Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Giáo dục địa phương 9. Lâm Đồng từ 1918 đến nay

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hyo Lan
Ngày gửi: 20h:06' 18-09-2025
Dung lượng: 5.2 MB
Số lượt tải: 19
Số lượt thích: 0 người
CHỦ ĐỀ 1
LÂM ĐỒNG TỪ 1918 ĐẾN NAY

TIẾT: 1-2
BÀI 1

PHONG TRÀO ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG
DÂN TỘC (1918-1945)

1. Phong trào cách mạng giai đoạn 1918 - 1930
Dựa vào thông tin mục 1, Em hãy trình bày những
nét chính của phong trào cách mạng giai đoạn
1918 - 1930 tại Lâm Đồng?

1. Phong trào cách mạng giai đoạn 1918 - 1930
Trong giai đoạn từ năm 1918 đến năm 1930, cùng với cuộc đấu
tranh của nhân dân cả nước, dưới sự lãnh đạo của các vị tù trưởng,
tộc trưởng, tiếng, tiêu biểu hai cuộc chiến đấu do N'Trang Gưh và
N'Trang Lơng lãnh đạo.
Phong trào đấu tranh chống bắt phu, bắt xâu, chống nộp thuế, nộp
sản vật,... đã diễn ra sôi nổi.

1. Phong trào cách mạng giai đoạn 1918 - 1930
Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của đồng bào các dân tộc trên
cao nguyên M'Nông diễn ra bền bỉ, dũng cảm nhưng từng bước bị
thực dân Pháp đàn áp

 Các phong trào đấu tranh là biểu tượng của tinh thần yêu nước
và tinh thần đoàn kết chiến đấu của đồng bào các dân tộc ở Lâm
Đồng. Đây cũng là tiền đề để phát triển phong trào đấu tranh cách
mạng của đồng bào Lâm Đồng dưới sự lãnh đạo
của Đảng trong giai đoạn tiếp theo

1. Phong trào cách mạng giai đoạn 1918 - 1930
- Phong trào gửi kiến nghị đòi ân xá cho Phan Bội Châu
Phan Bội Châu (1867 – 1940) là nhà chí sĩ có uy tín và ảnh hưởng
lớn trong đồng bào cả nước, tiêu biểu cho các cuộc vận động yêu
nước chống Pháp đầu thế kỉ XX. Cụ bị thực dân Pháp bắt và kết
án tử hình vào ngày 23 – 11 – 1925.
Hưởng ứng phong trào đấu
tranh của nhân dân cả nước, học sinh Trường Tiểu học Pháp – Việt
(Phan Thiết) cùng một số nhân sĩ ở Phan Thiết, Hàm Thuận, Tuy
Phong tham gia gửi kiến nghị đòi thực dân Pháp trả tự do cho
Phan Bội Châu.
Đây là hoạt động thể hiện tinh thần đoàn kết, hưởng ứng
phong trào yêu nước trong cả nước.

1. Phong trào cách mạng giai đoạn 1918 - 1930
- Phong trào để tang và truy điệu Phan Châu Trinh
Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một chiến sĩ trong phong trào
Duy tân, được nhân dân yêu mến vì cụ có tinh thần yêu nước
nồng nhiệt với bản tính cương trực, ý chí bất khuất trước bạo
quyền, luôn thành tâm với nền độc lập, tự do của đất nước.
Năm 1925, sau khi từ Pháp trở về nước, cụ lâm bệnh và
mất tại Sài Gòn (24 – 3 – 1926).
Sau khi Phan Châu Trinh qua đời (3/1926), nhiều nơi ở Bình Thuận
tổ chức lễ truy điệu, bãi khóa, đóng cửa hiệu buôn để tưởng niệm.

1. Phong trào cách mạng giai đoạn 1918 - 1930
Phong trào để tang và truy điệu Phan Châu Trinh (1926):
Học sinh, nhân sĩ, thương gia, giáo viên… hưởng ứng sôi nổi.
Trường Tiểu học Pháp – Việt ở Phan Thiết(1) bãi khoá hưởng ứng.
Trong khi đó, trên 50 hiệu buôn ở Phan Thiết tự động nghỉ bán,
các quầy thực phẩm của người Việt, người Hoa đều tạm dẹp hàng
hoá để hưởng ứng.
Nông thôn Hàm Thuận có phong trào tụ họp, truyền tụng thơ ca yêu
nước của cụ Phan.

2. Phong trào cách mạng giai đoạn 1930 - 1931 và 1936 - 1939 tại
Lâm Đồng
2.1. Chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp

Hãy nêu những chính sách cai trị, áp bức,
bóc lột của thực dân Pháp ở Tây Nguyên
trong giai đoạn 1930 - 1939?

2.1. Chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp
Về kinh tế
Hủy bỏ chế độ thu thuế và hiện vật của triều đình nhà Nguyễn, thay vào
đó là chế độ thu thuế bằng tiền, với nhiều thứ thuế vô lý như thuế trâu,
thuế voi, thuế đàn ông, thuế đàn bà,...
Áp dụng nhiều hình thức lao dịch tàn bạo, đàn áp dã man những người
phản kháng. Bắt dân đi phu làm đường 14, khai hoang lập đồn điền, làm
sở trà không công cho bọn chủ Pháp.
Gây chia rẽ dân tộc, kỳ thị, chia tầng lớp để dễ kiểm soát.

2.1. Chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp
Về quân sự
Thành lập những lực lượng vũ trang người bản địa miền núi (lính khố
xanh), dùng làm công cụ đàn áp phong trào cách mạng và làm bia đỡ đạn
cho chúng khi chiến tranh xảy ra.
Dùng vũ lực đàn áp đồng bào các dân tộc; mặt khác, chúng dùng chính
sách mua chuộc, lôi kéo một số tộc trưởng, tù trưởng để
khống chế dân chúng.

2.1. Chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp
Về quân sự
Tổ chức nhiều cuộc càn quét quy mô lớn với sự yểm trợ của máy bay,
pháo binh đồng thời thực hiện chính sách “đốt sạch, giết sạch, phá sạch”
nhằm dập tắt cuộc khởi nghĩa.
Dùng ngụy quân, ngụy quyền đàn áp, khủng bố các cuộc đấu tranh
của công nhân các đồn điền, tù chính trị trong nhà đày
Buôn Ma Thuột và các trại giam

2.1. Chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp
Về chính trị
Thi hành chính sách “chia để trị”, chúng lập chế độ “trực trị”, tách Tây
Nguyên ra khỏi sự quản lý của triều đình nhà Nguyễn, dùng quân đội và
bộ máy hành chính của Pháp trực tiếp cai trị đồng bào Tây Nguyên.
Chia rẽ, cô lập giữa đồng bào dân tộc với Nhân dân từ nơi khác tới, chia
rẽ sâu sắc giữa đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; chúng kích động tư
tưởng bài Kinh, gây sự thù hằn giữa các dân tộc, bắt dân tộc này đi lính
để đàn áp dân tộc kia.

2.1. Chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp
Về chính trị
Đàn áp, khủng bố các phong trào đấu tranh của nhân dân và hoạt động
cách mạng.
Bắt phu, bắt lính: cưỡng bức đồng bào các dân tộc và dân nghèo miền
xuôi lên làm phu đồn điền, làm đường, khai thác lâm sản.
Thiết lập hệ thống đồn điền, đồn binh, nhà ngục để kiểm soát và đàn áp
phong trào cách mạng.
Trong giai đoạn 1930 – 1939, thực dân Pháp ở Tây Nguyên tăng
cường đàn áp chính trị, cướp đất lập đồn điền, bắt phu bắt lính, sưu
cao thuế nặng, bóc lột tàn bạo và duy trì chính sách ngu dân, chia rẽ
dân tộc để dễ cai trị.

2.2. Phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc Lâm Đồng

Cuộc đấu tranh của Nhân dân các dân tộc
Đắk Nông trước khi có tổ chức Đảng diễn
ra như thế nào?

2.2. Phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc Lâm Đồng
Diễn ra tự phát, nhỏ lẻ, chủ yếu là chống lại sưu cao, thuế nặng, bắt
phu, cướp đất và áp bức của thực dân Pháp, tay sai.
Mặc dù ảnh hưởng của phong trào cách mạng 1930 - 1931, hầu
như chưa lan tới đồng bào các dân tộc trên địa bàn Lâm Đồng
nhưng phong trào cách mạng ít nhiều ảnh hưởng đến vùng
Tây Nguyên và là động lực cho cuộc đấu tranh của đồng bào
các dân tộc Tây Nguyên kiên cường bất khuất, làm cho thực
dân Pháp gặp rất nhiều khó khăn trong công cuộc
bình định Tây Nguyên.
Những năm 1931 - 1932, mặc dù thực dân Pháp thực hiện chế độ
lao tù khắc nghiệt nhưng các chiến sĩ cộng sản đã tìm mọi cơ hội
để tổ chức móc nối với bên ngoài.

2.2. Phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc Lâm Đồng
Từ tháng 7-1937 đến giữa năm 1938, đồng bào các dân tộc trên
địa bàn Đắk Nông và Tây Nguyên hưởng ứng phong trào Mộ Cọ
Từ năm 1930 đến năm 1939, trên địa bàn Lâm Đồng chưa có tổ
chức Đảng, nhưng ảnh hưởng và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
đối với phong trào đấu tranh của các dân tộc Tây Nguyên đã đến
với người dân Lâm Đồng bằng một con đường riêng, qua nhà đày
Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) và nhà ngục Đắk Mil (Lâm Đồng).
Tuy còn phân tán, thiếu tổ chức lãnh đạo trực tiếp, nhưng các
cuộc đấu tranh thể hiện rõ tinh thần bất khuất, đặt nền móng
cho phong trào cách mạng sau này khi có Đảng lãnh đạo.

3. Các tổ chức Đảng trên địa bàn Lâm Đồng
3.1. Sự ra đời của các chi bộ cộng sản

Trình bày nét chính về quá trình thành lập
các chi bộ Đảng Cộng sản tại Lâm Đồng?

3.1. Sự ra đời của các chi bộ cộng sản
Quá trình thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại Đà Lạt (1930)

Căn buồng số 2 nhà xe khách sạn Palace, nơi thành lập Đảng cộng
sản đầu tiên tại Đà Lạt

3.1. Sự ra đời của các chi bộ cộng sản
Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại Đà Lạt được thành lập vào
tháng 4/1930, Hội nghị thành lập Đảng được tổ chức trên tầng
gác căn buồng số 2 nhà xe khách sạn Palace với 3 đảng viên
do đồng chí Trần Diệm làm Bí thư (Lâm Đồng cũ)
Cuối năm 1930, chi bộ Tam Tân được thành lập (Bình Thuận cũ).
Năm 1943, một chi bộ cộng sản được thành lập trong ngục
Đắk Mil do đồng chí Nguyễn Tạo làm Bí thư.
Các chi bộ cộng sản ra đời trong nhà đày, nhà ngục cùng với các tổ
chức khác của nhà tù
Năm 1943, một chi bộ cộng sản được thành lập trong ngục Đắk Mil
do đồng chí Nguyễn Tạo làm Bí thư.

3.1. Sự ra đời của các chi bộ cộng sản
Nhiều cuộc đấu tranh có tiếng vang lớn, ảnh hưởng của nó vang
dội không chỉ khắp Trung Kì, trên toàn cõi Đông Dương mà
tới cả nước Pháp.
Dưới ánh sáng của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, trên
địa bàn Tây Nguyên nói chung và Đắk Nông nói riêng, phong trào
đấu tranh của đồng bào các dân tộc tiếp tục phát triển mạnh mẽ,
qua đó chuẩn bị những điều kiện cần thiết để cùng với các giai
tầng khác trên địa bàn vùng lên giành chính quyền khi thời cơ đến.

3.1. Sự ra đời của các chi bộ cộng sản
Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại Đà Lạt được thành lập vào
tháng 4/1930, Hội nghị thành lập Đảng được tổ chức trên tầng
gác căn buồng số 2 nhà xe khách sạn Palace với 3 đảng viên do
đồng chí Trần Diệm làm Bí thư (Lâm Đồng cũ); một chi bộ
cộng sản được thành lập trong ngục Đăk Mil năm 1943
(Đắk Nông cũ); cuối năm 1930, chi bộ Tam Tân được thành lập
(Bình Thuận cũ).

3.2. Các tổ chức Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh tiến tới Tổng
khởi nghĩa giành chính quyền

Các tổ chức Đảng đã lãnh đạo phong trào
đấu tranh tiến tới Tổng khởi nghĩa giành
chính quyền ở Đắk Nông như thế nào?

3.2. Các tổ chức Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh tiến tới Tổng
khởi nghĩa giành chính quyền
Đầu năm 1945, trước tình hình mới, chi bộ và các tổ chức cách
mạng trong nhà ngục Đắk Mil chủ trương tăng cường công tác
tuyên truyền, giải thích đường lối, nhiệm vụ cách mạng, tiếp tục
xây dựng cơ sở cách mạng, chống lại những luận điệu tuyên
truyền phản động của phát xít Nhật và tay sai.
Đồng thời, các đồng chí tìm mọi cách đưa chủ trương của Đảng
vào sâu trong quần chúng Nhân dân Lâm Đồng để Nhân dân
chuẩn bị lực lượng, tiến hành tranh đấu tiến tới giành
chính quyền trên địa bàn.

3.2. Các tổ chức Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh tiến tới Tổng
khởi nghĩa giành chính quyền
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, Lâm Đồng bước vào thời kì
tiền khởi nghĩa, đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu nước,
chuẩn bị mọi điều kiện tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền.
Từ ngày 22/8 đến ngày 28/8/1945, các tầng lớp nhân dân, dân
tộc ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã khởi nghĩa thắng lợi
(Lâm Đồng cũ); ngày 24-8-1945, chính quyền thuộc về nhân dân,
chấm dứt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp trên đất
Bình Thuận (Bình Thuận cũ).

3.2. Các tổ chức Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh tiến tới
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Trước khi có tổ chức Đảng (trước
Tiêu chí
Sau khi có tổ chức Đảng (từ 1943)
1943)
Mục
tiêu

Tự phát, chống sưu cao thuế nặng, Có định hướng rõ ràng: giải phóng dân
đòi quyền lợi dân sinh
tộc, giành chính quyền

Hình
thức đấu Manh mún, nhỏ lẻ, tự phát
tranh
Lực
lượng

Có tổ chức, kế hoạch, liên kết với
phong trào cả nước

Chủ yếu nông dân, đồng bào dân Có sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, lan
tộc thiểu số tự đứng lên
rộng trong quần chúng

Hạn chế, dễ bị đàn áp, chưa tạo
Kết quả
thành phong trào mạnh

Phát triển thành cao trào kháng Nhật
cứu nước, chuẩn bị Tổng khởi nghĩa

4. Đảng và Mặt trận Việt Minh lãnh đạo đồng bào các dân tộc trên địa bàn
Đắk Nông tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám
năm 1945

Em hãy trình bày Đảng và Mặt trận Việt
Minh lãnh đạo đồng bào các dân tộc trên địa
bàn Đắk Nông tổng khởi nghĩa giành chính
quyền trong Cách mạng tháng Tám năm
1945?

4. Đảng và Mặt trận Việt Minh lãnh đạo đồng bào các dân tộc trên
địa bàn Đắk Nông tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách
mạng tháng Tám năm 1945
Tháng 8/1945: cùng cả nước, Đảng và Mặt trận Việt Minh
lãnh đạo đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Tại Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R'Lấp… dưới sự lãnh đạo của cán bộ,
hội viên Việt Minh, quần chúng Nhân dân đã đứng lên giành chính
quyền thắng lợi.
23/8/1945: Đắk Mil tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai, thành lập
chính quyền mới.
Đắk R'Lấp: mít tinh ở Bu Prăng, chào cờ, phá tượng Hăngrimet,
Kết quả: Cuộc khởi dựng
nghĩa bia
giành
chính Lơng.
quyền đúng thời cơ, giành
N'Trang
thắng lợi.

4. Đảng và Mặt trận Việt Minh lãnh đạo đồng bào các dân tộc trên
địa bàn Đắk Nông tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách
mạng tháng Tám năm 1945
Tại Đắk R'Lấp, nông dân các bon khu vực ngã ba biên giới nổi
dậy tham gia mít tinh lớn tại buôn Bu Prăng, đồng chí Nguyễn
Trọng Ba tổ chức chào cờ với cờ đỏ sao vàng và ảnh Bác Hồ,
phá tượng Hăngrimet, dựng bia N'Trang Lơng, đón mừng cách
mạng thành công.
Kết quả: Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đúng thời cơ, giành
thắng lợi.

5. Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám
năm 1945 tại Đắk Nông
5.1. Ý nghĩa lịch sử

Em hãy trình bày ý nghĩa lịch sử và nguyên
nhân thắng lợi của cuộc đấu tranh chống
thực dân Pháp của Nhân dân Đắk Nông?

5.1. Ý nghĩa lịch sử
Góp phần vào thắng lợi chung của Cách mạng tháng Tám
trong cả nước.
Đồng bào các dân tộc Đắk Nông vùng lên làm chủ vận mệnh, mở ra
thời kỳ mới trong lịch sử cách mạng Tây Nguyên.
Nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ buôn, bon,
đất rừng, nương rẫy.
Lần đầu tiên đồng bào trên vùng đất M'nông được hưởng
độc lập, tự do.

5.2. Nguyên nhân thắng lợi
Sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Mặt trận Việt Minh,
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng đã không ngừng phát triển và vận dụng
đúng đắn, sáng tạo đường lối khởi nghĩa của Đảng để tiến tới giành
chính quyền ở địa phương.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, Nhân dân
các dân tộc đã đoàn kết, đồng lòng đứng lên khởi
nghĩa giành chính quyền.

Hãy so sánh cuộc đấu tranh của Nhân
dân các dân tộc Đắk Nông trước và
sau khi có tổ chức Đảng ra đời?

Tiêu chí

Trước khi có Đảng
(trước 1943)

Sau khi có Đảng (từ 1943)

- Tự phát, mang tính tự vệ, chống áp- Giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho
đất nước.
Mục tiêu bức, bóc lột trực tiếp.
- Chưa có mục tiêu rõ ràng, lâu dài.
- Xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Lực - Chủ yếu là nông dân.
lượng - Thiếu sự liên kết giữa các dân tộc.

- Công nhân, nông dân, trí thức, các tầng lớp
nhân dân yêu nước.
- Hình thành khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
đoàn kết với các dân tộc khác.

Hình thức - Nổi dậy vũ trang tự phát, lẻ tẻ.
đấu tranh - Phong trào đấu tranh dễ bị đàn áp.

- Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ
trang, binh vận, tuyên truyền.
- Đấu tranh bài bản, có đường lối, chiến lược
rõ ràng.

- Chưa đạt được thắng lợi hoàn toàn, dễ
- Giành được nhiều thắng lợi to lớn, góp phần
bị dập tắt.
Kết quả - Chưa làm thay đổi căn bản số phậnvào thắng lợi chung của cả nước.
- Giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do.
người dân.

Trước khi có Đảng: Cuộc đấu tranh của nhân dân
Lâm Đồng mang tính tự phát, địa phương, thiếu tổ chức,
lãnh đạo và đường lối đấu tranh đúng đắn.
Sau khi có Đảng: Cuộc đấu tranh của nhân dân
Lâm Đồng phát triển mạnh mẽ, có tổ chức, lãnh đạo,
có đường lối, mục tiêu rõ ràng, gắn liền với phong
trào cách mạng cả nước. Sự ra đời của Đảng Cộng
sản Việt Nam là bước ngoặt vĩ đại, mở ra một kỷ
nguyên mới cho phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc của nhân dân Đăk Nông nói riêng và cả nước
nói chung.

Tìm hiểu và viết bài giới thiệu về
di tích lịch sử Nhà ngục Đắk Mil.

BÀI THAM KHẢO
Nhà ngục Đắk Mil được thực dân Pháp xây dựng vào đầu năm 1940, trong một
khu rừng già nay thuộc xã Đắk Lao, huyện Đắk Mil. Đây là nơi chúng giam giữ,
đày ải những chiến sĩ cộng sản kiên trung, không khuất phục được ở các nhà tù
khác. Điều kiện giam cầm ở đây vô cùng khắc nghiệt: thiếu ăn, thiếu mặc, lao dịch
nặng nề và tra tấn dã man. Nhưng càng trong gian khổ, ý chí cách mạng của các
chiến sĩ cộng sản càng thêm bền bỉ, bất khuất.
Năm 1943, tại Nhà ngục Đắk Mil, chi bộ cộng sản được thành lập do đồng chí
Nguyễn Tạo làm Bí thư. Đây là chi bộ cộng sản đầu tiên ở Đắk Nông, mở ra bước
ngoặt quan trọng trong phong trào cách mạng của đồng bào các dân tộc trong tỉnh.
Từ đây, nhà ngục không chỉ là nơi giam cầm, mà còn trở thành “trường học cách
mạng”, nơi các chiến sĩ tuyên truyền, giác ngộ lý tưởng, giữ vững khí tiết cộng sản.
Họ đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chống chế độ lao tù hà khắc, thậm chí có cả
những cuộc vượt ngục táo bạo để trở về tiếp tục lãnh đạo phong trào.

BÀI THAM KHẢO
Nhà ngục Đắk Mil vì thế đã trở thành biểu tượng của tinh thần kiên
cường bất khuất. Di tích này không chỉ ghi dấu tội ác của thực dân Pháp,
mà còn nhắc nhở thế hệ hôm nay về lòng dũng cảm, sự hi sinh to lớn của
các thế hệ cha anh.
Di tích lịch sử Nhà ngục Đắk Mil có giá trị vô cùng to lớn. Nó không
chỉ là minh chứng cho tội ác xâm lược, mà còn là nơi giáo dục truyền
thống yêu nước, nuôi dưỡng niềm tự hào và ý thức trách nhiệm trong
mỗi chúng ta. Thế hệ trẻ hôm nay cần trân trọng, gìn giữ và phát huy giá
trị của di tích, để tinh thần cách mạng ấy mãi trường tồn cùng quê
hương, đất nước.
468x90
 
Gửi ý kiến