khánh, Định Quán …của tỉnh Đồng Nai
- Người Châu Ro sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa và các loại cây hoa màu. Phụ nữ Châu – ro cũng có nghề thủ công dệt vải thổ cẩm nổi tiếng.
-Người Châu - ro có nhiều truyền thống văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc: Thờ cúng nhiều thần linh, có nhiều lễ hội dân gian: Lễ hội cúng thần lúa Sayangva
THÁC TRỊ AN
Em cho biết thác Trị An được hình thành trên sông nào?
Em cho biết thác Trị An được hình thành trên sông nào?
Theo truyện kể thì vì sao thác lại có tên gọi là Trị An?
Cuối tác phẩm, vì sao Sora Đin tha cho Sang Mô? Hành động này gợi cho em
suy nghĩ gì về thái độ và cách ứng xử trong cuộc sống?
Trên sông Đồng Nai có nhiều con thác đẹp
Vì sao sông Đồng Nai có nhiều thác ghềnh?
Theo em, sông có nhiều thác ghềnh có thể mang lại lợi ích gì cho con người?
Ngoài việc khai thác du lịch, con người có thể làm gì với các thác ghềnh trên sông?
NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN TRỊ AN
Một số tư liệu cho biết thác Trị An xưa ở đất Biên Hoà nổi tiếng với cảnh thác hùng vĩ. Đây là thác cuối cùng trong dòng chảy của sông Đồng Nai trước khi chảy vào vùng bình nguyên miệt hạ. Có dịp xem những bức ảnh chụp thác Trị An vào những năm đầu thế kỉ XX mới thấy được cảnh thác rộng, nước chảy cuồn cuộn. Có người từng ví von hình ảnh sống động của dòng sông Đồng Nai phía trên thác Trị An như một sơn nữ hồn nhiên, tràn đầy sức sống, nhảy tung tăng qua bao ghềnh thác, thung lũng, núi đồi. Đến thác Trị An như một dấu ấn mà sông bỗng hoá thân làm người phụ nữ hiền hoà, êm dịu, lặng hoà đổ vào vùng bình nguyên mênh mông với dòng nước bao dung ôm lấy những cù lao, sông rạch nên thơ,...
Thác Trị An gắn liền nhiều tích truyện dân gian thật thú vị. Ở đó, có chàng dũng sĩ diệt thú dữ, cứu dân làng; gắn với một người có công khai mở đất vùng lam sơn chướng khí; chuyện tình của đôi trai gái khác sắc tộc yêu nhau;... Có lẽ, cảm động nhất là câu chuyện tình yêu giữa cô gái ở thượng nguồn với chàng trai miệt hạ nguồn, vượt qua trắc trở bởi những luật tục ràng buộc để đến bên nhau.
THÁC TRỊ AN XƯA VÀ NAY
Chuyện kể: “... Ngược dòng Đồng Nai, chàng trai miệt hạ lạc vào lãnh thổ của người sơn cước thượng nguồn. Chàng trai bị bắt, nhưng nhờ sự dũng cảm và tài năng của mình, chàng đã được dân làng cho sinh sống, trú ngụ.Tại đây, tình cảm của chàng trai và con gái của vị già làng đã nảy nở. Nhớ quê, chàng tìm cách trở về khi băng qua cây cầu độc đạo và bị ngã xuống bởi loạt cung tên định mệnh của xứ sở người yêu. Trước tình cảnh đó, cô gái làng sơn cước đã trầm mình dưới dòng nước dữ, hoá thân thành tượng đá ngày đêm khóc thương cho tình yêu của mình...”. Nước mắt của người sơn nữ như con nước ngày đêm réo rắt giữa đại ngàn. Chàng trai và cô gái đã chết, nhưng tình yêu của họ bất tử. Đây là một trong những chuyện tích mang mô-típ huyền thoại đẹp đẽ của tình yêu mang dấu ấn của một thời mở cõi với những cộng đồng tộc người khai khẩn vùng đất Đồng Na
Dòng chảy Trị An trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, được chặn dòng bắt đầu hình thành nên hồ Trị An vào thập niên 80 của thế kỉ XX để có một nhà máy thuỷ điện Trị An lớn nhất miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Công trình thuỷ điện Trị An được khởi công xây dựng năm 1984. Đập hồ Trị An được xây dựng bằng đá hỗn hợp, có chiều dài 420 m, chiều cao40 m, đỉnh đập rộng 10 m. Phần đập tràn chịu lực bằng bê tông dài 150 m, có 8 khoang tràn với mỗi khoang rộng 15 m và 8 cửa van. Bên cạnh đó có đập Suối Rộp dài 2 750 m, cao 45 m và hệ thống đập đất phụ có chiều dài tổng cộng 6 263 m. Để xây dựng công trình thuỷ điện Trị An, hàng triệu lượt người ở miền Nam đã được huy động, làm việc cật lực trong nhiều năm. Công trình thuỷ điện Trị An mang tầm vóc quốc tế, thắm đượm tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô. Một đội ngũ các chuyên gia, kĩ sư Liên Xô đã luôn kiên trì bám trụ, hợp tác cùng đội ngũ kĩ sư, lao động người Việt Nam để hoàn thành công trình. Sau 7 năm, 8 tháng, 10 ngày, 4 tổ máy của của nhà máy này đã hoà vào lưới điện quốc gia vào ngày 31/10/1989. Công trình thuỷ điện Trị An vừa sản xuất điện
năng cho miền Nam, vừa thực hiện chức năng thuỷ nông cho toàn vùng Đông Nam bộ. Hồ Trị An được hình thành đã trở thành nguồn tài nguyên về nhiều mặt, được khai thác để phục vụ cho đời sống của người dân miền Nam. Hiện nay, với diện tích mặt nước hồ 323 km2, hồ Trị An có khoảng 70 đảo lớn nhỏ, trong đó có một số đảo có cảnh quan thiên nhiên như: đảo Ó, đảo Đồng Trường,... đang được khai thác du lịch.
Trong quy hoạch phát triển du lịch Đồng Nai, hồ Trị An là một trong những điểm đến
hấp dẫn với cảnh quan sinh thái, di tích của vùng rừng núi Vĩnh Cửu thuộc Chiến khu Đ xưa.
(Theo Phan Đinh Huyền, baodongnai.com.vn, 24/3/2008, chuyên mục Văn hoá)
Dặn dò
Em hãy sưu tầm và kể lại 1 câu chuyện cổ tích cho cả lớp cùng nghe
Ôn lại hai nôi dung đã học để tuần sau làm bài kiểm tra định kì (45 phút)
TRU?NG THCS Lấ QUí DễN
K
CHÀO MỪNG CÁC EM ĐẾN VỚI
MÔN HỌC GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
LỚP 6
… Đồng Nai có nhiều địa danh, thắng cảnh đẹp…
Rừng Nam Cát Tiên – Tân Phú – Đồng Nai
… Đồng Nai có nhiều địa danh, thắng cảnh đẹp…
Đá Ba Chồng – Định Quán – Đồng Nai
… Đồng Nai có nhiều địa danh, thắng cảnh đẹp…
Em có biết thác nước có tên gọi là gì? Có ở địa phương nào?
Thác Trị An – Vĩnh Cửu – Đồng Nai
Trên thế giới này… mỗi vùng đất, mỗi kì quan, mỗi thắng cảnh… đều có tên gọi do con người đặt cho. Tên gọi luôn gắn liền với những lí do khi con người đặt cho các địa danh, kì quan hay thắng cảnh đó…nhằm để khắc sâu một dấu ấn, kỉ niệm hay một ước nguyện nào đó…
Em có biết vì sao thác nước ở địa phương chúng ta có tên gọi là TRỊ AN không?
Nội dung 2:
Truyện cổ tích
SỰ TÍCH THÁC TRỊ AN
Chủ đề 1:
THÔNG ĐIỆP TỪ CHUYỆN KỂ DÂN GIAN (TT)
Truyện kể: SỰ TÍCH THÁC TRỊ AN
Ngày xưa, ở vùng Đồng Nai, có một bộ tộc du mục thuộc dân tộc Châu Mạ1,chuyên sống bằng nghề nương rẫy và săn bắt thú rừng. Đứng đầu bộ tộc này là tù trưởng Sora Đin, tuy râu tóc đã bạc phơ nhưng trông ông còn rất khoẻ mạnh.Sora Đina là con trai lớn của tù trưởng Sora Đin, được cha truyền nghề cung ná từ nhỏ nên sớm trở thành tay thiện xạ 2 . Trong một ngày, Sora Đina có thể dễ dàng hạ hai con hổ. Chàng còn có thể hạ được cả loài cá sấu hung dữ đã một thời gây khiếp sợ ở vùng giáp sông Bé và sông Đồng Nai. Lúc bấy giờ ở thượng nguồn sông Đồng Nai có nàng Điểu Du là trưởng nữ của tù trưởng Điểu Lôi, người Châu Ro 3. Điểu Du say mê tập tành với chí hướng nối nghiệp cha. Chính cô đã trừ được con voi một ngà hung dữ ở vùng Đạt Bo. Tiếng thơm bay xa. Tài thiện xạ của Sora Đina gây được sự cảm mến trong lòng Điểu Du. Và Sora Đina cũng muốn được gặp mặt người con gái nổi tiếng về tài phóng lao ở miền thượng lưu con sông. [1]
Năm nọ, trời hạn hán, các con suối lớn nhỏ đều khô cạn. Cả người lẫn thú đổ xô ra sông tìm nước uống. Một hôm trời chuyển động, mây đen chao đảo trên vòm trời. Một chiếc xuồng độc mộc4 chở một thiếu nữ tất tả xuôi mau vào bờ. Bỗng một con cá sấu từ dưới nước nổi lên và đuổi theo chiếc xuồng. Lập tức, hai mũi lao từ tay Điểu Du phóng nhanh về phía con cá sấu. Nó bị thương nên càng vẫy vùng lồng lộn, há miệng định nuốt chửng cả chiếc xuồng và người con gái. Trong cơn nguy hiểm, may sao thuyền của Sora Đina vừa kịp xuất hiện. Nhanh như chớp, chàng bắn liền hai phát tên. Cá sấu trúng tên chạy được một đoạn thì chìm nghỉm.
(1) Châu Mạ: còn gọi là dân tộc Mạ, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai,…
(2) Thiện xạ: bắn giỏi
(3) Châu Ro: còn gọi là dân tộc Chơ Ro, Chrau Jro, Đơ-Ro, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh: Đồng Nai, Bình Thuận, Bình Phước,…
(4) Xuồng độc mộc: chiếc xuồng làm bằng một thân cây đục rỗng
Sora Đina và Điểu Du quen nhau từ đó. Họ trở thành đôi bạn xuôi ngược dòng sông. Dần dần, họ yêu nhau. Mối tình của hai người được Sora Đin và Điểu Lôi chấp thuận. Theo phong tục hồi đó, trước ngày cưới, Sora Đina phải về ở rể bên đàng gái. Sora Đin cho con trai mình chiếc tù và và căn dặn:
– Gặp trắc trở thì thổi tù và, sẽ có người đến giúp.
Sora Đina lên con ngựa trắng tiến về miền thượng lưu. Đi một đoạn đường, gặp con suối cạn, Sora Đina phải dìu ngựa qua các gộp đá lởm chởm. Đột nhiên từ trên cây cổ thụ có một con cọp xám phóng xuống ôm choàng lấy Sora Đina. Đó là một gã đàn ông đội lốt hổ. Nó vừa đánh nhau với Sora Đina vừa hăm doạ:
– Thần hổ đây, tao sẽ giết mày vì mày có tội… [2]
Sora Đina nào phải tay vừa. “Thần hổ” bị đánh ngã, bèn xông tới toan cướp ngựa. Con ngựa trắng hí lanh lảnh chồm lên dữ dội, “thần hổ” bị ngựa đá, phóng nhanh vào rừng. Đi thêm một đỗi ngắn, Sora Đina đã thấy Điểu Du ra đón chàng ở bìa rừng. Đàng xa, Điểu Lôi cũng vừa tới.
Nhân lúc ngồi nghỉ, Sora Đina hỏi Điểu Du:
– Vùng này có hổ không em?
Điểu Du cười đáp:
– Thằng thầy mo1 Sang Mô đó. Nó bày trò hù doạ dân làng. Nó oán em lắm vì em không ưng nó.
Thấy bóng Sang Mô loáng thoáng gần đây, Sora Đina lên tiếng:
– Mời anh Sang Mô đến uống rượu với chúng tôi.
Sang Mô đến, hắn trừng mắt nói với Sora Đina:
– Anh là kẻ xa lạ, đến đây để làm gì?
Một lát, hắn nhìn Sora Đina cười nham hiểm:
– Nghe nói anh nổi tiếng về tài thiện xạ. Vậy ta thách anh, nếu anh bắn trúng cái lá chót trên cành cây ta đang cầm trên tay thì ta sẽ nhường Điểu Du cho anh.
Hắn bẻ một nhánh quýt rừng và giơ lên. Hắn vừa thách vừa lắc lắc bàn tay khiến nhánh quýt run rẩy như gặp gió.
– Nào bắn đi!
Dừng một phút, Sora Đina quát lớn:
– Thần hổ coi đây!
Sang Mô giật mình, ngừng tay. Sora Đina bắn mũi tên xuyên qua chiếc lá chót. Mọi người reo hò hoan hỉ.
(1) Thầy mo: thầy cúng ở các vùng dân tộc thiểu số.
Lễ cưới diễn ra trọng thể. Đâm trâu, mời rượu, múa hát,… Dân làng ca ngợi đôi trai gái bằng tiếng hát và tiếng cồng chiêng1 vang dậy. Riêng Sang Mô tức tối, kiếm cách trả thù. Năm sau, Điểu Du sinh được một bé trai. Ngày đứa bé ra đời, mưa tầm tã, Sang Mô nhân đó tung tin: “Điểu Du sanh ra ma quỷ, rồi sẽ có nạn mất mùa đói kém!”. Do đồn nhảm, Sang Mô bị Điểu Lôi gọi đến quở phạt. Hắn càng oán giận. Năm sau nữa, trong một chuyến đi săn chung với Điểu Lôi, Sang Mô đã sát hại viên tù trưởng bằng một mũi tên bắn lén sau lưng. Rồi hắn cùng với mười tên phản loạn khác kéo về suối Đạt Bo để giết luôn vợ chồng Sora Đina. Canh hai đêm đó, ngôi nhà của vợ chồng Sora Đina bỗng dưng bốc cháy. Sora Đina chỉ kịp hét lớn: “Có kẻ đốt nhà!”, rồi ẵm con cùng Điểu Du thoát ra khỏi vùng lửa.
Cuộc xô xát diễn ra ác liệt. Mải lo che chở cho con, Sora Đina bị thất thế. Điểu Du sau một lúc chống cự cũng bị Sang Mô bắt. Sora Đina xông tới cứu vợ, đứa con tuột khỏi tay chàng văng xuống đất. Bỗng một cái bóng mảnh mai lao nhanh đến và ôm lấy thằng bé chạy thoát vào rừng. Người đó chính là Sang My, em gái Sang Mô. Sang Mô gào lên:
– Đuổi theo, trừ cho tiệt nòi! Cho dù là em gái ta, cũng cứ bắn!
Tên bay vun vút. Sang Mô còn đốt cháy rừng hòng ngăn cản em gái mình chạy thoát. [3] Dù vậy, bóng con ngựa trắng của Sora Đina chở Sang My trên lưng vẫn biến mất vào rừng. Tức giận, Sang Mô nghiến răng trói chặt vợ chồng Sora Đina quăng xuống một chiếc xuồng có chất sẵn một thứ nhựa cây dễ cháy, rồi thả xuồng trôi theo dòng nước chảy xiết. Sang Mô cho xuồng chèo rượt theo và cứ nhắm vào xuồng của Sora
Đina buông những phát tên lửa. Đến một bậc đá, xuồng bị cản lại. Sora Đina đã kịp tháo dây trói và rút tù và ra thổi một hồi dài. [4]
Hàng trăm người ở miền hạ lưu nghe tiếng tù và liền đổ xô ra bờ sông, nhảy qua những gộp đá, tiến tới chiếc xuồng đang bốc cháy ngùn ngụt. Mọi người ngậm ngùi trước cái chết đau đớn của Sora Đina và Điểu Du. Vừa lúc ấy, con ngựa trắng chở Sang My và đứa bé cũng chạy tới. Trên lưng Sang My có hai mũi tên cắm sâu. Nàng chỉ kịp trao đứa bé cho ông già Sora Đin rồi ngã gục xuống ngựa. Sora Đin vuốt mắt Sang My.
– Ngàn đời tri ân nàng đã cứu cháu ta.
Còn con ngựa trắng thì ngóc đầu nhìn ra phía ngọn lửa đang bốc cháy. Không thấy chủ, nó hí lên một tiếng dài buồn thảm rồi phóng mình xuống dòng thác xoáy.
Trong khi đó bà con đã bắt trói Sang Mô và mười tên phản loạn đem nộp cho Sora Đin. Những tên nghe lời dụ dỗ mua chuộc của Sang Mô được Sora Đin xoá tội, còn Sang Mô thì bị trói chặt vào chỗ nó gây ra tội ác.
Tù trưởng Sora Đin giương ná và lắp một mũi tên ngắm vào Sang Mô. Mọi người hồi hộp chờ đợi. Chợt Sora Đin hạ ná và hô to một tiếng “Pap”, rồi quẳng cái ná xuống dòng thác. Ông nói:
– Hận thù không nên nối tiếp bằng máu! Vì lòng tri ân đối với Sang My, ta tha chết cho Sang Mô!
Sang Mô dập đầu lạy tạ Sora Đin rồi ôm xác Sang My bước xuống xuồng, nước mắt rơi lã chã. Từ đó, người trong vùng gọi thác này là thác Tri Ân, sau đọc trại thành Trị An.
(Trích Truyện dân gian Đồng Nai, Huỳnh Tới biên soạn,
NXB Đồng Nai, 1994)
I/ Chủ đề và thông điệp của truyện:
1/ Chủ đề:
? Em hãy cho biết truyện Sự tích thác Trị An thuộc thể loại văn học nào?
- Truyện thuộc thể loại văn học dân gian. Được tác giả (Huỳnh Tới) biên soạn lại dựa theo Truyện dân gian Đồng Nai.
2/ Thông điệp:
- Truyện kể ca ngợi tình yêu chung thủy của chàng Sora Đina và cô gái Điểu Du của hai dân tộc Châu Mạ và Châu - Ro
- Truyện kể còn ca ngợi lòng gan dạ, dũng cảm và lòng vị tha, bao dung của những con người sống ven dòng sông Đồng Nai
Theo em, nội dung truyện muốn nói lên điều gì?
- Truyện kể còn muốn lí giải về tên gọi của một con thác đẹp trên sông Đồng Nai: Thác Trị An
Em hãy kể tên các địa danh, hoặc dân tộc thuộc tỉnh Đồng Nai có ở trong truyện?
Dân tộc Châu Mạ
Dân tộc Mạ được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Chau Mạ (Chau: người; Mạ: tên tộc người), Chê Mạ, Mạ Ngan… Người Mạ được coi là dân bản địa, sống chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Nông, Bình Phước, Đồng Nai…
Tại Đồng Nai, người Mạ tập trung ở một số ấp, xã như Hiếu Nghĩa huyện Định Quán, xã Tà Lài, Phú Bình, Phú Sơn huyện Tân Phú… Với những nét đặc trưng rất riêng, văn hóa người Mạ thể hiện trong các phong tục, cách ăn,mặc, ở…và suy nghĩ lối sống đã góp phần làm đa dạng văn hóa các dân tộc trên mảnh đất Việt Nam nói chung, và Đồng Nai nói riêng.
LỊCH SỬ VÀ QUẦN CƯ CỦA NGƯỜI MẠ
Người Mạ sống thành từng bon (làng), mỗi bon có từ 5 đến 10 nhà sàn dài (nhà dài là nơi ở của các thế hệ có chung huyết thống). Đứng đầu bon là quăng bon (ông già trưởng làng).
LỊCH SỬ VÀ QUẦN CƯ CỦA NGƯỜI MẠ
Từ xa xưa, họ đã làm nương rẫy trồng lúa và các loại cây khác. Người Mạ coi cây lúa là nguồn lương thực chính nuôi sống gia đình, ngoài ra còn cây lương thực phụ trợ như sắn, ngô. Công cụ sản xuất thô sơ, có các loại dao xà gạc, cuốc xà bách, rìu, gậy chọc lỗ tra hạt.
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA NGƯỜI MẠ
Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống với những hoa văn tinh vi hình hoa lá, chim thú với nhiều màu sắc. Nghề rèn sắt cũng từng nổi tiếng ở nhiều bon làng. Họ tự luyện quặng lấy sắt để rèn các công cụ sản xuất và vũ khí như dao xà gạc lưỡi cong, lao… Ở những vùng ven sông Đồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA NGƯỜI MẠ
Lề cúng thần bến sông của người Mạ
Lề cúng thần rừng của người Mạ
Lề cúng thần lúa của người Mạ
Lề cúng thần suối của người Mạ
Người Mạ tin có rất nhiều thần: Yang (trời) là thần tối cao, ngoài ra có thần sông, thần núi, thần lửa… Cũng như các dân tộc khác thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơmer, người Mạ thường tổ chức lễ đâm trâu vào dịp tết cổ truyền (sau tết Nguyên đán khoảng 1 tháng và mùa lễ hội đâm trâu kéo dài tới 1-2 tháng).
TỤC LỆ, TÍN NGƯỠNG
Có một tục lệ mà đến nay người Mạ vẫn còn giữ nguyên đó là tục “chia của” cho người đã mất. Chia của ở đây có nghĩa là sự san sẻ những tài sản của người đang sống với người đã mất. Người Mạ quan niệm có cả cõi dương và cõi âm, trần thế sao thì âm phủ vậy, đều có buồn, vui, đau thương, giận hờn... …Sau khi chôn cất và chia của xong, người Mạ sẽ bỏ luôn ngôi mộ đó không quay lại nữa. Nhưng về sau này, khi người Mạ định cư gần người Kinh thì tập tục một số phần bị phai nhạt, vì họ nhận thấy việc thờ cúng, chăm sóc mồ mả tổ tiên cũng là nét đẹp truyền thống nên phát huy. Đến nay thì người Mạ đã có nghĩa địa dành riêng cho làng dành cho việc chôn cất người đã khuất.
TỤC LỆ, TÍN NGƯỠNG
Phụ nữ Mạ thường mặc váy quấn, dài quá bắp chân, nam giới thì đóng khố. Mùa làm nông, nhiều người ở trần, mùa rét choàng tấm mền.
Phong tục làm đẹp của người Mạ xưa là “cà răng, căng tai”, đeo nhiều vòng trang sức. Cà răng thì đàn ông làm, căng tai thì dành đàn bà, phụ nữ. Thế nhưng đến nay thì tục lệ đó đã không còn nữa, do điều kiện sống và quan niệm đã thay đổi. Còn tục căng tai thì chỉ còn dấu tích trên những đôi tai dài thỏng của người già. Căng tai là cách làm đẹp của con gái và phụ nữ người Mạ, người ta quan niệm dái tai càng dài, đeo được nhiều vật nặng có nghĩa là đẹp, người giàu có thường đeo ngà voi cưa ra thành đoạn, còn phần lớn người bình thường thì đeo những loại trang sức khác.
TRANG PHỤC, THẨM MĨ
Hôn nhân của người Mạ ở Đồng Nai theo chế độ phụ hệ, một vợ một chồng và tuyệt nhiên không có quan niệm trọng nam khinh nữ. Đặc biệt, khi con cái trong nhà đến tuổi trưởng thành, khoảng 15 - 17 tuổi được thoải mái tự do tìm hiểu. Nhà trai chủ động trong hôn nhân, nhưng sau lễ cưới chú rễ phải sang ở nhà vợ, đến khi nộp đủ đồ sính lễ cho nhà gái mới được đưa vợ về ở hẳn nhà mình.
HÔN NHÂN
Kho tàng văn học dân gian Mạ rất phong phú, gồm nhiều truyện cổ, truyền thuyết, huyền thoại độc đáo... Nhạc cụ có bộ chiêng 6, đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn vào trái bầu khô. Một trong những loại hình tiêu biểu cho vốn văn hóa dân gian của cư dân Mạ ở Đồng Nai là thể loại văn thơ truyền miệng: hát Tăm pớt. Một loại hình hát kể đối đáp tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể như khi kết bạn, giao duyên, uống rượu cần, lúc lên nương rẫy hay tại nhà đón khách, hoặc được dùng để thể hiện tâm tư tình cảm.
VĂN HỌC – NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI MẠ
Dân tộc Châu Mạ
- Dân tộc Mạ là dân tộc sinh sống lâu đời ở Đồng Nai, tập trung nhiều ở các huyện Định Quán, Tân Phú.
- Người Mạ sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, săn bắn, rèn đúc.... Phụ nữ Mạ có nghề thủ công dệt vải thổ cẩm nổi tiếng.
-Người Mạ có nhiều truyền thống văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc: Thờ cúng nhiều thần linh, có nhiều lễ hội dân gian, có nhiều tục lệ (cà răng, căng tai…)
DÂN TỘC CHÂU - RO
Châu Ro là một trong những dân tộc ít người bản địa cư trú lâu đời ở vùng trung du Đông Nam bộ. Ngoài địa bàn cư trú chủ yếu ở Đồng Nai, người Châu Ro còn có ở Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Thuận với số dân ít hơn và phân bố rải rác ở các vùng rừng, vùng cao.
Người Châu-Ro đến Đồng Nai khai khẩn lập nghiệp trước thế kỷ XVI, được xem là cư dân tại chỗ của vùng đất Đồng Nai. Châu Ro chưa có chữ viết, việc truyền bá kiến thức cho thế hệ sau đều theo lối truyền khẩu. Hiện nay trên địa bàn Đồng Nai, người Châu-Ro có khoảng 16.169 người chiếm 8,55% nhân khẩu là đồng bào dân tộc thiểu số trên toàn tỉnh, xếp đứng thứ 4 trong gần 40 thành phần dân tộc tỉnh Đồng Nai.
LỊCH SỬ VÀ QUẦN CƯ CỦA NGƯỜI CHÂU - RO
Người Châu Ro sống tập trung chủ yếu tại ấp Lý Lịch, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu; xã Túc Trưng huyện Định Quán; các xã: Bảo Vinh, Bảo Quang, Hàng Gòn, thị xã Long Khánh; các xã: Xuân Trường, Xuân Phú, Xuân Thọ huyện Xuân Lộc; xã Phước Bình (huyện Long Thành), xã Xuân Thiện (huyện Thống Nhất). Còn lại sống rác rác trên khắp địa bàn các huyện, thị và thành phố Biên Hòa.
LỊCH SỬ VÀ QUẦN CƯ CỦA NGƯỜI CHÂU - RO
- Hoạt động kinh tế của người Châu - Ro:
Kinh tế truyền thống của người Châu Ro ở Đồng Nai là kinh tế nương rẫy. Nguồn sống của người dân chủ yếu dựa vào kết quả mùa màng. Xưa kia, người dân khai thác vùng đồi núi nơi cư trú của mình để trồng trọt theo lối du canh du cư, nên cuộc sống nghèo nàn và không ổn định. Sau này, người dân đã biết biến rẫy thành đất định canh và phát triển nương rẫy thành ruộng nước, vì vậy đời sống có phần khá hơn. Cùng với nông nghiệp ruộng nước, nương rẫy, việc làm vườn, chăn nuôi, săn bắt, đánh cá, hái lượm... là những ngành kinh tế phụ bổ trợ cho kinh tế nương rẫy. Ngoài ra, một số ít sống bằng nghề đan lát, dệt thổ cẩm, rèn, làm các đồ dùng bằng tre, gỗ.
Các nghi lễ:
Từ xưa, để tiếp xúc và khẩn cầu đến thần linh, con người đã từng bước hình thành các nghi lễ vừa mang tính dân gian vừa mang yếu tố tôn giáo. Hàng năm người Châu Ro thường tổ chức cúng Thần Lúa (SaYangva); cúng thần Rừng, Lễ cầu mưa, dựng cây nêu….Các nghi lễ trong chu kỳ vòng đời được tính đến là các nghi lễ của một con người từ khi sinh ra đến khi chết.
+ Hôn nhân: Kiêng kỵ lớn nhất của người Châu Ro là hôn nhân cùng dòng họ. Nói cách khác, ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc bắt buộc đối với nam nữ Châu Ro. Độ tuổi kết hôn thường từ 16 - 20. Hiện nay, tuổi kết hôn trung bình của người dân Châu Ro đã tăng hơn 1 - 2 tuổi so với vài năm trước. Người Châu Ro không theo chế độ mẫu hệ hay phụ hệ mà coi trọng cả hai như nhau. Trong hôn nhân, tuy nhà trai hỏi vợ cho con, nhưng lễ cưới tổ chức tại nhà gái, chàng trai phải ở rể vài năm rồi vợ chồng làm nhà ở riêng. Người Châu Ro thường có tục chia của cho con cái khi ra ở riêng, do đó chàng trai sẽ được một phần của cải của gia đình. Chế độ một vợ một chồng đã được thiết lập từ lâu trong xã hội người Châu Ro và vợ chồng chung sống với nhau hoà thuận.
- Văn hoá tâm linh:
Người Châu Ro ở Đồng Nai thờ đa thần. Họ tin mọi vật đều có “hồn” và các “thần linh” chi phối vô hình đối với con người, khiến con người phải kiêng kỵ và cúng tế. Yang bri (thần rừng) được xem là vị thần tối cao. Đó chính là nguyên nhân của các kiêng kỵ và các lễ cúng tế. Trong một dòng họ thường có một hoặc hai thầy bóng. Người làm nghề thầy bóng chủ yếu là nữ.
- Văn hoá nghệ thuật: Vốn văn nghệ dân gian của người Châu Ro phong phú, với nhiều thể loại: truyện kể, thơ ca trữ tình, múa, lối hát đối đáp, nhiều loại nhạc cụ... Các câu tục ngữ, phương ngôn đúc kết các kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, kinh nghiệm về thiên nhiên và cuộc sống xã hội.
Nhạc cụ của người Châu Ro gồm nhiều loại, trong đó nổi bật và cũng là phổ biến là bộ chiêng 7 chiếc. Ngoài ra, người Châu Ro còn sử dụng nhiều loại nhạc cụ cổ truyền khác như: trống, kèn, sáo...
Dân tộc Châu- Ro
- Dân tộc Châu – Ro cũng là dân tộc sinh sống lâu đời ở Đồng Nai, tập trung nhiều ở các huyện Vĩnh Cửu, Long Khánh, Định Quán …của tỉnh Đồng Nai
- Người Châu Ro sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa và các loại cây hoa màu. Phụ nữ Châu – ro cũng có nghề thủ công dệt vải thổ cẩm nổi tiếng.
-Người Châu - ro có nhiều truyền thống văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc: Thờ cúng nhiều thần linh, có nhiều lễ hội dân gian: Lễ hội cúng thần lúa Sayangva
THÁC TRỊ AN
Em cho biết thác Trị An được hình thành trên sông nào?
Em cho biết thác Trị An được hình thành trên sông nào?
Theo truyện kể thì vì sao thác lại có tên gọi là Trị An?
Cuối tác phẩm, vì sao Sora Đin tha cho Sang Mô? Hành động này gợi cho em
suy nghĩ gì về thái độ và cách ứng xử trong cuộc sống?
Trên sông Đồng Nai có nhiều con thác đẹp
Vì sao sông Đồng Nai có nhiều thác ghềnh?
Theo em, sông có nhiều thác ghềnh có thể mang lại lợi ích gì cho con người?
Ngoài việc khai thác du lịch, con người có thể làm gì với các thác ghềnh trên sông?
NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN TRỊ AN
Một số tư liệu cho biết thác Trị An xưa ở đất Biên Hoà nổi tiếng với cảnh thác hùng vĩ. Đây là thác cuối cùng trong dòng chảy của sông Đồng Nai trước khi chảy vào vùng bình nguyên miệt hạ. Có dịp xem những bức ảnh chụp thác Trị An vào những năm đầu thế kỉ XX mới thấy được cảnh thác rộng, nước chảy cuồn cuộn. Có người từng ví von hình ảnh sống động của dòng sông Đồng Nai phía trên thác Trị An như một sơn nữ hồn nhiên, tràn đầy sức sống, nhảy tung tăng qua bao ghềnh thác, thung lũng, núi đồi. Đến thác Trị An như một dấu ấn mà sông bỗng hoá thân làm người phụ nữ hiền hoà, êm dịu, lặng hoà đổ vào vùng bình nguyên mênh mông với dòng nước bao dung ôm lấy những cù lao, sông rạch nên thơ,...
Thác Trị An gắn liền nhiều tích truyện dân gian thật thú vị. Ở đó, có chàng dũng sĩ diệt thú dữ, cứu dân làng; gắn với một người có công khai mở đất vùng lam sơn chướng khí; chuyện tình của đôi trai gái khác sắc tộc yêu nhau;... Có lẽ, cảm động nhất là câu chuyện tình yêu giữa cô gái ở thượng nguồn với chàng trai miệt hạ nguồn, vượt qua trắc trở bởi những luật tục ràng buộc để đến bên nhau.
THÁC TRỊ AN XƯA VÀ NAY
Chuyện kể: “... Ngược dòng Đồng Nai, chàng trai miệt hạ lạc vào lãnh thổ của người sơn cước thượng nguồn. Chàng trai bị bắt, nhưng nhờ sự dũng cảm và tài năng của mình, chàng đã được dân làng cho sinh sống, trú ngụ.Tại đây, tình cảm của chàng trai và con gái của vị già làng đã nảy nở. Nhớ quê, chàng tìm cách trở về khi băng qua cây cầu độc đạo và bị ngã xuống bởi loạt cung tên định mệnh của xứ sở người yêu. Trước tình cảnh đó, cô gái làng sơn cước đã trầm mình dưới dòng nước dữ, hoá thân thành tượng đá ngày đêm khóc thương cho tình yêu của mình...”. Nước mắt của người sơn nữ như con nước ngày đêm réo rắt giữa đại ngàn. Chàng trai và cô gái đã chết, nhưng tình yêu của họ bất tử. Đây là một trong những chuyện tích mang mô-típ huyền thoại đẹp đẽ của tình yêu mang dấu ấn của một thời mở cõi với những cộng đồng tộc người khai khẩn vùng đất Đồng Na
Dòng chảy Trị An trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, được chặn dòng bắt đầu hình thành nên hồ Trị An vào thập niên 80 của thế kỉ XX để có một nhà máy thuỷ điện Trị An lớn nhất miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Công trình thuỷ điện Trị An được khởi công xây dựng năm 1984. Đập hồ Trị An được xây dựng bằng đá hỗn hợp, có chiều dài 420 m, chiều cao40 m, đỉnh đập rộng 10 m. Phần đập tràn chịu lực bằng bê tông dài 150 m, có 8 khoang tràn với mỗi khoang rộng 15 m và 8 cửa van. Bên cạnh đó có đập Suối Rộp dài 2 750 m, cao 45 m và hệ thống đập đất phụ có chiều dài tổng cộng 6 263 m. Để xây dựng công trình thuỷ điện Trị An, hàng triệu lượt người ở miền Nam đã được huy động, làm việc cật lực trong nhiều năm. Công trình thuỷ điện Trị An mang tầm vóc quốc tế, thắm đượm tình hữu nghị Việt Nam – Liên Xô. Một đội ngũ các chuyên gia, kĩ sư Liên Xô đã luôn kiên trì bám trụ, hợp tác cùng đội ngũ kĩ sư, lao động người Việt Nam để hoàn thành công trình. Sau 7 năm, 8 tháng, 10 ngày, 4 tổ máy của của nhà máy này đã hoà vào lưới điện quốc gia vào ngày 31/10/1989. Công trình thuỷ điện Trị An vừa sản xuất điện
năng cho miền Nam, vừa thực hiện chức năng thuỷ nông cho toàn vùng Đông Nam bộ. Hồ Trị An được hình thành đã trở thành nguồn tài nguyên về nhiều mặt, được khai thác để phục vụ cho đời sống của người dân miền Nam. Hiện nay, với diện tích mặt nước hồ 323 km2, hồ Trị An có khoảng 70 đảo lớn nhỏ, trong đó có một số đảo có cảnh quan thiên nhiên như: đảo Ó, đảo Đồng Trường,... đang được khai thác du lịch.
Trong quy hoạch phát triển du lịch Đồng Nai, hồ Trị An là một trong những điểm đến
hấp dẫn với cảnh quan sinh thái, di tích của vùng rừng núi Vĩnh Cửu thuộc Chiến khu Đ xưa.
(Theo Phan Đinh Huyền, baodongnai.com.vn, 24/3/2008, chuyên mục Văn hoá)
Dặn dò
Em hãy sưu tầm và kể lại 1 câu chuyện cổ tích cho cả lớp cùng nghe
Ôn lại hai nôi dung đã học để tuần sau làm bài kiểm tra định kì (45 phút)
 







Các ý kiến mới nhất