Bài 48. Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Riley Phạm
Ngày gửi: 20h:06' 05-02-2009
Dung lượng: 4.0 MB
Số lượt tải: 102
Nguồn:
Người gửi: Riley Phạm
Ngày gửi: 20h:06' 05-02-2009
Dung lượng: 4.0 MB
Số lượt tải: 102
Số lượt thích:
0 người
Tổ 3
Khí mỏ dầu
và
Khí thiên nhiên
KHÍ MỎ DẦU VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN
KHÍ MỎ DẦU VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN
B
Thành phần khí mỏ dầu và khí thiên nhiên
Khí mỏ dầu
Lớp Khí mỏ dầu
Thành phần khí mỏ dầu và khí thiên nhiên
Khí mỏ dầu
Thành phần khí mỏ dầu và khí thiên nhiên
Khí thiên nhiên
Thành phần khí mỏ dầu và khí thiên nhiên
Hợp phần và % thể tích
Khí thiên nhiên và khí mỏ dầu được khai thác khỏi mặt đất, nó được vận chuyển bằng đường ống dẫn khí đến một nhà máy tinh lọc và xử lý, nơi nó được chế biến.
Khí thiên nhiên được chế biến bằng các thiết bị tách lọc khí để loại bỏ các hợp chất không phải là hyđrôcacbon, đặc biệt là hyđrô sulfít và điôxít cacbon. Hai quá trình sử dụng cho mục đích này là hấp thụ và hút bám (absorption and adsorption).
Quá trình hấp thụ sử dụng một chất lỏng hấp thụ khí tự nhiên và các tạp chất và phân tán chúng trong chất lỏng này. Trong một quá trình được gọi là hấp thụ hóa học, các tạp chất phản ứng với chất lỏng hấp thụ. Khí thiên nhiên sau đó thoát ra khỏi chất hấp thụ còn chất hấp thụ còn tạp chất ở lại trong chất lỏng. Các chất lỏng hấp thụ thường được sử dụng là nước, các dung dịch amin nước (aqueous amine) và cacbonat natri.
Quá trình hút bám là một quá trình cố đặc khí tự nhiên trên bề mặt một chất rắn hoặc một chất lỏng để loại bỏ tạp chất. Một chất thường được sử dụng cho mục đích này là cacbon (than), là chất có diện tích bề mặt trên đơn vị trọng lượng rộng. Ví dụ, các hợp chất lưu huỳnh trong phí tự nhiên được bề mặt hấp thụ của cacbon giữ lấy. Các hợp chất lưu huỳnh được kết hợp với hyđrô và ôxi để tạo thành axít sulphuric và có thể loại bỏ.
Chế biến, ứng dụng của KMD và KTN
Chế biến
Chế biến, ứng dụng của KMD và KTN
Ứng dụng
Phân bố
Bản đồ phân bố
Bản đồ sản lượng khí thiên nhiên theo quốc gia (các quốc gia màu nâu và tiếp theo là màu đỏ là những quốc gia có sản lượng lớn nhất)
Tổ 3
Than Mỏ
THAN MỎ
THAN MỎ
C
Định nghĩa
Than mỏ được tạo thành do thực vật bị vùi lấp dưới đất và phân hủy dần, bị nén dưới áp suất cao, nhiệt độ lớn trong hàng triệu năm. Thời gian phân hủy càng dài, than càng già và hàm lượng cacbon trong than càng cao.
Phân loại
Than mỡ là loại (nhãn) than đá có mức độ hoá than nhất định, ở giai đoạn gần giữa của quá trình biến chất than. Màu đen, vết vạch đen có ánh hơi nâu; ánh thuỷ tinh. Giòn. Khối lượng riêng 1,15 - 1,25 g/cm3. Độ ẩm 0,5 - 1,5%, chất bốc 20 - 35%, cacbon (cháy) 85 - 88%; hiđro 4,9 - 5,5%. Q = 8.400 - 8.600 kcal/kg. Khi chưng khô, TM sẽ mềm ra, trương phồng rồi kết lại thành cục cốc nhẹ, xốp, bền chắc. TM là loại than đá quý để chế ra cốc lò cao và các hiđrocacbon thơm cho công nghiệp hóa học. Gặp trong mỏ than Làng Cẩm, Phấn Mễ - Thái Nguyên, Đầm Đùn - Ninh Bình, Khe Bố - Nghệ An, nhưng trữ lượng không đáng kể.
Chưng khô than béo (than mỡ)
Khái niệm
Chưng khô (piroliza) là quá trình phân hóa các chất hữu cơ bằng nhiệt, dưới tác động của nhiệt độ cao, trong thời gian dài và trong điều kiện thiếu ôxy và các chất ôxy hóa khác.
Thường thì trong quá trình chưng khô các hợp chất hóa học phức tạp sẽ bị phân hủy thành các chất đơn giản hơn, có phân tử lượng nhỏ hơn (craking). Trong một số trường hợp thì qua chưng khô có thể tạo ra các chất nung, là các chất đơn giản hơn về hóa học nhưng lại có cấu trúc mạng không gian, với nhiều thuộc tính vật lý rất thú vị. Cơ chế biến hóa trong quá trình chưng khô thường là khá phức tạp, còn về bản chất của hiện tượng này thì rất khó nghiên cứu trong các điều kiện mà nó tồn tại.
Trong công nghiệp thì chưng khô thường dùng để:
thu hồi các chất mônôme (có cấu trúc đơn phần) từ pôlime (cấu trúc chuỗi đa phần) trong quá trình xử lý chất thải và tái thu hồi (recycling).
sản xuất đồ sứ.
sản xuất các vật liệu, nhất là các loại vật liệu chịu nhiệt.
Chưng khô là một công đoạn của quá trình hóa khí.
Khí lò cốc: 65% H2, 35% CH4, CO2, CO, C2H6, N2,…. Dùng làm nhiên liệu
Lớp nước + NH3: Dùng làm phân đạm
Lớp nhựa: lớp nhựa than đá
Chưng khô than béo (than mỡ)
Quá Trình
Than cốc dùng cho luyện kim
Làm lạnh
Chưng cất nhựa than đá
NHỰA THAN ĐÁ:
Là sản phẩm lỏng thu hồi được trong quá trình cốc hoá than ở nhiệt độ cao (khoảng 1.000oC). NTĐ còn được gọi là nhựa thứ cấp, vì nó được tạo thành sau khi tạo nhựa bán cốc ở nhiệt độ thấp hơn.
Khái niệm
Chưng cất là một phương pháp tách dùng nhiệt để tách hỗn hợp đồng thể (dung dịch) của các chất lỏng khác nhau. Chất rắn hòa tan, thí dụ như các loại muối, được tách ra khỏi chất lỏng bằng cách kết tinh. Dung dịch muối có thể làm cô đặc bằng cách cho bay hơi. Khi sản phẩm mong muốn chính là hơi bốc lên, thí dụ như khi khử muối ra khỏi nước biển, thì người ta cũng gọi đó là chưng cất, mặc dầu điều này chính xác ra là không đúng. Một khả năng khác để tách dung dịch là đông tụ. Trong các ngôn ngữ châu Âu, từ chưng cất bắt nguồn từ tiếng La tinh destillare có nghĩa là nhỏ giọt xuống.
Chưng cất nhựa than đá
Nhựa than đá đem chưng cất sẽ thu đc các hiđrocacbon thơm , dị vòng thơm và các dẫn xuất của chúng .
VD:
_ Phân đoạn sôI ở 80-170 C là dầu nhẹ , chứa benzen, toluen, xilen...
_Phân đoạn sôi ở 170- 230 C , gọi là dầu trung, chứa naphtalen, phenol, piriđin,.
_Phân đoạn sôI ở 230- 270 C gọi là dầu nặng , chứa crezol, xilenol, quinolin,..
- Cặn còn lại là hắc ín dùng để rải đường .
Sản phẩm
Khai thác than
Tác hại của nguyên liệu hóa thạch
& Giải pháp cứu môi trường
Thành viên Tổ 3:
Nguyễn Thị Diệu Hương
Lê Nhật Linh
Đặng Thị Thu Minh
Trịnh Ngọc Khoa
Đinh Tuấn Anh
Nguyễn Chí Công
Nguyễn Thanh Long
Trần Hữu Sinh
Nguồn khai thác: Wikipedia Vietnam
harvard.edu
Chemistry Club.
.
Khí mỏ dầu
và
Khí thiên nhiên
KHÍ MỎ DẦU VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN
KHÍ MỎ DẦU VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN
B
Thành phần khí mỏ dầu và khí thiên nhiên
Khí mỏ dầu
Lớp Khí mỏ dầu
Thành phần khí mỏ dầu và khí thiên nhiên
Khí mỏ dầu
Thành phần khí mỏ dầu và khí thiên nhiên
Khí thiên nhiên
Thành phần khí mỏ dầu và khí thiên nhiên
Hợp phần và % thể tích
Khí thiên nhiên và khí mỏ dầu được khai thác khỏi mặt đất, nó được vận chuyển bằng đường ống dẫn khí đến một nhà máy tinh lọc và xử lý, nơi nó được chế biến.
Khí thiên nhiên được chế biến bằng các thiết bị tách lọc khí để loại bỏ các hợp chất không phải là hyđrôcacbon, đặc biệt là hyđrô sulfít và điôxít cacbon. Hai quá trình sử dụng cho mục đích này là hấp thụ và hút bám (absorption and adsorption).
Quá trình hấp thụ sử dụng một chất lỏng hấp thụ khí tự nhiên và các tạp chất và phân tán chúng trong chất lỏng này. Trong một quá trình được gọi là hấp thụ hóa học, các tạp chất phản ứng với chất lỏng hấp thụ. Khí thiên nhiên sau đó thoát ra khỏi chất hấp thụ còn chất hấp thụ còn tạp chất ở lại trong chất lỏng. Các chất lỏng hấp thụ thường được sử dụng là nước, các dung dịch amin nước (aqueous amine) và cacbonat natri.
Quá trình hút bám là một quá trình cố đặc khí tự nhiên trên bề mặt một chất rắn hoặc một chất lỏng để loại bỏ tạp chất. Một chất thường được sử dụng cho mục đích này là cacbon (than), là chất có diện tích bề mặt trên đơn vị trọng lượng rộng. Ví dụ, các hợp chất lưu huỳnh trong phí tự nhiên được bề mặt hấp thụ của cacbon giữ lấy. Các hợp chất lưu huỳnh được kết hợp với hyđrô và ôxi để tạo thành axít sulphuric và có thể loại bỏ.
Chế biến, ứng dụng của KMD và KTN
Chế biến
Chế biến, ứng dụng của KMD và KTN
Ứng dụng
Phân bố
Bản đồ phân bố
Bản đồ sản lượng khí thiên nhiên theo quốc gia (các quốc gia màu nâu và tiếp theo là màu đỏ là những quốc gia có sản lượng lớn nhất)
Tổ 3
Than Mỏ
THAN MỎ
THAN MỎ
C
Định nghĩa
Than mỏ được tạo thành do thực vật bị vùi lấp dưới đất và phân hủy dần, bị nén dưới áp suất cao, nhiệt độ lớn trong hàng triệu năm. Thời gian phân hủy càng dài, than càng già và hàm lượng cacbon trong than càng cao.
Phân loại
Than mỡ là loại (nhãn) than đá có mức độ hoá than nhất định, ở giai đoạn gần giữa của quá trình biến chất than. Màu đen, vết vạch đen có ánh hơi nâu; ánh thuỷ tinh. Giòn. Khối lượng riêng 1,15 - 1,25 g/cm3. Độ ẩm 0,5 - 1,5%, chất bốc 20 - 35%, cacbon (cháy) 85 - 88%; hiđro 4,9 - 5,5%. Q = 8.400 - 8.600 kcal/kg. Khi chưng khô, TM sẽ mềm ra, trương phồng rồi kết lại thành cục cốc nhẹ, xốp, bền chắc. TM là loại than đá quý để chế ra cốc lò cao và các hiđrocacbon thơm cho công nghiệp hóa học. Gặp trong mỏ than Làng Cẩm, Phấn Mễ - Thái Nguyên, Đầm Đùn - Ninh Bình, Khe Bố - Nghệ An, nhưng trữ lượng không đáng kể.
Chưng khô than béo (than mỡ)
Khái niệm
Chưng khô (piroliza) là quá trình phân hóa các chất hữu cơ bằng nhiệt, dưới tác động của nhiệt độ cao, trong thời gian dài và trong điều kiện thiếu ôxy và các chất ôxy hóa khác.
Thường thì trong quá trình chưng khô các hợp chất hóa học phức tạp sẽ bị phân hủy thành các chất đơn giản hơn, có phân tử lượng nhỏ hơn (craking). Trong một số trường hợp thì qua chưng khô có thể tạo ra các chất nung, là các chất đơn giản hơn về hóa học nhưng lại có cấu trúc mạng không gian, với nhiều thuộc tính vật lý rất thú vị. Cơ chế biến hóa trong quá trình chưng khô thường là khá phức tạp, còn về bản chất của hiện tượng này thì rất khó nghiên cứu trong các điều kiện mà nó tồn tại.
Trong công nghiệp thì chưng khô thường dùng để:
thu hồi các chất mônôme (có cấu trúc đơn phần) từ pôlime (cấu trúc chuỗi đa phần) trong quá trình xử lý chất thải và tái thu hồi (recycling).
sản xuất đồ sứ.
sản xuất các vật liệu, nhất là các loại vật liệu chịu nhiệt.
Chưng khô là một công đoạn của quá trình hóa khí.
Khí lò cốc: 65% H2, 35% CH4, CO2, CO, C2H6, N2,…. Dùng làm nhiên liệu
Lớp nước + NH3: Dùng làm phân đạm
Lớp nhựa: lớp nhựa than đá
Chưng khô than béo (than mỡ)
Quá Trình
Than cốc dùng cho luyện kim
Làm lạnh
Chưng cất nhựa than đá
NHỰA THAN ĐÁ:
Là sản phẩm lỏng thu hồi được trong quá trình cốc hoá than ở nhiệt độ cao (khoảng 1.000oC). NTĐ còn được gọi là nhựa thứ cấp, vì nó được tạo thành sau khi tạo nhựa bán cốc ở nhiệt độ thấp hơn.
Khái niệm
Chưng cất là một phương pháp tách dùng nhiệt để tách hỗn hợp đồng thể (dung dịch) của các chất lỏng khác nhau. Chất rắn hòa tan, thí dụ như các loại muối, được tách ra khỏi chất lỏng bằng cách kết tinh. Dung dịch muối có thể làm cô đặc bằng cách cho bay hơi. Khi sản phẩm mong muốn chính là hơi bốc lên, thí dụ như khi khử muối ra khỏi nước biển, thì người ta cũng gọi đó là chưng cất, mặc dầu điều này chính xác ra là không đúng. Một khả năng khác để tách dung dịch là đông tụ. Trong các ngôn ngữ châu Âu, từ chưng cất bắt nguồn từ tiếng La tinh destillare có nghĩa là nhỏ giọt xuống.
Chưng cất nhựa than đá
Nhựa than đá đem chưng cất sẽ thu đc các hiđrocacbon thơm , dị vòng thơm và các dẫn xuất của chúng .
VD:
_ Phân đoạn sôI ở 80-170 C là dầu nhẹ , chứa benzen, toluen, xilen...
_Phân đoạn sôi ở 170- 230 C , gọi là dầu trung, chứa naphtalen, phenol, piriđin,.
_Phân đoạn sôI ở 230- 270 C gọi là dầu nặng , chứa crezol, xilenol, quinolin,..
- Cặn còn lại là hắc ín dùng để rải đường .
Sản phẩm
Khai thác than
Tác hại của nguyên liệu hóa thạch
& Giải pháp cứu môi trường
Thành viên Tổ 3:
Nguyễn Thị Diệu Hương
Lê Nhật Linh
Đặng Thị Thu Minh
Trịnh Ngọc Khoa
Đinh Tuấn Anh
Nguyễn Chí Công
Nguyễn Thanh Long
Trần Hữu Sinh
Nguồn khai thác: Wikipedia Vietnam
harvard.edu
Chemistry Club.
.
 







Các ý kiến mới nhất