Giáo dục học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Khánh Linh
Ngày gửi: 10h:56' 11-04-2018
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 54
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Thị Khánh Linh
Ngày gửi: 10h:56' 11-04-2018
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 54
Số lượt thích:
0 người
CHÀO THẦY VÀ CÁC BẠN
ĐẾN VỚI BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA NHÓM VII
GVHD:
HOÀNG HỮU MiẾN
Thành viên:
LÊ THỊ MỸ LINH
NGÔ THỊ HUẾ
TRƯƠNG THỊ KIM HÒA
ĐỖ THỊ KHÁNH LINH
MỤC TIÊU
Logic của quá trình giáo dục là gì? Tình bày các khâu của quá trình giáo dục.
Nguyên tắc giáo dục là gì? Căn cứ vào đâu để xác định nguyên tắc giáo dục? Hệ thống các nguyên tắc giáo dục?
: Nêu và phân tích nội dung giáo dục thể chất cho học sinh mầm non.
I. Logic của quá trình giáo dục là gì? Tình bày các khâu của quá trình giáo dục.
Logic của quá trình giáo dục là trình tự thực hiện các khâu của nó nhằm hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục được giao.
Quá trình giáo dục được diễn ra theo ba khâu :
Giáo dục ý thức
Giáo dục thái độ, niềm tin
Giáo dục hành vi, thói quen
Vd: hình thành lý tưởng của trẻ qua các trò chơi như ước mơ của bé,…
Vd: dạy trẻ biết cảm ơn, xin lỗi,…
Giáo dục ý thức:
Giáo dục trước hết là quá trình tác động vào mặt nhận thức, làm cho mỗi con người có ý thức về mục đích, ý nghĩa và giá trị cuộc sống, hiểu được chân lý, lẽ phải, tính nhân văn, nhân đạo trong các mối quan hệ xã hội, từ đó hình thành thế giới quan, lý tưởng sống.
Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức làm cơ sở cho hành động.
Giúp người học lĩnh hội được tri thức, chuẩn mực đạo đức, giá trị xã hội, làm cho học sinh nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và mục đích cuộc sống, trên cơ sở của những tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn.
Nhận thức đúng sẽ hình thành lí tưởng, ước mơ và phấn đấu có một cuộc sống hạnh phúc cho bản thân, gia đình và cho cả xã hội.
Nhân thức đúng là cơ sở cho việc hình thành thình cảm, thái độ và hành vi cuộc sống, là kim chỉ nam cho cuộc đời mỗi con người.
Vd: dạy trẻ biết phân biệt cái xấu, cái đẹp, cái đúng, cái sai, việc tốt việc xấu…
Vd: cho trẻ thấy trong cuộc sống còn có rất nhiều người tốt, …
Vd: dạy cho trẻ biết người xấu sẽ bị bắt, người tốt sống hạnh phúc qua câu chuyện cổ tích,…
Vd: dạy cho trẻ biết không được ăn cắp, ăn cắp sẽ bị người khác chê cười.
Giáo dục thái độ, niềm tin :
Thái độ, niềm tin chính là biểu hiện cụ thể của lí tưởng sống, của sự tôn trọng giá trị đạo đức và văn minh xã hội của mỗi cá nhân.
Ngoài việc làm cho con người nhận
thức đúng, quá trình giáo dục còn phải hình thành thái độ và niềm tin vào những điều đã được nhận thức được, vào chính tương lai cuộc sống của bản thân và dân tộc.
Thái độ là niềm tin của con người đối với những khái niệm văn hóa đạo đức, với những giá trị, chuẩn mực xã hội, với tương lai là lí tưởng của cuộc sống.
Vd: khi tới lớp trẻ chào cô, …
Giáo dục hành vi, thói quen :
Hành vi thói quen văn hóa chính là kỹ năng cuộc sống, là kết quả của nhận thức, đồng thời là biểu hiện cụ thể và sinh động nhất của thái độ và niềm tin của con người, nó được hình thành trong hoạt động, trong các tình huống cụ thể, là sản phẩm của quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện lâu dài và là mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục.
Hành vi là biểu hiện cụ thể nhất của bộ mặt tâm lí, đạo đức con người.
Vd: khi tham gia giao thông bẵng xe mô tô hay gắn máy đều phải đội mũ bảo hiểm.
Ba khâu này có liên quan chặt chẽ, không thể tách rời nhau, thiếu một trong ba khâu không còn là quá trình giáo dục hoàn chỉnh, mỗi khâu là tiền đề và là kết quả của các khâu kia. Tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể, vào đặc điểm của các đối tượng mà giáo dục bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu.
II. Nguyên tắc giáo dục là gì? Căn cứ vào đâu để xác định nguyên tắc giáo dục? Hệ thống các nguyên tắc giáo dục?
Quá trình giáo dục: là sự tương tác giữa nhà giáo dục và người được giáo dục để truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người.Là quá trình vận động và phát triển có quy luật, là hoạt động có tính khoa học và tính nghệ thuật cao.
Căn cứ vào mục đích giáo dục để người ta xác định nguyên tắc giáo dục vì:
Mục đích giáo dục là sự mong muốn, là dự kiến về kết quả đạt được của một quá trình giáo dục nhất định. Những mong muốn này có tính chất lý tưởng, là cái mà con người đang hướng tới, đang phấn đấu để đạt được. Nó có tác dụng định hướng, điều khiển hoạt động giáo dục trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Hệ thống nguyên tắc giáo dục gồm:
Đảm bảo tính mục đích.
Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất.
Giáo dục trong tập thể.
Tôn trọng nhân cách và đề ra yêu cầu hợp lý cới đối tượng.
Phát huy ý thức tự giáo dục của học sinh.
Đảm bảo tính liên tục và hệ thống của nguyên tắc giáo dục.
Thống nhất giữa các lực lượng giáo dục.
Đảm bảo tính vừa sức và tính cá biệt trong hoạt động giáo dục.;
III. Nêu và phân tích nội dung giáo dục thể chất cho học sinh mầm non.
1.Vai trò của giáo dục thể chất:
2. Mục đích và nhiệm vụ của GDTC:
3. Nguyên tắc giáo dục thể chất:
1.Vai trò của giáo dục thể chất:
Giáo dục thể chất góp phần trực tiếp nâng cao sức khỏe để học tập tốt, làm cho cuộc sống vui tươi, lành mạnh, lạc quan, chuẩn bị về mặt tinh thần và thể lực để tham gia lao động, bảo vệ Tổ quốc.GDTC thúc đẩy các nội dung giáo dục khác..
Đối với trí dục, GDTC góp phần nâng cao kết quả học tập. Sức khỏe tốt đảm bảo cho hoạt động trí tuệ cao. Các giác quan phát triển như mắt tinh, tai thính, cảm giác vận động nhạy bén, phát triển tư duy thực hành, óc quan sát, tháo vát, linh hoạt, chín chắn, cảm giác về thời gian, không gian chính xác. Giúp học sinh hiểu biết khoa học nhất định về động tác, kỹ thuật, môi trường thiên nhiên và xã hội, tổ chức hợp lý chế độ dinh dưoỡng. Củng cố tri thức khoa học như sinh học, lý học, toán học...
Đối với đức dục, GDTC đòi hỏi thể hiện hành vi đạo đức ngay trong thao tác và tinh thần thái độ luyện tập hằng ngày. Thông qua luyện tập thể dục thể thao rèn luyện lòng dũng cảm, ý chí nghị lực, lạc quan, ý thức tập thể, ý thức kỷ luật, lòng tự tin...
Đối với giáo dục lao động, GDTC tạo ra những người lao động mạnh khỏe, cần cù, nhanh nhẹn, thông minh, sáng tạo...
Đối với giáo dục thẩm mỹ, GDTC thể hiện ở các động tác thể dục thể thao như sự nhịp nhàng, đều đặn, khéo léo, hài hòa. Bản thân thể dục thể thao cũng là một môn nghệ thuật như thể dục nhịp điệu, thể dục nghệ thuật, thể dục tự do.
GDTC làm tăng vẻ đẹp con người giúp cho chữa một số khuyết tật bẩm sinh.
Một số kiểu giáo dục thể chất
Cho trẻ chơi trò vượt chướng ngoại vật giúp trẻ nhanh nhẹn, có ý tinh thần đồng đội,…
Aerobic giúp trẻ khéo léo, hài hòa sức mạnh cơ bắp và sức mạnh tinh thần,…
Tập vũ điệu giúp trẻ thông minh và sáng tạo hơn.
Tập thể dục nâng cao sức khỏe, cuộc sống lành mạnh,…
2. Mục đích và nhiệm vụ của GDTC:
2.1.Mục đích:
Chăm lo sức khỏe, nâng cao thể lực định hướng hoạt động văn hóa thể chất và khả năng thích ứng cuộc sống cho học sinh.
Hình thành và phát triển văn hóa thể chất, tạo ra lối sống lành mạnh.
Giáo dục nhân cách phát triển hài hòa và toàn diện.
Củng cố phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, chung sống hòa bình.
2.2. Nhiệm vụ:
Truyền đạt, lĩnh hội hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về thể dục, thể thao, vệ sinh thường thức, giữ gìn, chăm sóc sức khỏe.
Rèn luyện kỹ năng cơ bản về các bài tập thể dục phổ thông.
Phát hiện, bồi dưỡng nhân tài thể dục thể thao.
Tóm lại, GDTC góp phần cải tạo nòi giống con người Việt Nam, gắn bó hữu cơ với tất cả các mặt giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh.
3. Nguyên tắc giáo dục thể chất
Nguyên tắc tự giác tích cực.
Nguyên tắc trực quan.
Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, hệ thống và toàn diện.
Nguyên tắc vừa sức và coi trọng đặc điểm cá nhân của người tập.
Nguyên tắc củng cố và nâng cao.
Nguyên tắc đảm bảo an toàn trong luyện tập cho trẻ
NGUYÊN TẮC TÍCH CỰC:
Kết luận sư phạm:
Giáo viên phải thường xuyên bồi dưỡng những thói quen lắng nghe những lời chỉ bảo trong quá trình tập luyện, đồng thời cũng khuyến khích trẻ tự giác tích cực trong hoạt động.
Không ngừng cải tiến phương pháp dạy, lựa chọn nội dung cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ, để trẻ theo kịp bài học .
Nguyên tắc trực quan.
Kết luận sư phạm:
Giáo viên làm mẫu trực tiếp cho trẻ quan sát và dùng lời nói để mô tả động tác kèm với phim ảnh cho trẻ hình dung ra cách tập.
Cần phải phối hợp cả trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp.
Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, hệ thống và toàn diện.
Kết luận sư phạm:
Giáo viên cần xây dựng bài tập cho phù hợp, cân đối vận động giữa tay và chân và giữa các cơ quan.
Cần nâng dần độ khó của bài tập để cơ thể trẻ quen dần với vận động, các cơ quan, hệ thống trong cơ thể tăng dần khả năng thích ứng.
Giáo viên cần lưu ý dạy từ dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp, khối lượng vận động từ ít đến nhiều, thường xuyên luyện tập ,…
Nguyên tắc vừa sức và coi trọng đặc điểm cá nhân của người tập.
Kết luận sư phạm:
Xây dựng chương trình dạy phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ.
Giáo viên phải quan tâm, thấu hiểu dặc điểm cá nhân của từng trẻ.
Nguyên tắc củng cố và nâng cao.
Kết luận sư phạm.
Giáo viên tập đi tập lại động tác để hình thành phản xạ có điều kiện.
Nguyên tắc đảm bảo an toàn trong luyện tập cho trẻ
Kết luận sư phạm :
Giáo viên nghiêm túc chấp hành nguyên tắc đảm bảo an toàn trong luyện tập.
Nắm rõ tình hình sức khỏe để xác định bài tập cho phù hợp với thể lực chung của cả lớp.
ĐẾN VỚI BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA NHÓM VII
GVHD:
HOÀNG HỮU MiẾN
Thành viên:
LÊ THỊ MỸ LINH
NGÔ THỊ HUẾ
TRƯƠNG THỊ KIM HÒA
ĐỖ THỊ KHÁNH LINH
MỤC TIÊU
Logic của quá trình giáo dục là gì? Tình bày các khâu của quá trình giáo dục.
Nguyên tắc giáo dục là gì? Căn cứ vào đâu để xác định nguyên tắc giáo dục? Hệ thống các nguyên tắc giáo dục?
: Nêu và phân tích nội dung giáo dục thể chất cho học sinh mầm non.
I. Logic của quá trình giáo dục là gì? Tình bày các khâu của quá trình giáo dục.
Logic của quá trình giáo dục là trình tự thực hiện các khâu của nó nhằm hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục được giao.
Quá trình giáo dục được diễn ra theo ba khâu :
Giáo dục ý thức
Giáo dục thái độ, niềm tin
Giáo dục hành vi, thói quen
Vd: hình thành lý tưởng của trẻ qua các trò chơi như ước mơ của bé,…
Vd: dạy trẻ biết cảm ơn, xin lỗi,…
Giáo dục ý thức:
Giáo dục trước hết là quá trình tác động vào mặt nhận thức, làm cho mỗi con người có ý thức về mục đích, ý nghĩa và giá trị cuộc sống, hiểu được chân lý, lẽ phải, tính nhân văn, nhân đạo trong các mối quan hệ xã hội, từ đó hình thành thế giới quan, lý tưởng sống.
Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức làm cơ sở cho hành động.
Giúp người học lĩnh hội được tri thức, chuẩn mực đạo đức, giá trị xã hội, làm cho học sinh nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và mục đích cuộc sống, trên cơ sở của những tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn.
Nhận thức đúng sẽ hình thành lí tưởng, ước mơ và phấn đấu có một cuộc sống hạnh phúc cho bản thân, gia đình và cho cả xã hội.
Nhân thức đúng là cơ sở cho việc hình thành thình cảm, thái độ và hành vi cuộc sống, là kim chỉ nam cho cuộc đời mỗi con người.
Vd: dạy trẻ biết phân biệt cái xấu, cái đẹp, cái đúng, cái sai, việc tốt việc xấu…
Vd: cho trẻ thấy trong cuộc sống còn có rất nhiều người tốt, …
Vd: dạy cho trẻ biết người xấu sẽ bị bắt, người tốt sống hạnh phúc qua câu chuyện cổ tích,…
Vd: dạy cho trẻ biết không được ăn cắp, ăn cắp sẽ bị người khác chê cười.
Giáo dục thái độ, niềm tin :
Thái độ, niềm tin chính là biểu hiện cụ thể của lí tưởng sống, của sự tôn trọng giá trị đạo đức và văn minh xã hội của mỗi cá nhân.
Ngoài việc làm cho con người nhận
thức đúng, quá trình giáo dục còn phải hình thành thái độ và niềm tin vào những điều đã được nhận thức được, vào chính tương lai cuộc sống của bản thân và dân tộc.
Thái độ là niềm tin của con người đối với những khái niệm văn hóa đạo đức, với những giá trị, chuẩn mực xã hội, với tương lai là lí tưởng của cuộc sống.
Vd: khi tới lớp trẻ chào cô, …
Giáo dục hành vi, thói quen :
Hành vi thói quen văn hóa chính là kỹ năng cuộc sống, là kết quả của nhận thức, đồng thời là biểu hiện cụ thể và sinh động nhất của thái độ và niềm tin của con người, nó được hình thành trong hoạt động, trong các tình huống cụ thể, là sản phẩm của quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện lâu dài và là mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục.
Hành vi là biểu hiện cụ thể nhất của bộ mặt tâm lí, đạo đức con người.
Vd: khi tham gia giao thông bẵng xe mô tô hay gắn máy đều phải đội mũ bảo hiểm.
Ba khâu này có liên quan chặt chẽ, không thể tách rời nhau, thiếu một trong ba khâu không còn là quá trình giáo dục hoàn chỉnh, mỗi khâu là tiền đề và là kết quả của các khâu kia. Tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể, vào đặc điểm của các đối tượng mà giáo dục bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu.
II. Nguyên tắc giáo dục là gì? Căn cứ vào đâu để xác định nguyên tắc giáo dục? Hệ thống các nguyên tắc giáo dục?
Quá trình giáo dục: là sự tương tác giữa nhà giáo dục và người được giáo dục để truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người.Là quá trình vận động và phát triển có quy luật, là hoạt động có tính khoa học và tính nghệ thuật cao.
Căn cứ vào mục đích giáo dục để người ta xác định nguyên tắc giáo dục vì:
Mục đích giáo dục là sự mong muốn, là dự kiến về kết quả đạt được của một quá trình giáo dục nhất định. Những mong muốn này có tính chất lý tưởng, là cái mà con người đang hướng tới, đang phấn đấu để đạt được. Nó có tác dụng định hướng, điều khiển hoạt động giáo dục trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Hệ thống nguyên tắc giáo dục gồm:
Đảm bảo tính mục đích.
Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất.
Giáo dục trong tập thể.
Tôn trọng nhân cách và đề ra yêu cầu hợp lý cới đối tượng.
Phát huy ý thức tự giáo dục của học sinh.
Đảm bảo tính liên tục và hệ thống của nguyên tắc giáo dục.
Thống nhất giữa các lực lượng giáo dục.
Đảm bảo tính vừa sức và tính cá biệt trong hoạt động giáo dục.;
III. Nêu và phân tích nội dung giáo dục thể chất cho học sinh mầm non.
1.Vai trò của giáo dục thể chất:
2. Mục đích và nhiệm vụ của GDTC:
3. Nguyên tắc giáo dục thể chất:
1.Vai trò của giáo dục thể chất:
Giáo dục thể chất góp phần trực tiếp nâng cao sức khỏe để học tập tốt, làm cho cuộc sống vui tươi, lành mạnh, lạc quan, chuẩn bị về mặt tinh thần và thể lực để tham gia lao động, bảo vệ Tổ quốc.GDTC thúc đẩy các nội dung giáo dục khác..
Đối với trí dục, GDTC góp phần nâng cao kết quả học tập. Sức khỏe tốt đảm bảo cho hoạt động trí tuệ cao. Các giác quan phát triển như mắt tinh, tai thính, cảm giác vận động nhạy bén, phát triển tư duy thực hành, óc quan sát, tháo vát, linh hoạt, chín chắn, cảm giác về thời gian, không gian chính xác. Giúp học sinh hiểu biết khoa học nhất định về động tác, kỹ thuật, môi trường thiên nhiên và xã hội, tổ chức hợp lý chế độ dinh dưoỡng. Củng cố tri thức khoa học như sinh học, lý học, toán học...
Đối với đức dục, GDTC đòi hỏi thể hiện hành vi đạo đức ngay trong thao tác và tinh thần thái độ luyện tập hằng ngày. Thông qua luyện tập thể dục thể thao rèn luyện lòng dũng cảm, ý chí nghị lực, lạc quan, ý thức tập thể, ý thức kỷ luật, lòng tự tin...
Đối với giáo dục lao động, GDTC tạo ra những người lao động mạnh khỏe, cần cù, nhanh nhẹn, thông minh, sáng tạo...
Đối với giáo dục thẩm mỹ, GDTC thể hiện ở các động tác thể dục thể thao như sự nhịp nhàng, đều đặn, khéo léo, hài hòa. Bản thân thể dục thể thao cũng là một môn nghệ thuật như thể dục nhịp điệu, thể dục nghệ thuật, thể dục tự do.
GDTC làm tăng vẻ đẹp con người giúp cho chữa một số khuyết tật bẩm sinh.
Một số kiểu giáo dục thể chất
Cho trẻ chơi trò vượt chướng ngoại vật giúp trẻ nhanh nhẹn, có ý tinh thần đồng đội,…
Aerobic giúp trẻ khéo léo, hài hòa sức mạnh cơ bắp và sức mạnh tinh thần,…
Tập vũ điệu giúp trẻ thông minh và sáng tạo hơn.
Tập thể dục nâng cao sức khỏe, cuộc sống lành mạnh,…
2. Mục đích và nhiệm vụ của GDTC:
2.1.Mục đích:
Chăm lo sức khỏe, nâng cao thể lực định hướng hoạt động văn hóa thể chất và khả năng thích ứng cuộc sống cho học sinh.
Hình thành và phát triển văn hóa thể chất, tạo ra lối sống lành mạnh.
Giáo dục nhân cách phát triển hài hòa và toàn diện.
Củng cố phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, chung sống hòa bình.
2.2. Nhiệm vụ:
Truyền đạt, lĩnh hội hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về thể dục, thể thao, vệ sinh thường thức, giữ gìn, chăm sóc sức khỏe.
Rèn luyện kỹ năng cơ bản về các bài tập thể dục phổ thông.
Phát hiện, bồi dưỡng nhân tài thể dục thể thao.
Tóm lại, GDTC góp phần cải tạo nòi giống con người Việt Nam, gắn bó hữu cơ với tất cả các mặt giáo dục, hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh.
3. Nguyên tắc giáo dục thể chất
Nguyên tắc tự giác tích cực.
Nguyên tắc trực quan.
Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, hệ thống và toàn diện.
Nguyên tắc vừa sức và coi trọng đặc điểm cá nhân của người tập.
Nguyên tắc củng cố và nâng cao.
Nguyên tắc đảm bảo an toàn trong luyện tập cho trẻ
NGUYÊN TẮC TÍCH CỰC:
Kết luận sư phạm:
Giáo viên phải thường xuyên bồi dưỡng những thói quen lắng nghe những lời chỉ bảo trong quá trình tập luyện, đồng thời cũng khuyến khích trẻ tự giác tích cực trong hoạt động.
Không ngừng cải tiến phương pháp dạy, lựa chọn nội dung cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ, để trẻ theo kịp bài học .
Nguyên tắc trực quan.
Kết luận sư phạm:
Giáo viên làm mẫu trực tiếp cho trẻ quan sát và dùng lời nói để mô tả động tác kèm với phim ảnh cho trẻ hình dung ra cách tập.
Cần phải phối hợp cả trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp.
Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, hệ thống và toàn diện.
Kết luận sư phạm:
Giáo viên cần xây dựng bài tập cho phù hợp, cân đối vận động giữa tay và chân và giữa các cơ quan.
Cần nâng dần độ khó của bài tập để cơ thể trẻ quen dần với vận động, các cơ quan, hệ thống trong cơ thể tăng dần khả năng thích ứng.
Giáo viên cần lưu ý dạy từ dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp, khối lượng vận động từ ít đến nhiều, thường xuyên luyện tập ,…
Nguyên tắc vừa sức và coi trọng đặc điểm cá nhân của người tập.
Kết luận sư phạm:
Xây dựng chương trình dạy phù hợp với khả năng tiếp thu của trẻ.
Giáo viên phải quan tâm, thấu hiểu dặc điểm cá nhân của từng trẻ.
Nguyên tắc củng cố và nâng cao.
Kết luận sư phạm.
Giáo viên tập đi tập lại động tác để hình thành phản xạ có điều kiện.
Nguyên tắc đảm bảo an toàn trong luyện tập cho trẻ
Kết luận sư phạm :
Giáo viên nghiêm túc chấp hành nguyên tắc đảm bảo an toàn trong luyện tập.
Nắm rõ tình hình sức khỏe để xác định bài tập cho phù hợp với thể lực chung của cả lớp.
 







Các ý kiến mới nhất