Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Giáo Dục Địa Phương Thành Phố Đà Nẵng Lớp 8 Chủ Đề 4 Ca Dao-Dân Ca Đất Quảng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Ngọc Huy
Ngày gửi: 21h:53' 08-11-2026
Dung lượng: 11.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
CHỦ
ĐỀ 4

Ca Dao-Dân Ca Đất Quảng

MỞ ĐẦU

MỞ ĐẦU

(TRẢ LỜI CÂU 1): Qua câu ca dao thứ nhất, cấu trúc lặp "chưa... đã..." nhấn
mạnh sự gắn kết tự nhiên, nhanh chóng và sâu đậm của tình người xứ Quảng,
đồng thời thể hiện cái tình nồng hậu qua các dị bản khẳng định "ơn trượng
nghĩa dày" bền chặt.
(TRẢ LỜI CÂU 2): Việc lặp lại liên tiếp từ "ngó" trong câu ca dao thứ hai đã
cụ thể hóa hành động bồn chồn, ngóng trông mọi hướng của nhân vật trữ tình,
từ đó diễn tả trọn vẹn tâm trạng bâng khuâng và nỗi nhớ thương bạn da diết
dâng trào.
(TRẢ LỜI CÂU 3): Dựa vào chi tiết lịch sử "Tây lại Cửa Hàn" và "bòn vàng
Bồng Miêu", ta có thể phỏng đoán bài ca thứ ba ra đời vào giai đoạn thực
dân Pháp đô hộ (nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX) với giọng điệu vừa xót
xa, căm phẫn trước cảnh bóc lột "nghinh ngang", vừa kiên định giữ gìn khí
phách "dặn lòng ai dỗ đừng xiêu".

(TRẢ LỜI CÂU 5): Những câu ca dao này không để tên tác
giả vì chúng mang tính khuyết danh đặc trưng của văn học
dân gian, là sản phẩm sáng tác tập thể được lưu truyền, gọt
giũa bằng phương thức truyền miệng qua nhiều thế hệ và trở
thành tài sản chung của cộng đồng.
(TRẢ LỜI CÂU 4): Thể thơ của các câu ca dao trên có sự
chuyển đổi linh hoạt từ lục bát truyền thống sang lục bát
biến thể và thể tự do, giúp người dân dễ dàng phản ánh
sinh động thực tế đời sống cùng những chuyển biến phức
tạp trong tâm trạng.

NỘI DUNG
CHÍNH
01 CA DAO-DÂN CA.
SỰ RA ĐỜI CA DAO-DÂN CA ĐẤT
02
. QUẢNG
A. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI CHÂN CHẤT, COI TRỌNG TÌNH
.NGHĨA
B. TÌNH YÊU LỪA DÔI MỘC MẠC, THỦY CHUNG

C. LÒNG YÊU NƯỚC NỒNG NÀN, TINH THẦN ĐẤU TRANH QUẢ
CẢM
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CA DAO- DÂN CA ĐẤT
QUẢNG
A..VỀ THƠ, LÀN ĐIỆU

03
.

B. VỀ NGÔN NGỮ

01. CA
DAO-DÂN

Ca dao - dân ca là những câu thơ,
bài hát dân gian không rõ tác giả,
nhằm diễn tả đời sống nội tâm
con người ở mỗi địa phương và
trong từng hoàn
Ca dao thường được làm theo thể
thơ lục bát, song thất lục bát
hoặc biến thể. Ca dao có thể trở
thành phần lời của một bài dân
ca. Nói đến dân ca ta thường
nhấn mạnh đến điệu hát, làn
điệu, đến việc diễn xướng theo
đặc trưng riêng của mỗi địa
phương.
Câu ca dao thường ngắn, khoảng
2 hoặc 4 dòng. Bài ca dao thì dài
hơn, nội dung hoàn chỉnh hơn. Ca
dao dân ca có nhiều cách gọi: câu

Ca dao thường được sử dụng trong sinh hoạt văn hoá,
giao tiếp, ứng xử. Trong sáng tác, diễn xướng, ca dao dân ca được thêm từ, thêm ý, vận dụng tuỳ hoàn cảnh
tạo nên những biến thể. Vì thế, trong quá trình lưu
truyền, ca dao dân ca, có những bản khác nhau (dị
bản).
Đất Quảng (vùng đất Quảng Nam, Đà Nẵng nói chung)
là nơi có nhiều câu ca dao và làn điệu dân ca phong

Ca dao – dân ca là những sáng tác dân gian
không rõ tác giả, được lưu truyền qua nhiều thế
hệ, thể hiện tâm tư, tình cảm và đời sống của con
người. Ca dao thường có thể thơ lục bát, song
thất lục bát; dân ca là những bài hát dân gian có
giai điệu riêng. Ca dao – dân ca đất Quảng mang
đậm nét văn hóa, phong tục địa phương, thể hiện
tình yêu quê hương, gia đình và con người. Với
ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi, chúng góp phần lưu
giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền

02. SỰ RA
ĐỜI CA
DAO-DÂN

SỰ RA ĐỜI CA DAO- DÂN
CA ĐẤT QUẢNG
Từ thế kỉ XV, Châu Ô - Châu Lí thuộc về Đại
Việt. Vùng đất này được khai phá, làng xã dần
dần hình thành, cuộc sống mới bắt đầu. Trên
bước đường Nam tiến của những lưu dân Đại
Việt, văn học dân gian nói chung, ca dao - dân
ca đất Quảng nói riêng, vừa kế thừa các giá trị
nội dung và nghệ thuật văn học dân gian dân
tộc Việt vừa tiếp biến các giá trị nội dung và
nghệ thuật văn học dân gian các dân tộc bản
địa, đã tạo nên những nét độc đáo, sáng tạo
riêng.
Những câu ca, bài hát dân gian đất Quảng luôn
gắn với một vùng đất cụ thể, với khát vọng và
tình cảm của con người sống trên vùng đấy ấy.
Qua ca dao dân ca ta có thể hiểu thêm về tính
cách, về đời sống nội tâm, phong tục tập

EM CÓ BIẾT

A. HÌNH ẢNH
CON NGƯỜI
CHÂN CHẤT,
COI TRỌNG

A. HÌNH
ẢNH

TRỌNG TÌNH
NGHĨA

Ca dao - dân ca cũng như lời ăn tiếng nói, cung cách sống của
người đất Quảng luôn bộc lộ hình ảnh con người lao động cần cù,
thực tế: "Muốn no thì phải chăm làm. Một hột lúa vàng, chín giọt
mồ hôi". Họ sống chân thật nên ghét thủ đoạn, đãi bôi:
Hỏi em mưu kế ai bày
Câu liêm, rựa quéo, lược dày, lược thưa
Hỏi đà sướng bụng em chưa?
Câu liêm, rựa quéo, lược thưa, lược dày
Trong ca dao - dân ca đất Quảng, những câu ca tình nghĩa chiếm
một số lượng khá lớn. Con người đất Quảng trọng điều nhân nghĩa,
nhất là hiếu đạo gia đình mà nhiều khi vượt ra sự trói buộc cứng
nhắc của đạo đức phong kiến:
Chữ trung, chữ hiếu, chữ hoà
Đố anh ba chữ, thờ cha chữ nào?
Chữ trung anh để thờ cha
Chữ hiếu thờ mẹ, chữ hoà thờ em.
Trong cuộc sống, họ coi trọng sự đối đãi có trước có sau:
Ăn tiêu nhớ tới mùi hành
Dù có ăn nem gà, chả vịt cũng nhớ tới rau canh mít.

Ghét thói "tham vàng bỏ ngãi":
Trách ai ở bạc như vôi
Ta đau ta chịu không hồi viếng thăm.
Không biết nhà sao không tới ngõ hỏi
thăm
Con én đem tin, con nhạn rước, hỏi
thăm thiếp cảm nằm dậy chưa.
Miệng than nước mắt như mưa
Trách ai bạc nghĩa, thấu chưa hối
trời?
Trong quan niệm hôn nhân, coi cái
tình hơn bạc vàng của cải:
Chim xanh ăn trái ổi tàu
Xứng đôi mẹ gả, ham giàu làm chỉ!

B. TÌNH YÊU
LỪA DÔI
MỘC MẠC,

Những câu hát trữ tình về tình yêu đôi lứa mang một sắc
thái riêng của ca dao – dân ca đất Quảng. Khá nhiều câu
ca về đề tài này ra đời trong thời phong kiến với những
giáo điều khắt khe, những hủ tục cản trở hạnh phúc lứa
đôi. Những câu ca, khúc hát bộc lộ thái độ phản kháng,
khát vọng yêu đương và tự do trong cuộc sống.
Là gái trai đất Quảng nên tình yêu của họ càng sôi nổi, say
sưa, thấm đượm nghĩa ơn như nước non, sản vật quê
hương:
Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng đào chưa nhấm đà say
Thương nhau chưa đặng mấy ngày
Đã mang câu ơn trượng nghĩa dày bạn ơi!
Những câu hát trữ tình về tình yêu đôi lứa mang một sắc thái riêng của ca dao – dân ca đất Quảng. Khá nhiều
câu ca về đề tài này ra đời trong thời phong kiến với những giáo điều khắt khe, những hủ tục cản trở hạnh phúc
lứa đôi. Những câu ca, khúc hát bộc lộ thái độ phản kháng, khát vọng yêu đương và tự do trong cuộc sống.
Là gái trai đất Quảng nên tình yêu của họ càng sôi nổi, say sưa, thấm đượm nghĩa ơn như nước non, sản vật
quê hương:
Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu Hồng đào chưa nhấm đà say
Thương nhau chưa đặng mấy ngày
Đã mang câu ơn trượng nghĩa dày bạn ơi!

C. LÒNG YÊU
NƯỚC NỒNG
NÀN, TINH
THẦN ĐẤU

C. LÒNG
YÊU NƯỚC

TINH THẦN
ĐẤU TRANH
Nói tới con người Quảng Nam, Đà Nẵng không thể
không nói đến lòng yêu nước và tinh thần quả
cảm trong đấu tranh trước những thế lực áp bức.
Điều đó phản ánh khá rõ nét qua ca dao - dân ca,
nhất là những câu ra đời khi miền đất này bước
vào những giai đoạn lịch sử khốc liệt của các cuộc
chiến tranh xâm lược.
Với vị trí địa lí và hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, đất
Quảng trở thành mảnh đất đầu tiên bị các đội
quân hùng mạnh tấn công: Liên quân Pháp - Tây
Ban Nha đánh Đà Nẵng vào ngày 01 - 9 - 1858,
quân đội Mĩ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 083-1965.
Thơ ca dân gian phản ứng nhanh nhạy nỗi lòng
của nhân dân khi cuộc sống thanh bình bị đe doạ.
Những bài ca, bài vè như Vè khâm sai, Vè cúp tóc,
Vè xin xâu chống thuế, Vè Việt Minh,... ra đời
chính là tiếng nói thơ ca đầu tiên như một vũ khí
của người đất Quảng đánh thẳng vào quân thù.

– Cha thằng công sứ Sác-lơ")
Miệng hùm nọc rắn đánh lừa chúng
dân
Phen này chết cũng không cần
Làm cho tỏ mặt người Nam anh hùng.
Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
Ở nuôi phụ mẫu sớm chiều có nhau.
Bà mẹ đất Quảng dũng cảm đã xuất
hiện sớm trong cuộc kháng chiến
giành độc lập thiêng liêng của cả dân

C. LÒNG
YÊU NƯỚC

TINH THẦN
ĐẤU TRANH
Nói tới con người Quảng Nam, Đà Nẵng không thể
không nói đến lòng yêu nước và tinh thần quả
cảm trong đấu tranh trước những thế lực áp bức.
Điều đó phản ánh khá rõ nét qua ca dao - dân ca,
nhất là những câu ra đời khi miền đất này bước
vào những giai đoạn lịch sử khốc liệt của các cuộc
chiến tranh xâm lược.
Với vị trí địa lí và hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, đất
Quảng trở thành mảnh đất đầu tiên bị các đội
quân hùng mạnh tấn công: Liên quân Pháp - Tây
Ban Nha đánh Đà Nẵng vào ngày 01 - 9 - 1858,
quân đội Mĩ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 083-1965.
Thơ ca dân gian phản ứng nhanh nhạy nỗi lòng
của nhân dân khi cuộc sống thanh bình bị đe doạ.
Những bài ca, bài vè như Vè khâm sai, Vè cúp tóc,
Vè xin xâu chống thuế, Vè Việt Minh,... ra đời
chính là tiếng nói thơ ca đầu tiên như một vũ khí
của người đất Quảng đánh thẳng vào quân thù.

– Cha thằng công sứ Sác-lơ")
Miệng hùm nọc rắn đánh lừa chúng
dân
Phen này chết cũng không cần
Làm cho tỏ mặt người Nam anh hùng.
Dặn lòng ai dỗ đừng xiêu
Ở nuôi phụ mẫu sớm chiều có nhau.
Bà mẹ đất Quảng dũng cảm đã xuất
hiện sớm trong cuộc kháng chiến
giành độc lập thiêng liêng của cả dân

C. LÒNG
YÊU NƯỚC

TINH THẦN
ĐẤU TRANH

Căm thù ấy càng thêm nung nấu
Vác xác con lên thấu tỉnh đường
Súng nào ngăn nổi tình thương
Gươm nào ngăn nổi con đường đấu tranh!
Ta đi chiến đấu hôm nay
Bởi ngàn xưa cả cho ngày mai sau
Ta mang oán nặng thù sâu
Nỗi đau mất nước, nỗi đau chia lìa
Tình quê nâng bước ta đi
Đá mềm chân cứng, đường xa cũng gần!
Có thể nhận thấy rằng, con người đất Quảng đã được hình tượng hoá thật sinh
động qua ca dao - dân ca. Đó là hình ảnh con người chân chất, ngay thật, sống
hết mình vì nghĩa tình, luôn bộc lộ tinh thần yêu nước sâu sắc, mãnh liệt. Điều
đó sẽ được phản ánh toàn diện hơn trong các thể loại khác của văn học dân
gian và văn học viết của các giai đoạn lịch sử đất Quảng.

2. Sự ra đời của ca dao – dân ca đất Quảng:
a. Hình ảnh con người chân chất, coi trọng tình nghĩa:
Ca dao – dân ca đất Quảng khắc họa hình ảnh người dân cần cù,
chất phác, thật thà, luôn coi trọng tình làng nghĩa xóm và sống thủy
chung, tình nghĩa.
b. Tình yêu đôi lứa mộc mạc, thủy chung:
Thể hiện tình yêu giản dị, chân thành, son sắt và thủy chung của
những đôi trai gái, dù gặp nhiều khó khăn, thử thách vẫn luôn
hướng về nhau.
c. Lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh quả cảm:
Ca ngợi lòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kết, dũng
cảm và ý chí kiên cường của người dân xứ Quảng trong công cuộc
bảo vệ quê hương.

(Trả lời câu 1): Qua hình ảnh nghẹn ngào "nước mắt và lộn
cơm" cùng phép ví von "vẫy vùng như cá trong nơm", câu
ca dao thứ nhất đã diễn tả trọn vẹn nỗi nhớ thương da diết,
tâm trạng bứt rứt, tù túng và khát vọng gặp gỡ mãnh liệt
của những người yêu nhau khi phải chịu cảnh xa cách,

(Trả lời câu 2): Việc điệp cấu trúc "Dù cho..." gắn liền với những
giả định phi lý về sự biến cải của thiên nhiên đất trời như "cạn
nước Thu Bồn", "Hải Vân hóa cát" có tác dụng tạo đòn bẩy nghệ
thuật mạnh mẽ, từ đó khẳng định một cách tuyệt đối lòng thủy
chung, tình nghĩa sắt son của con người sẽ luôn bất biến trước

(Trả lời câu 3): Bằng cách mượn hình ảnh "giếng" để tượng
trưng cho những giá trị cao đẹp, chân thành và "ao" để chỉ sự
tầm thường, dối lừa, câu ca dao thứ ba đã gửi gắm bài học sâu
xa về lòng tự trọng cùng khí phách kiên định của con người, thà
chấp nhận chịu đựng gian khổ, cô đơn chứ quyết không hạ thấp

(Trả lời câu 4): Qua chùm ca dao, người đọc không chỉ cảm nhận
được vẻ đẹp tâm hồn thủy chung, trọng tình nghĩa và đầy bản lĩnh
của con người đất Quảng, mà còn ấn tượng với nét nghệ thuật đặc
sắc thể hiện ở thể thơ lục bát biến thể sinh động, ngôn ngữ đậm đà
phong vị địa phương, cùng giọng điệu vừa tha thiết, vừa đanh thép,

03. ĐẶC ĐIỂM
NGHỆ THUẬT
CA DAO- DÂN

A.VỀ
THƠ,

VỀ THƠ,
LÀN ĐIỆU

Giống với thơ ca dân gian nói chung, hầu hết các câu ca, bài ca vùng
đất này được làm theo thể lục bát, song thất lục bát và có khi biến thể
để vượt qua sự ràng buộc khắt khe của thanh vận bằng cách thêm bớt
từ ngữ nhằm diễn đạt ý tình đa dạng hơn, tự nhiên hơn.
-toa
Về dân ca đất Quảng, và các tỉnh Trun Trung Bộ nói chung, Hò khoan
là điệu hò khá đặc trưng với Hò chèo thuyền, Hò kéo lưới, Hò đi cấy,
Hò tát nước, Hò xay lúa, Hò giã gạo, Hò giã vôi, Hò đưa linh,...; hát với
Hát đối đáp, Hát nhân ngãi, Hát ru,... Nghệ thuật hô hát Bài chòi ở Đà
Nẵng đã được xếp hạng di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Các nhà
nghiên cứu, sưu tầm âm nhạc dân gian đã tìm được hàng chục điệu lí
khác nhau như Lí thương nhau, Lí năm canh, Lí hái dâu, Lí dệt chiếu, Lí
đò ngang, Lí qua sông,... Âm điệu những câu hò, điệu lí thường đậm
đà, sâu lắng, day dứt:

VỀ THƠ,
LÀN ĐIỆU

– Không đi thì nhớ thì thương,
Đi thì lại mắc cái mương cái cầu.
Không đi thì thảm thì sầu,
Đi thì lại mắc cái cầu cái mương.
– Làm thơ mà dán cây đa, Thiên hạ không biết nói ta với
nàng.
Làm thơ mà dán cây bàng,
Thiên hạ không biết nói nàng với
ta.

B. VỀ
NGÔN

NGÔN
NGỮ

Giống như ca dao - dân ca dân tộc, cảnh vật, con người
và các sinh hoạt được phản ánh khá rõ nét qua ca dao dân ca đất Quảng. Những địa danh, thắng cảnh, di tích,...
đã trở thành yếu tố nhận diện ca dao - dân ca một vùng
đất. Bên cạnh, các từ ngữ địa phương được sử dụng, vận
dụng đúng chỗ, khéo léo, hợp tình hợp cảnh, khiến câu ca
gây ấn tượng mạnh,...; lời ca câu hò điệu lí nhờ vào lớp từ
này càng trở nên phóng khoáng, thiết tha:
- Ngó lên lên Hòn Kẽm Đá Dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi!
– Gặp anh Ba đây (mới) khiến hỏi anh Ba
Lâu nay làm ăn có khấm khá, hay (là) vẫn sát da như bọn
mình?
Thời buổi bây chừ công việc cũng sớt sưa
Dư không dư, thiếu không thiếu vẫn đu đưa như mọi ngày.

3. Đặc điểm nghệ thuật ca dao – dân ca đất Quảng:
a. Về thơ, làn điệu:
Ca dao – dân ca đất Quảng thường sử dụng thể thơ lục bát,
song thất lục bát và các thể thơ biến thể. Làn điệu phong phú,
đa dạng, mang âm hưởng mộc mạc, gần gũi, thể hiện nét đặc
trưng của văn hóa xứ Quảng.
b. Về ngôn ngữ:
Ngôn ngữ giản dị, chân chất, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng
ngày của người dân. Đặc biệt, thường sử dụng từ ngữ địa
phương, giàu hình ảnh và cảm xúc, tạo nên nét riêng của ca
dao – dân ca đất Quảng.

CẢM
ƠN ĐÃ
 
Gửi ý kiến