Bài 3. Giới Khởi sinh, giới Nguyên sinh và giới Nấm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lê bá trung
Ngày gửi: 21h:15' 09-11-2023
Dung lượng: 364.5 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: lê bá trung
Ngày gửi: 21h:15' 09-11-2023
Dung lượng: 364.5 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Welcome to group 5
Bà i thuyế t trì nh môn sinh họ c
TẾ BÀO NHÂN THỰC:
THÀNH TẾ BÀO VÀ MÀNG TẾ BÀO
I,Thành tế bào
• Thành tế bào vi khuẩn được cấu tạo bởi nhiều đơn phân murein (thường gọi là peptidoglycan hoặc
glucopeptit). Trong đơn phân murein bao gồm: N - acetyl glucozamin (G), N - acetyl muramic (M),
Alanin, D - glutamic và Di – aninoaxit, với công thức là: G: M: Ala: D – glu: Diamin = 1: 1: 2: 1: 1.
• Mối liên kết giữa các axit amin trong đơn phân: G và M liên kết với nhau bằng liên kết 1-4 þ glucozit.
Các amino axit liên kết với nhau sẽ liên kết với M bằng liên kết pettit. Các đơn phân liên kết với
nhau sẽ tạo lớp thành bền vững.
• Giữa M của đơn phân đầu tiên với G của đơn phân tiếp theo cũng liên kết với nhau bằng liên kết 14 þ glucozit tạo nên liên kết chuỗi dài của thành tế bào.
• Liên kết 1-4 þ glucozit bị enzim lyzozim cắt đứt, và thành tế bào bị thuỷ phân bởi lyzozim.
• Giữa các đơn phân trên hai chuỗi khác nhau cũng liên kết với nhau tạo nên liên kết ngang của thành
tế bào. Ở vi khuẩn Gram âm hai đơn phân liên kết nhau là Diamin và D - ala. Ở vi khuẩn Gram
dương hai đơn phân liên kết ở Diamin và D - ala qua cầu nối pentaglyxin. Thành tế bào Gram dương
có nhiều lớp murein tạo thành màng ở vi khuẩn G - có một lớp murein làm thành mỏng hơn nữa.
Thành tế bào vi khuẩn cũng có một hợp chất đặc biệt là axit teicoic hợp chất tìm thấy chủ yếu ở vi
khuẩn Gram dương (Nó chiếm 50% trọng lượng khô của màng) ở vi khuẩn Gram âm không thấy
hợp chất này. Bên ngoài vỏ tế bào vi khuẩn Gram âm có lớp màng ngoài cấu tạo vô cùng phức tạp.
Thành tế bào thực vật có nhiều lớp và gồm tối đa ba phần. Từ lớp ngoài cùng của thành tế
bào, những lớp này được gọi là phiến giữa, vách tế bào sơ cấp và các vách tế bào thứ cấp.
Mặc dù hầu hết các tế bào thực vật đều có phiến giữa và các vách tế bào sơ cấp, tuy nhiên
không phải tất cả đều có vách tế bào thứ cấp.
Trung phiến kính: ngoài lớp vách tế bào có chứa polysaccharides gọi là pectin. Pectins hỗ
trợ kết dính tế bào bằng cách tạo cho tế bào của những tế bào khác liên kết với nhau.
Vách tế bào biểu bì: Lớp này được cấu tạo giữa phiến giữa và màng sinh chất trong tế bào
thực vật đang tăng trưởng. Nó được cấu tạo chủ yếu bởi những vi sợi xenlulo nằm trong
một ma trận giống như gel của các sợi hemicellulose và polysaccharid pectin. Thành tế bào
cung cấp năng lượng và sự linh động cần thiết cho tế bào tăng trưởng.
Thành tế bào thứ cấp: Lớp cứng được hình thành giữa các tế bào gốc và màng sinh chất ở
một số tế bào thực vật. Một khi thành tế bào sơ cấp ngừng phân chia và phát triển, nó sẽ
cứng hơn để tạo nên tế bào thứ cấp. Lớp cứng giúp tăng cường và bảo vệ tế bào. Ngoài
cellulose và hemicellulose, các thành tế bào thứ cấp có chứa lignin. Lignin củng cố thành tế
bào và giúp giữ nước trong tế bào mô mạch thực vật.
Vai trò-chức năng
• thành tế bào có vai trò và chức năng là: bảo vệ tế bào, cũng như định hình dạng và kích thước tế bào.
Bên cạnh đó là các vai trò và yếu tố chức năng giúp thành tế bào trong tế bào:
• Làm cho tế bào có hình dạng nhất định.
• Bảo vệ tế bào khi chịu ảnh hưởng từ các yếu tố cơ học và các yếu tố khác đến từ môi trường.
• Có tác dụng cân bằng và bảo vệ các thành phần bên trong của tế bào.
• Giữa các phân tử cellulose có những khoảng trống để nước và khoáng chất (muối khoáng) không vào
được bên trong tế bào.
• Sự khác biệt giữa 2 loại thành tế bào này đã giúp chúng ta có thể sử dụng thuốc kháng sinh đặc hiệu để
tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh.
• Thành tế bào thực vật gồm 3 thành phần chính là: cellulose, hemicellulose và pectin: tỷ lệ giữa các
thành phần này khác nhau ở từng thời kỳ, từng bước tăng trưởng của tế bào thực vật. Trong tự nhiên,
cellulose đóng vai trò quan trọng nhất.
• Xenlulozo là chất tương tự polimepolime của nhiều đồng phân cùng loại là glucozo.
• Các đơn phân glucozo được nối với nhau bởi liên kết 1-4 glicozit tạo thành sự xen kẽ một "xấp" và một
"ngửa" nàm như dải băng duỗi thẳng không có sự phân bào.
• Nhờ cấu trúc này mà các liên kết hidrô giữa các phân tử phát triển song song nhau tạo thành bó dài
dưới dạng vi sợi. Liên kết vi sợi không hòa tan được sắp xếp dưới dạng các lớp xen phủ tạo thành một
cấu trúc dai và chắc.
•
•
•
•
•
•
Ngoài ra, một vai trò quan trọng của thành tế bào là tạo thành một khuôn khổ cho tế bào để ngăn
chặn việc mở rộng. Sợi Cellulose, protein cấu trúc và các polysaccharides khác giúp duy trì hình
dạng và hình dạng tế bào. Các chức năng bổ sung của thành tế bào bao gồm:
Hỗ trợ - thành tế bào cung cấp sức mạnh vật lý và hỗ trợ. Nó cũng kiểm soát sự tăng trưởng của tế
bào. Chịu được áp lực turgor là lực tác dụng lên thành tế bào khi nội dung của tế bào qua màng
plasma đến thành tế bào. Áp lực này giúp cây khỏe mạnh và cương cứng, tuy nhiên cũng có thể
khiến các tế bào bị tổn thương.
Điều chỉnh tăng trưởng - truyền tín hiệu tăng trưởng đến não để kích hoạt chu trình tế bào để sinh
trưởng và phát triển. Điều chỉnh sự vận chuyển đến các thành tế bào sẽ giúp cho thành tế bào xốp
và cho một số chất, gồm cả protein, đi đến tế bào trong khi không còn những chất khác.
Truyền thông - các tế bào giao tiếp với nhau bằng plasmodesmata (lỗ chân lông hoặc các kênh giữa
các thành tế bào thực vật cho các phân tử và tín hiệu được chuyển qua giữa những tế bào thực vật
riêng biệt).
Bảo vệ là một rào cản giúp bảo vệ chống lại virus thực vật và những tác nhân gây bệnh khác. Nó
cũng giúp ngăn chặn mất nước.
Lưu trữ có chức năng như tên của nó, tại đây nó lưu trữ carbohydrate được dùng trong công
nghiệp, đặc biệt là trong thực phẩm.
II,MÀNG TẾ BÀO
• Năm 1972,Singơ(Singer) và Nicolson (Nicolson) đã đưa ra mô
hình cấu tạo màng sinh chất được gọi là mô hình khảm
động. Theo mô hình này, màng sinh chất có cấu tạo gồm 2
thành phần chính là phôtpholipit và prôtêin. Ngoài ra, ở các
tế bào động vật và người, màng sinh chất còn có nhiều phân
tử colestêron làm tăng độ ổn định của màng sinh chất. Các
prôtêin của màng tế bào có tác dụng như những kênh vận
chuyển các chất ra vào tế bào cũng như các thụ thể tiếp
nhận các thông tin từ bên ngoài. Có thể nói, màng sinh chất
như bộ mặt của tế bào và các thành phần của màng sinh
chất như prôtêin, glicôlipit và glicôprôtêin làm nhiệm vụ như
các giác quan (thụ thể), cửa ngõ (kênh) và những dấu chuẩn
nhận biết đặc trưng cho từng loại tế bào
Chức năng
• Màng tế bào có tính thấm chọn lọc và có thể kiểm soát những gì ra và vào tế bào, do đó tạo điều kiện để vận chuyển các
chất cần thiết cho sự sống. Sự di chuyển của các chất đi qua màng có thể là "thụ động" diễn ra mà tế bào không sản
sinh ra năng lượng hoặc "chủ động" đòi hỏi tế bào phải tiêu hao năng lượng cho việc vận chuyển các chất. Màng nhận
nhiệm vụ duy trì điện thế cho tế bào và làm việc như một bộ lọc chỉ cho phép những thứ thiết yếu vào và ra khỏi tế bào.
Tế bào sử dụng một số các cơ chế chuyển đổi có liên quan đến các màng sinh học:
• 1. Sự thẩm thấu và khuếch tán bị động: một số chất (các phân tử nhỏ, ion) chẳng hạn như carbon dioxide (CO2) va
oxi (O2) có thể di chuyển qua màng sinh chất nhờ vào sự khuếch tán - một quá trình vận chuyển bị động. Màng hoạt
động như một rào chắn đối với các phân tử thiết yếu và ion, diễn ra ở nhiều nồng độ khác nhau trên hai mặt bên của
màng. Chẳng hạn như nồng độ Gradien qua màng có tính bán thấm hình thành nên một luồng thẩm thấu cho nước.
• 2. Màng vận chuyển các kênh protein và các tác nhân vận chuyển: Các chất dinh dưỡng như đường hay amino acid phải
được đưa vào trong tế bào và các sản phẩm thiết yếu của quá trình trao đổi chất phải ra khỏi tế bào. Chẳng hạn như các
phân tử khuếch tán một cách bị động thông qua các kênh protein như những kênh nước (đối với nước (H2O)) trong
trường hợp đủ điều kiện khuếch tán hoặc được bơm qua màng nhờ các tác nhân vận chuyển của màng vận chuyển. Các
kênh protein còn được gọi là các màng thấm, chúng thường khá cụ thể, nhận biết và vận chuyển chỉ một số hoá chất có
trong một nhóm thức ăn được giới hạn, thậm chí thường chỉ là đơn chất.
• 3. Quá trình nhập bào: là quá trình mà trong đó tế bào hấp thu các phân tử bằng cách nhấn chìm chúng. Màng sinh chất
tạo ra một sự biến dạng nhỏ ở bên trong được gọi là lỗ hõm mà tại đó các chất được vận chuyển bị bao bọc lấy. Sau đó,
sự biến dạng này được tách ra khỏi màng bên trong của tế bào và tạo ra một túi để chứa đựng các chất bị bao bọc. Quá
trình nhập bào là quá trình cho việc tiếp nhận một bộ phận nhỏ các chất đáng tin cậy ("thực bào"), các phân tử nhỏ và
ion ("ẩm bào") và đại phân tử. Quá trình nhập bào tiêu tốn năng lượng nên nó được xem như một hình thức vẩn
chuyển chủ động.
• Với các protein màng trên màng tế bào, màng tế bào còn có thể thực
hiện các chức năng:
• - Chức năng enzim: Xúc tác cho các phản ứng hóa học xảy ra trên màng
hoặc trong tế bào
• - Chức năng thu nhận, truyền đạt thông tin: các thụ quan có hình dạng
đặc thù để gắn với thông tin hóa học để kích thích hoặc ức chế các quá
trình trong tế bào sao cho phù hợp với môi trường
• - Chức năng nối kết: kết nối các tế bào thành một khối ổn định
• - Chức năng neo màng: protein liên kết với protein sợi hoặc các sợi trong
tế bào chất, tạo sự ổn định bền chắc của màng
• - Chức năng vận chuyển các chất qua màng
• Ngoài ra màng còn có thể nhận biết tế bào nhờ cacbohydrat gắn trên
protein.
Phần thuyết trình nhóm em đến đây được kết thúc
Cảm ơn cô và các bạn đã lắng nghe
Bà i thuyế t trì nh môn sinh họ c
TẾ BÀO NHÂN THỰC:
THÀNH TẾ BÀO VÀ MÀNG TẾ BÀO
I,Thành tế bào
• Thành tế bào vi khuẩn được cấu tạo bởi nhiều đơn phân murein (thường gọi là peptidoglycan hoặc
glucopeptit). Trong đơn phân murein bao gồm: N - acetyl glucozamin (G), N - acetyl muramic (M),
Alanin, D - glutamic và Di – aninoaxit, với công thức là: G: M: Ala: D – glu: Diamin = 1: 1: 2: 1: 1.
• Mối liên kết giữa các axit amin trong đơn phân: G và M liên kết với nhau bằng liên kết 1-4 þ glucozit.
Các amino axit liên kết với nhau sẽ liên kết với M bằng liên kết pettit. Các đơn phân liên kết với
nhau sẽ tạo lớp thành bền vững.
• Giữa M của đơn phân đầu tiên với G của đơn phân tiếp theo cũng liên kết với nhau bằng liên kết 14 þ glucozit tạo nên liên kết chuỗi dài của thành tế bào.
• Liên kết 1-4 þ glucozit bị enzim lyzozim cắt đứt, và thành tế bào bị thuỷ phân bởi lyzozim.
• Giữa các đơn phân trên hai chuỗi khác nhau cũng liên kết với nhau tạo nên liên kết ngang của thành
tế bào. Ở vi khuẩn Gram âm hai đơn phân liên kết nhau là Diamin và D - ala. Ở vi khuẩn Gram
dương hai đơn phân liên kết ở Diamin và D - ala qua cầu nối pentaglyxin. Thành tế bào Gram dương
có nhiều lớp murein tạo thành màng ở vi khuẩn G - có một lớp murein làm thành mỏng hơn nữa.
Thành tế bào vi khuẩn cũng có một hợp chất đặc biệt là axit teicoic hợp chất tìm thấy chủ yếu ở vi
khuẩn Gram dương (Nó chiếm 50% trọng lượng khô của màng) ở vi khuẩn Gram âm không thấy
hợp chất này. Bên ngoài vỏ tế bào vi khuẩn Gram âm có lớp màng ngoài cấu tạo vô cùng phức tạp.
Thành tế bào thực vật có nhiều lớp và gồm tối đa ba phần. Từ lớp ngoài cùng của thành tế
bào, những lớp này được gọi là phiến giữa, vách tế bào sơ cấp và các vách tế bào thứ cấp.
Mặc dù hầu hết các tế bào thực vật đều có phiến giữa và các vách tế bào sơ cấp, tuy nhiên
không phải tất cả đều có vách tế bào thứ cấp.
Trung phiến kính: ngoài lớp vách tế bào có chứa polysaccharides gọi là pectin. Pectins hỗ
trợ kết dính tế bào bằng cách tạo cho tế bào của những tế bào khác liên kết với nhau.
Vách tế bào biểu bì: Lớp này được cấu tạo giữa phiến giữa và màng sinh chất trong tế bào
thực vật đang tăng trưởng. Nó được cấu tạo chủ yếu bởi những vi sợi xenlulo nằm trong
một ma trận giống như gel của các sợi hemicellulose và polysaccharid pectin. Thành tế bào
cung cấp năng lượng và sự linh động cần thiết cho tế bào tăng trưởng.
Thành tế bào thứ cấp: Lớp cứng được hình thành giữa các tế bào gốc và màng sinh chất ở
một số tế bào thực vật. Một khi thành tế bào sơ cấp ngừng phân chia và phát triển, nó sẽ
cứng hơn để tạo nên tế bào thứ cấp. Lớp cứng giúp tăng cường và bảo vệ tế bào. Ngoài
cellulose và hemicellulose, các thành tế bào thứ cấp có chứa lignin. Lignin củng cố thành tế
bào và giúp giữ nước trong tế bào mô mạch thực vật.
Vai trò-chức năng
• thành tế bào có vai trò và chức năng là: bảo vệ tế bào, cũng như định hình dạng và kích thước tế bào.
Bên cạnh đó là các vai trò và yếu tố chức năng giúp thành tế bào trong tế bào:
• Làm cho tế bào có hình dạng nhất định.
• Bảo vệ tế bào khi chịu ảnh hưởng từ các yếu tố cơ học và các yếu tố khác đến từ môi trường.
• Có tác dụng cân bằng và bảo vệ các thành phần bên trong của tế bào.
• Giữa các phân tử cellulose có những khoảng trống để nước và khoáng chất (muối khoáng) không vào
được bên trong tế bào.
• Sự khác biệt giữa 2 loại thành tế bào này đã giúp chúng ta có thể sử dụng thuốc kháng sinh đặc hiệu để
tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh.
• Thành tế bào thực vật gồm 3 thành phần chính là: cellulose, hemicellulose và pectin: tỷ lệ giữa các
thành phần này khác nhau ở từng thời kỳ, từng bước tăng trưởng của tế bào thực vật. Trong tự nhiên,
cellulose đóng vai trò quan trọng nhất.
• Xenlulozo là chất tương tự polimepolime của nhiều đồng phân cùng loại là glucozo.
• Các đơn phân glucozo được nối với nhau bởi liên kết 1-4 glicozit tạo thành sự xen kẽ một "xấp" và một
"ngửa" nàm như dải băng duỗi thẳng không có sự phân bào.
• Nhờ cấu trúc này mà các liên kết hidrô giữa các phân tử phát triển song song nhau tạo thành bó dài
dưới dạng vi sợi. Liên kết vi sợi không hòa tan được sắp xếp dưới dạng các lớp xen phủ tạo thành một
cấu trúc dai và chắc.
•
•
•
•
•
•
Ngoài ra, một vai trò quan trọng của thành tế bào là tạo thành một khuôn khổ cho tế bào để ngăn
chặn việc mở rộng. Sợi Cellulose, protein cấu trúc và các polysaccharides khác giúp duy trì hình
dạng và hình dạng tế bào. Các chức năng bổ sung của thành tế bào bao gồm:
Hỗ trợ - thành tế bào cung cấp sức mạnh vật lý và hỗ trợ. Nó cũng kiểm soát sự tăng trưởng của tế
bào. Chịu được áp lực turgor là lực tác dụng lên thành tế bào khi nội dung của tế bào qua màng
plasma đến thành tế bào. Áp lực này giúp cây khỏe mạnh và cương cứng, tuy nhiên cũng có thể
khiến các tế bào bị tổn thương.
Điều chỉnh tăng trưởng - truyền tín hiệu tăng trưởng đến não để kích hoạt chu trình tế bào để sinh
trưởng và phát triển. Điều chỉnh sự vận chuyển đến các thành tế bào sẽ giúp cho thành tế bào xốp
và cho một số chất, gồm cả protein, đi đến tế bào trong khi không còn những chất khác.
Truyền thông - các tế bào giao tiếp với nhau bằng plasmodesmata (lỗ chân lông hoặc các kênh giữa
các thành tế bào thực vật cho các phân tử và tín hiệu được chuyển qua giữa những tế bào thực vật
riêng biệt).
Bảo vệ là một rào cản giúp bảo vệ chống lại virus thực vật và những tác nhân gây bệnh khác. Nó
cũng giúp ngăn chặn mất nước.
Lưu trữ có chức năng như tên của nó, tại đây nó lưu trữ carbohydrate được dùng trong công
nghiệp, đặc biệt là trong thực phẩm.
II,MÀNG TẾ BÀO
• Năm 1972,Singơ(Singer) và Nicolson (Nicolson) đã đưa ra mô
hình cấu tạo màng sinh chất được gọi là mô hình khảm
động. Theo mô hình này, màng sinh chất có cấu tạo gồm 2
thành phần chính là phôtpholipit và prôtêin. Ngoài ra, ở các
tế bào động vật và người, màng sinh chất còn có nhiều phân
tử colestêron làm tăng độ ổn định của màng sinh chất. Các
prôtêin của màng tế bào có tác dụng như những kênh vận
chuyển các chất ra vào tế bào cũng như các thụ thể tiếp
nhận các thông tin từ bên ngoài. Có thể nói, màng sinh chất
như bộ mặt của tế bào và các thành phần của màng sinh
chất như prôtêin, glicôlipit và glicôprôtêin làm nhiệm vụ như
các giác quan (thụ thể), cửa ngõ (kênh) và những dấu chuẩn
nhận biết đặc trưng cho từng loại tế bào
Chức năng
• Màng tế bào có tính thấm chọn lọc và có thể kiểm soát những gì ra và vào tế bào, do đó tạo điều kiện để vận chuyển các
chất cần thiết cho sự sống. Sự di chuyển của các chất đi qua màng có thể là "thụ động" diễn ra mà tế bào không sản
sinh ra năng lượng hoặc "chủ động" đòi hỏi tế bào phải tiêu hao năng lượng cho việc vận chuyển các chất. Màng nhận
nhiệm vụ duy trì điện thế cho tế bào và làm việc như một bộ lọc chỉ cho phép những thứ thiết yếu vào và ra khỏi tế bào.
Tế bào sử dụng một số các cơ chế chuyển đổi có liên quan đến các màng sinh học:
• 1. Sự thẩm thấu và khuếch tán bị động: một số chất (các phân tử nhỏ, ion) chẳng hạn như carbon dioxide (CO2) va
oxi (O2) có thể di chuyển qua màng sinh chất nhờ vào sự khuếch tán - một quá trình vận chuyển bị động. Màng hoạt
động như một rào chắn đối với các phân tử thiết yếu và ion, diễn ra ở nhiều nồng độ khác nhau trên hai mặt bên của
màng. Chẳng hạn như nồng độ Gradien qua màng có tính bán thấm hình thành nên một luồng thẩm thấu cho nước.
• 2. Màng vận chuyển các kênh protein và các tác nhân vận chuyển: Các chất dinh dưỡng như đường hay amino acid phải
được đưa vào trong tế bào và các sản phẩm thiết yếu của quá trình trao đổi chất phải ra khỏi tế bào. Chẳng hạn như các
phân tử khuếch tán một cách bị động thông qua các kênh protein như những kênh nước (đối với nước (H2O)) trong
trường hợp đủ điều kiện khuếch tán hoặc được bơm qua màng nhờ các tác nhân vận chuyển của màng vận chuyển. Các
kênh protein còn được gọi là các màng thấm, chúng thường khá cụ thể, nhận biết và vận chuyển chỉ một số hoá chất có
trong một nhóm thức ăn được giới hạn, thậm chí thường chỉ là đơn chất.
• 3. Quá trình nhập bào: là quá trình mà trong đó tế bào hấp thu các phân tử bằng cách nhấn chìm chúng. Màng sinh chất
tạo ra một sự biến dạng nhỏ ở bên trong được gọi là lỗ hõm mà tại đó các chất được vận chuyển bị bao bọc lấy. Sau đó,
sự biến dạng này được tách ra khỏi màng bên trong của tế bào và tạo ra một túi để chứa đựng các chất bị bao bọc. Quá
trình nhập bào là quá trình cho việc tiếp nhận một bộ phận nhỏ các chất đáng tin cậy ("thực bào"), các phân tử nhỏ và
ion ("ẩm bào") và đại phân tử. Quá trình nhập bào tiêu tốn năng lượng nên nó được xem như một hình thức vẩn
chuyển chủ động.
• Với các protein màng trên màng tế bào, màng tế bào còn có thể thực
hiện các chức năng:
• - Chức năng enzim: Xúc tác cho các phản ứng hóa học xảy ra trên màng
hoặc trong tế bào
• - Chức năng thu nhận, truyền đạt thông tin: các thụ quan có hình dạng
đặc thù để gắn với thông tin hóa học để kích thích hoặc ức chế các quá
trình trong tế bào sao cho phù hợp với môi trường
• - Chức năng nối kết: kết nối các tế bào thành một khối ổn định
• - Chức năng neo màng: protein liên kết với protein sợi hoặc các sợi trong
tế bào chất, tạo sự ổn định bền chắc của màng
• - Chức năng vận chuyển các chất qua màng
• Ngoài ra màng còn có thể nhận biết tế bào nhờ cacbohydrat gắn trên
protein.
Phần thuyết trình nhóm em đến đây được kết thúc
Cảm ơn cô và các bạn đã lắng nghe
 







Các ý kiến mới nhất