Tìm kiếm Bài giảng
Bài 5. Hoàng Lê nhất thống chí - Hồi thứ mười bốn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phùng Tuấn Anh
Ngày gửi: 21h:11' 05-01-2024
Dung lượng: 820.5 KB
Số lượt tải: 101
Nguồn:
Người gửi: Phùng Tuấn Anh
Ngày gửi: 21h:11' 05-01-2024
Dung lượng: 820.5 KB
Số lượt tải: 101
Số lượt thích:
0 người
CHỦ ĐỀ 1: VĂN HỌC TRUNG
Tiết 2. Văn bản 2:ĐẠI
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
-Ngô Gia Văn Phái-
NỘI DUNG BÀI HỌC
ản
b
ơ
c
thức
n
ế
i
A. K
I. Tác giả
II. Tác phẩm
1. Nhan đề
2. Hoàn cảnh lịch sử:
3. Thể loại
4. Hoàn cảnh
5. Nội dung và nghệ thuật
6. Đại ý và bố cục
7. Tóm tắt
B. Phâ
n
tích vă
n bả n
Câu 1. Cảm nhận của em về vẻ
đẹp của hình tượng người anh
hung áo vải Quang Trung qua hồi
thứ 14 của tác phẩm “Hoàng Lê
nhất thống chí” của Ngô Gia Văn
Phái.
Câu 2. Sự thảm bại của quân tướng
nhà Thanh và số phận bi đát của
vua tôi Lê Chiêu Thống phản
nước, hại dân đã được miêu tả như
thế nào? Em có nhận xét gì về lói
văn trần thuật ở đây?
1. Tác giả
Ngô gia văn phái:
- Nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở
làng tả Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (Hà Nội).
* Ngô Thì Chí (1753-1788) làm quan dưới
triều Lê. Viết 7 hồi đầu
* Ngô Thì Du (1772 – 1840) làm quan dưới
triều Nguyễn. 7 hồi sau
*3 hồi cuối do nhóm tác giả khác
viết
1. Nhan đề
Nhan đề: “Hoàng Lê nhất thống chí” viết bằng chữ Hán ghi
chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn
diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.
2. Hoàn cảnh lịch sử:
Hoàn cảnh lịch sử: Nó không chỉ dừng lại ở sự thống nhất
của vương triều nhà Lê, mà còn được viết tiếp, tái hiện một giai
đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam vào
30 năm cuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầu thế kỷ XIX. Cuốn tiểu
thuyết có tất cả 17 hồi.)
Hịch
Chiếu
Cáo
Tấu
Chí: Ghi chép lại sự vật, sự việc.
3. Thể loại
Tiểu thuyết lịch sử
4. Hoàn cảnh:
Hoàn cảnh: hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang
Trung đại phá quân Thanh.
5. Khái quát nội dung và nghệ thuật:
a) Nội dung: Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các
tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người
anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân
Thanh, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua
tôi Lê Chiêu Thống.
b) Nghệ thuật: Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động cụ
thể, gây được ấn tượng mạnh.
6. Đại ý và bố cục:
* Đại ý: Đoạn trích miêu tả chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung, sự
thảm bại nhục nhã của quân tướng nhà Thanh và số phận lũ vua quan phản
nước, hại dân.
Bố cục: 3 phần
Phần 1
Từ đầu -> Năm Mậu Thân
1788:
Được tin báo quân
Thanh chiếm Thăng
Long, Bắc Bình Vương
Nguyễn Huệ lên ngôi
hoàng đế và thân
chinh cầm quân dẹp
giặc.
Phần 2
Tiếp -> kéo vào thành:
Cuộc hành quân
thần tốc và
chiến thắng lẫy
lừng của vua
Quang Trung.
Phần 3
Còn lại:
Sự đại bại của
quân tướng nhà
Thanh và tình
trạng thảm bại
của vua tôi Lê
Chiêu Thống.
I. HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ANH HÙNG ẢO
VẢI QUANG TRUNG.
1. QUANG TRUNG LÀ MỘT CON NGƯỜI HÀNH
ĐỘNG MẠNH MẼ QUYẾT ĐOÁN.
2. MỘT CON NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ SÁNG SUỐT VÀ
NHẠY BÉN:
*
Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn
là con người hành động một cách xông xáo, nhanh
gọn có chủ đích và rất quả quyết.
Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng
hổ kéo vào nước ta, thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp,
vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Nguyễn Huệ đã
quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên
hiệu là Quang Trung.
-
Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất
cả một vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao
núng “định thân chinh cầm quân đi ngay”.
Việc lên ngôi đã được tính kỹ với mục đích thống nhất nội
bộ, hội tụ anh tài và quan trọng hơn là“để yên kẻ phản trắc
và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.
-
Rồi chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã
làm được bao nhiêu việc lớn:
-
“tế cáo trời đất”, lên ngôi hoàng đế, dốc xuất đại
binh ra Bắc…
… “ Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết
chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam,
phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng
dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân
dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời
Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có
Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều
tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi
được chúng về phương
Bắc. Ở các
thờiđất
ấy, Bắc,
Nam lâm
riêng phận,
Thông
báo
nước
nguybờ cõi lặng yên, các
vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội
Thanh
xâm cũ
lược
thuộc xưa kia. Mọi việccó
lợi,giặc
hại, được,
mất ấysang
đều là chuyện
rành rành của các triều
đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện,
không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra
đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta
đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu
như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta
không nói trước!”.
.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa?
Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương
Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác.
Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của
cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ
Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời
Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng
người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở
các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà
Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất
định
chủ
của
đấtThanh
nước.
ấy đều là chuyện cũ rành Khẳng
rành của các
triều
đại quyền
trước. Nay
người
lại sang, mưu đồ lấy
nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa.
Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương
năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn
ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo
là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa?
Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương
Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt
khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ
vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng
SƠN
Nữ Vương, đời Tống có NAM
Đinh TiênQUỐC
Hoàng, Lê Đại
Hành,HÀ
đời Nguyên có Trần Hưng Đạo,
đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận
Nam quốc sơn hà nam đế cư
lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương
địnhbờ
phận
tại thiên
thưvua truyền ngôi lâu dài. Từ
Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Tiệt
Nam nhiên
riêng phận,
cõi lặng
yên, các
Như
hà đến
nghịch
lỗ như
lai xâm
phạm
đời nhà Đinh tới đây, dân ta
không
nỗi khổ
hồi nội
thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại,
được, mất ấy đều là chuyện
cũ rành
củakhan
các triều
Nhữ
đẳngrành
hành
thủđại
bạitrước.
hư. Nay người Thanh lại sang,
mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên,
Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có
lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có
quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc,
không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa?
Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc
chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt
khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân
dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời
Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có
Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn
bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được
chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua
truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc
xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước.
cáomưu
tộiđồáclấycủa
Nay người Thanh Tối
lại sang,
nướcgiặc
Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông
gương đời Tống, Nguyên, Mimh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng.
Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực,
để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra,
sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong
khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai
trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay,
chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu
nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê
Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi
nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận
là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng
yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội
thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại
trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông
gương đời Tống, Nguyên, Mimh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi
đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn.
Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc,
không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
Nêu gương các bậc trung thần nghĩa sĩ.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong
khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà
cai trị. Người
phương
khôngsĩ
phải
nòi giống
nước ta,
bụngđánh
dạ ắt khác.
đời nhà
Hán đến nay,
Kêu
gọiBắc
tướng
đoàn
kết một
lòng
giặcTừcứu
nước.
chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu
nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê
Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn
chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng
và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua
truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia.
Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người
Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời
Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều
là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công
lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức
khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng
vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người
phương Bắc không phải nòi
bụng dạ ắt với
khác. quân
Từ đời nhà
Ragiống
kỷnước
luậtta,nghiêm
sĩ. Hán đến nay, chúng đã mấy
phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn
đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên
có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên
đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương
Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh
tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là
chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm
quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh
đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để
dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết
chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng
vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người
phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy
phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn
đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên
có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên
đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc.
Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới
đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện
cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận
huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi
chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng
nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức
khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
* Ý nghĩa của lời phủ dụ:
Lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên
tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước.
*
Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và
ta:
-
-
Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An,
Quang Trung đã chỉ rõ“đất nào sao ấy” người phương
Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác”.
Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta:
“Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp
bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người
mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng
đi”.
Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng
những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc
ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông ta từ ngàn
xưa như:
Trưng nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành…
-
Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về
nước có thể làm cho một số người Phù Lê “thay lòng
đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính
chí tình, vừa nghiêm khắc: “các người đều là những
người có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực
để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai
lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức
khắc, không tha một ai”.
3. Quang Trung là người có tầm nhìn xa trông rộng:
* Sáng suốt trong việc sét đoán bê bối:
-
-
Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của
Quang Trung với Sở và Lân ta thấy rõ: Ông rất hiểu
việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì
“quân thua chém tướng” nhưng không hiểu lòng họ,
sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ
nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về
Tam Điệp để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không
bị trừng phạt mà còn được ngợi khen.
Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử
dụng như một vị quân sĩ “đa mưu túc trí” việc Sở và
Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ
mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch
sự chủ quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là
người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.
-
Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào
vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột
“phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”.
-
Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với
Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 tới ta hoà
bình. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao
không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó.
Nếu “chờ 10 năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực
lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì
chúng”.
4. Quang Trung là vị tướng có tài thao lược hơn người
(tài dụng binh như thần)
-
-
Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến
nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc. Vừa hành quân,
vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế
hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ
vào ăn tiết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức 2
ngày.
Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn
chỉnh tề cũng là do tài tổ chức của người cầm quân.
5. Hình ảnh vị vua lẫm liệt trong chiến trận:
-
Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ
trên danh nghĩa. Ông làm tổng chỉ huy chiến dịch thực sự.
-
Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa
quân Tây Sơn đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo
kẻ thù.
Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh
người anh hùng cũng được khắc hoạ lẫm liệt: trong cảnh
“khói tỏ mù trời, cách gang tấc không thấy gì” nổi bật
hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” với tấm áo bào
màu đỏ đã sạm đen khói súng.
-
-
Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với
tính cách mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng
binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của chiến
công vĩ đại.
II. SỰ THẢM HẠI CỦA QUÂN TƯỚNG NHÀ
THANH.
1. Đối lập với hình ảnh nghĩa quân Tây Sơn là chân
dung của kẻ thù xâm lược.
-
Tôn Sỹ Nghị kiêu căng, tự mãn, chủ quan:
+ Kéo quân vào Thăng Long dễ dàng “ngày đi đêm
nghỉ” như “đi trên đất bằng”, cho là vô sự, không đề
phòng gì, chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế
suông để doạ dẫm.
+ Hơn nữa y còn là một tên tướng bất tài, cầm
quân mà không biết tình hình thực hư ra sao. Dù
được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, y vẫn
không chút đề phòng suốt mấy ngày Tết “chỉ chăm
chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến
việc bất chắc”, cho quân lính mặc sắc vui chơi.
-
Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì sợ mất mật,
ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp…
chuồng trước qua cầu phao, quân thì lúc lâm trận “ai nấy
đều rụng rời, sợ hãi, xin ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn,
giày xéo lên nhau mà chết”, “quân sĩ các doanh nghe thấy
đều hoảng hốt, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang
sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều”, “đến nỗi
nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được
nữa”. Cả đội binh hùng, tướng mạnh, chỉ quen diễu võ
dương oai bây giờ chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy,
“đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”.
* Nghệ thuật: kể chuyện, xen kẽ với những chi tiết tả thực thật cụ thể, chi tiết, sống động với
nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù. Ngòi bút miêu tả khách quan
nhưng vẫn hàm chứng tâm trạng hả hê, sung sướng của người viết cũng như của dân tộc trước
thắng lợi của Sơn Tây.
2. Số phận thảm hại của bọn vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân
-
Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ mà đem vận mệnh
của cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên họ phải chịu đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh,
van xin, không còn đâu tư cách bậc quân vương, và kết cục cũng phải chịu chung số phận bi thảm của kẻ
vọng quốc.
-
Khi có biến, quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín “đưa thái hậu ra ngoài”,
chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông, “luôn mấy ngày không ăn”. May gặp người thổ
hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn. Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn
nhau than thở, oán giận chảy nước mắt, và sau khi sang đến Trung Quốc phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống
người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người.
=> Nghệ thuật: Xen kẽ kể với tả sinh động, cụ thể gây ấn tượng mạnh. Ngòi bút đậm chút xót thương của tác
giả bề tôi trung thành của nhà Lê.
Tiết 2. Văn bản 2:ĐẠI
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
-Ngô Gia Văn Phái-
NỘI DUNG BÀI HỌC
ản
b
ơ
c
thức
n
ế
i
A. K
I. Tác giả
II. Tác phẩm
1. Nhan đề
2. Hoàn cảnh lịch sử:
3. Thể loại
4. Hoàn cảnh
5. Nội dung và nghệ thuật
6. Đại ý và bố cục
7. Tóm tắt
B. Phâ
n
tích vă
n bả n
Câu 1. Cảm nhận của em về vẻ
đẹp của hình tượng người anh
hung áo vải Quang Trung qua hồi
thứ 14 của tác phẩm “Hoàng Lê
nhất thống chí” của Ngô Gia Văn
Phái.
Câu 2. Sự thảm bại của quân tướng
nhà Thanh và số phận bi đát của
vua tôi Lê Chiêu Thống phản
nước, hại dân đã được miêu tả như
thế nào? Em có nhận xét gì về lói
văn trần thuật ở đây?
1. Tác giả
Ngô gia văn phái:
- Nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở
làng tả Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (Hà Nội).
* Ngô Thì Chí (1753-1788) làm quan dưới
triều Lê. Viết 7 hồi đầu
* Ngô Thì Du (1772 – 1840) làm quan dưới
triều Nguyễn. 7 hồi sau
*3 hồi cuối do nhóm tác giả khác
viết
1. Nhan đề
Nhan đề: “Hoàng Lê nhất thống chí” viết bằng chữ Hán ghi
chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn
diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.
2. Hoàn cảnh lịch sử:
Hoàn cảnh lịch sử: Nó không chỉ dừng lại ở sự thống nhất
của vương triều nhà Lê, mà còn được viết tiếp, tái hiện một giai
đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam vào
30 năm cuối thế kỷ XVIII và mấy năm đầu thế kỷ XIX. Cuốn tiểu
thuyết có tất cả 17 hồi.)
Hịch
Chiếu
Cáo
Tấu
Chí: Ghi chép lại sự vật, sự việc.
3. Thể loại
Tiểu thuyết lịch sử
4. Hoàn cảnh:
Hoàn cảnh: hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang
Trung đại phá quân Thanh.
5. Khái quát nội dung và nghệ thuật:
a) Nội dung: Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các
tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người
anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân
Thanh, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua
tôi Lê Chiêu Thống.
b) Nghệ thuật: Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động cụ
thể, gây được ấn tượng mạnh.
6. Đại ý và bố cục:
* Đại ý: Đoạn trích miêu tả chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung, sự
thảm bại nhục nhã của quân tướng nhà Thanh và số phận lũ vua quan phản
nước, hại dân.
Bố cục: 3 phần
Phần 1
Từ đầu -> Năm Mậu Thân
1788:
Được tin báo quân
Thanh chiếm Thăng
Long, Bắc Bình Vương
Nguyễn Huệ lên ngôi
hoàng đế và thân
chinh cầm quân dẹp
giặc.
Phần 2
Tiếp -> kéo vào thành:
Cuộc hành quân
thần tốc và
chiến thắng lẫy
lừng của vua
Quang Trung.
Phần 3
Còn lại:
Sự đại bại của
quân tướng nhà
Thanh và tình
trạng thảm bại
của vua tôi Lê
Chiêu Thống.
I. HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ANH HÙNG ẢO
VẢI QUANG TRUNG.
1. QUANG TRUNG LÀ MỘT CON NGƯỜI HÀNH
ĐỘNG MẠNH MẼ QUYẾT ĐOÁN.
2. MỘT CON NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ SÁNG SUỐT VÀ
NHẠY BÉN:
*
Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn
là con người hành động một cách xông xáo, nhanh
gọn có chủ đích và rất quả quyết.
Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng
hổ kéo vào nước ta, thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp,
vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc”, Nguyễn Huệ đã
quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên
hiệu là Quang Trung.
-
Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất
cả một vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao
núng “định thân chinh cầm quân đi ngay”.
Việc lên ngôi đã được tính kỹ với mục đích thống nhất nội
bộ, hội tụ anh tài và quan trọng hơn là“để yên kẻ phản trắc
và giữ lấy lòng người”, được dân ủng hộ.
-
Rồi chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã
làm được bao nhiêu việc lớn:
-
“tế cáo trời đất”, lên ngôi hoàng đế, dốc xuất đại
binh ra Bắc…
… “ Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết
chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam,
phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng
dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân
dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời
Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có
Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều
tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi
được chúng về phương
Bắc. Ở các
thờiđất
ấy, Bắc,
Nam lâm
riêng phận,
Thông
báo
nước
nguybờ cõi lặng yên, các
vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội
Thanh
xâm cũ
lược
thuộc xưa kia. Mọi việccó
lợi,giặc
hại, được,
mất ấysang
đều là chuyện
rành rành của các triều
đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện,
không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra
đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta
đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu
như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta
không nói trước!”.
.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa?
Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương
Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác.
Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của
cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ
Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời
Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng
người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở
các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà
Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất
định
chủ
của
đấtThanh
nước.
ấy đều là chuyện cũ rành Khẳng
rành của các
triều
đại quyền
trước. Nay
người
lại sang, mưu đồ lấy
nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa.
Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương
năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn
ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo
là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa?
Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương
Bắc chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt
khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ
vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng
SƠN
Nữ Vương, đời Tống có NAM
Đinh TiênQUỐC
Hoàng, Lê Đại
Hành,HÀ
đời Nguyên có Trần Hưng Đạo,
đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận
Nam quốc sơn hà nam đế cư
lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương
địnhbờ
phận
tại thiên
thưvua truyền ngôi lâu dài. Từ
Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Tiệt
Nam nhiên
riêng phận,
cõi lặng
yên, các
Như
hà đến
nghịch
lỗ như
lai xâm
phạm
đời nhà Đinh tới đây, dân ta
không
nỗi khổ
hồi nội
thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại,
được, mất ấy đều là chuyện
cũ rành
củakhan
các triều
Nhữ
đẳngrành
hành
thủđại
bạitrước.
hư. Nay người Thanh lại sang,
mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên,
Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có
lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn. Chớ có
quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc,
không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa?
Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc
chia nhau mà cai trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt
khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân
dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời
Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có
Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn
bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được
chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua
truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc
xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước.
cáomưu
tộiđồáclấycủa
Nay người Thanh Tối
lại sang,
nướcgiặc
Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông
gương đời Tống, Nguyên, Mimh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng.
Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực,
để dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra,
sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong
khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai
trị. Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay,
chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu
nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê
Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi
nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận
là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng
yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội
thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại
trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông
gương đời Tống, Nguyên, Mimh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi
đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn.
Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc,
không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
Nêu gương các bậc trung thần nghĩa sĩ.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong
khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà
cai trị. Người
phương
khôngsĩ
phải
nòi giống
nước ta,
bụngđánh
dạ ắt khác.
đời nhà
Hán đến nay,
Kêu
gọiBắc
tướng
đoàn
kết một
lòng
giặcTừcứu
nước.
chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu
nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê
Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn
chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng
và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua
truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia.
Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người
Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương đời
Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều
là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công
lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức
khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng
vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người
phương Bắc không phải nòi
bụng dạ ắt với
khác. quân
Từ đời nhà
Ragiống
kỷnước
luậtta,nghiêm
sĩ. Hán đến nay, chúng đã mấy
phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn
đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên
có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên
đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương
Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh
tới đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là
chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm
quận huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh
đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để
dựng nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết
chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
… “Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng
vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị. Người
phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy
phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn
đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên
có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên
đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc.
Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận, bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới
đây, dân ta không đến nỗi khổ như hồi nội thuộc xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện
cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận
huyện, không biết trông gương đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi
chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng
nên công lớn. Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức
khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!”.
* Ý nghĩa của lời phủ dụ:
Lời phủ dụ thấu tình đạt lý như lời hịch, khích lệ, động viên
tinh thần binh sĩ phấn khởi đánh giặc cứu nước.
*
Sáng suốt trong việc nhận định tình hình địch và
ta:
-
-
Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An,
Quang Trung đã chỉ rõ“đất nào sao ấy” người phương
Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác”.
Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta:
“Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp
bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người
mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng
đi”.
Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng
những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc
ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông ta từ ngàn
xưa như:
Trưng nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành…
-
Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về
nước có thể làm cho một số người Phù Lê “thay lòng
đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính
chí tình, vừa nghiêm khắc: “các người đều là những
người có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực
để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai
lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức
khắc, không tha một ai”.
3. Quang Trung là người có tầm nhìn xa trông rộng:
* Sáng suốt trong việc sét đoán bê bối:
-
-
Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của
Quang Trung với Sở và Lân ta thấy rõ: Ông rất hiểu
việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì
“quân thua chém tướng” nhưng không hiểu lòng họ,
sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ
nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về
Tam Điệp để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không
bị trừng phạt mà còn được ngợi khen.
Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử
dụng như một vị quân sĩ “đa mưu túc trí” việc Sở và
Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ
mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch
sự chủ quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là
người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.
-
Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào
vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột
“phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”.
-
Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với
Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 tới ta hoà
bình. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao
không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó.
Nếu “chờ 10 năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực
lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì
chúng”.
4. Quang Trung là vị tướng có tài thao lược hơn người
(tài dụng binh như thần)
-
-
Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến
nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc. Vừa hành quân,
vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế
hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ
vào ăn tiết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức 2
ngày.
Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn
chỉnh tề cũng là do tài tổ chức của người cầm quân.
5. Hình ảnh vị vua lẫm liệt trong chiến trận:
-
Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ
trên danh nghĩa. Ông làm tổng chỉ huy chiến dịch thực sự.
-
Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa
quân Tây Sơn đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo
kẻ thù.
Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh
người anh hùng cũng được khắc hoạ lẫm liệt: trong cảnh
“khói tỏ mù trời, cách gang tấc không thấy gì” nổi bật
hình ảnh nhà vua “cưỡi voi đi đốc thúc” với tấm áo bào
màu đỏ đã sạm đen khói súng.
-
-
Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với
tính cách mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng
binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của chiến
công vĩ đại.
II. SỰ THẢM HẠI CỦA QUÂN TƯỚNG NHÀ
THANH.
1. Đối lập với hình ảnh nghĩa quân Tây Sơn là chân
dung của kẻ thù xâm lược.
-
Tôn Sỹ Nghị kiêu căng, tự mãn, chủ quan:
+ Kéo quân vào Thăng Long dễ dàng “ngày đi đêm
nghỉ” như “đi trên đất bằng”, cho là vô sự, không đề
phòng gì, chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế
suông để doạ dẫm.
+ Hơn nữa y còn là một tên tướng bất tài, cầm
quân mà không biết tình hình thực hư ra sao. Dù
được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, y vẫn
không chút đề phòng suốt mấy ngày Tết “chỉ chăm
chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến
việc bất chắc”, cho quân lính mặc sắc vui chơi.
-
Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì sợ mất mật,
ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp…
chuồng trước qua cầu phao, quân thì lúc lâm trận “ai nấy
đều rụng rời, sợ hãi, xin ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn,
giày xéo lên nhau mà chết”, “quân sĩ các doanh nghe thấy
đều hoảng hốt, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang
sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều”, “đến nỗi
nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được
nữa”. Cả đội binh hùng, tướng mạnh, chỉ quen diễu võ
dương oai bây giờ chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy,
“đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi”.
* Nghệ thuật: kể chuyện, xen kẽ với những chi tiết tả thực thật cụ thể, chi tiết, sống động với
nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù. Ngòi bút miêu tả khách quan
nhưng vẫn hàm chứng tâm trạng hả hê, sung sướng của người viết cũng như của dân tộc trước
thắng lợi của Sơn Tây.
2. Số phận thảm hại của bọn vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân
-
Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ mà đem vận mệnh
của cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên họ phải chịu đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh,
van xin, không còn đâu tư cách bậc quân vương, và kết cục cũng phải chịu chung số phận bi thảm của kẻ
vọng quốc.
-
Khi có biến, quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín “đưa thái hậu ra ngoài”,
chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông, “luôn mấy ngày không ăn”. May gặp người thổ
hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn. Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn
nhau than thở, oán giận chảy nước mắt, và sau khi sang đến Trung Quốc phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống
người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người.
=> Nghệ thuật: Xen kẽ kể với tả sinh động, cụ thể gây ấn tượng mạnh. Ngòi bút đậm chút xót thương của tác
giả bề tôi trung thành của nhà Lê.
 








Các ý kiến mới nhất