Bài 3. Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống phong kiến thời hậu kì trung đại ở châu Âu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lưu Tiến Đạt
Ngày gửi: 11h:37' 20-04-2022
Dung lượng: 3.5 MB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Lưu Tiến Đạt
Ngày gửi: 11h:37' 20-04-2022
Dung lượng: 3.5 MB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
Hoạt động Trải nhiệm sáng tạo
CHỦ ĐỀ: THĂNG LONG – KẺ CHỢ VÀ PHỐ CỔ HỘI AN
(THẾ KỈ XVI TỚI XVIII)
-Tiết 2-
KQ tìm hiểu về Hội An
Nhóm 4
I. Quá trình phát triển.
II. Hoạt động buôn bán.
III. Dấu tích còn lại.
IV. Bảo vệ di tích.
Lò Nguyễn Anh Thư; Lê Thị Như Quỳnh; Đặng Thùy Trang; Trử Văn Quác; Lưu Tiến Đạt(me); Hà Anh Thư
I. Quá trình phát triển
Hội An ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ 16, thời kỳ Việt Nam nằm dưới sự trị vì của nhà Lê. Sau khi Mạc Đăng Dung giành ngôi nhà Lê, vùng Đông Kinh thuộc quyền cai quản của nhà Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim nhân danh nhà Lê tập hợp binh sĩ chống lại nhà Mạc. Sau khi Nguyễn Kim chết năm, người con rể Trịnh Kiểm nắm giữ quyền hành, dòng họ Nguyễn Kim bị lấn át. Năm 1558, người con thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng cùng gia quyến và một số binh lính lui về cố thủ ở vùng Thuận Hóa và từ sau năm 1570, Nguyễn Hoàng tiếp tục nắm quyền trấn thủ Quảng Nam.[12] Cùng với con trai là Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Hoàng xây dựng thành lũy, ra sức phát triển kinh tế Đàng Trong, mở rộng giao thương buôn bán với nước ngoài và Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á thời kỳ đó.
Trong suốt thời gian từ lúc hình thanh, nhiều thương nhân Châu Á( Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, ĐNA) và Châu Âu đến Phố Hiến, Hội An buôn bán tấp nập. Họ mở cửa hàng bán nhiều sản phẩm. Các hàng hóa trong nước (Quảng Nam, Bình Khang, Diên Khánh,…) đều theo đường thủy đường bộ tập trung về Hội An.
II. HD buôn bán
1. Các nước đến buôn bán và một số sản phẩm qua lại
Thế kỷ 17, trong khi vẫn tiếp tục cuộc chiến với chúa Trịnh ở miền Bắc, chúa Nguyễn không ngừng khai phá miền Nam, lấn chiếm lãnh thổ của người Chăm. Vào năm 1567, triều đình nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ chủ trương bế quan tỏa cảng, cho thuyền buôn vượt biển giao thương với các quốc gia vùng Đông Nam Á, nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu quan trọng sang Nhật Bản. Điều này đã bắt buộc Mạc phủ Toyotomi rồi Mạc phủ Tokugawa cấp phép cho các thuyền buôn Châu Ấn sang mở rộng quan hệ thông thương với Đông Nam Á và mua lại hàng hóa Trung Quốc từ các quốc gia đó.
Nơi thuyền Châu Ấn đi qua nhiều nhất chính là cảng Hội An. Trong vòng 30 năm, 75 con tàu Châu Ấn đã cập cảng nơi đây. Các thương nhân người Nhật khi đó tới bán những đồ đồng, tiền đồng, sắt, đồ gia dụng… và mua lại đường, tơ lụa, trầm hương… Khoảng năm 1617, phố Nhật Bản ở Hội An được hình thành và phát triển cực thịnh trong đầu thế kỷ 17.
Thương nhân các nước luôn muốn tìm đến đến Hội An để giao dịch thương mại. Bởi ở đây các thương nhân dễ dàng bán được các thứ hàng hóa đưa sang cũng như dễ dàng lựa chọn để mua các mặt hàng phù hợp với yêu cầu của họ.
Đối với thương nhân Thái thì họ mang đến bán các thứ hàng hóa như: sắt, thuốc lá, thuốc phiện… Và từ đây họ mang các tấm chiếu buồm, lụa thô hoặc đệt hoa về.
Thuyền buôn từ Nhật thường xuyên đến Hội An buôn bán, sản phẩm mà họ mang sang gồm nhiều mặt hàng khác nhau nhưng đặc biệt nhất là đồ gốm sứ có màu sắc đẹp, hoa văn tinh xảo, hài hòa; rất được ưa chuộng tại Hội An, hàng bán rất chạy. Và hàng họ mua về cũng không kém phần đa dạng như: Sa tanh, roothout, đường phổi, da cá mập, dừa, đậu khấu, long não đỏ, gỗ trầm hương, sừng tê, thủy ngân, gấm thêu kim tuyến, thiếc… đặc biệt họ thích nhất là đồ tơ lụa.
Một giáo sĩ Bồ Đào Nha thuộc dòng Jésuite là Valentin Corvalho, ghi lại: “Tại Cochinchine… ta thấy thương gia Trung Quốc đem nhiều tơ lụa tới đó, và người Nhật mua hết để tải về nước”[8].
Còn thuyền buôn đến từ Trung Quốc mang các thứ hàng hóa là “ sa, đoạn, gấm, vóc, vải, các vị thuốc, giấy vàng bạc, hương vòng, các thứ đồ giấy, kim tuyến, ngân tuyến, các thứ phẩm, y phục, giầy tốt, nhung, đơ ra, kính, pha lê, quạt giấy, bút, mực, kim, cốc áo, các thứ bàn ghế, các thứ đèn lồng, các thứ đồ đồng, các thứ đồ sứ đồ sành; đồ ăn uống thì các loại như lá chè, cam, chanh, lê, táo, hồng, bánh, miến, bột mì, tram muối, đầu thái, trứng muối, tương gừng, tương ngọt, đậu phụ, rau kim châm, mộc nhĩ, nấm hương…”[9], bán rất chạy, thu được nhiều lợi nhuận, không hề bị ế đọng.
Thuyền đến từ các nước phương Tây thì thường chở đồ đồng đến Hội An để bán. Lê Qúy Đôn cho biết: “Phố Hội An xứ Quảng Nam, nồi đồng mâm đồng, do tàu Tây phương chở đến bán, bình thời kể có hàng nghìn hàng vạn…”[10]. Bên cạnh đó còn nhiều mặt hàng khác cũng được đưa từ phương Tây sang. Ví như các tàu buôn của thương nhân Hà Lan đến từ Surate và Coromandel đã đem theo vải vóc, chì, hỏa tiêu, …[11] Thuyền buôn đến từ nước Pháp thì bán khí giới, sắt, đồng, vải vóc, và mua trở về đường, lụa thô[12]. Thuyền đến từ Bồ Đào Nha mang theo các mặt hàng như: bàn chải, kim khâu, vòng tay, hoa tai bằng thủy tinh, mũ nón, mũ bonnet, thắt lưng, áo sơ mi và tất cả các loại áo…”[13], đặc biệt là san hô.
Năm 1695, sứ giả người Anh Thomas Bowyear của Công ty Đông Ấn Anh đến đàm phán với chúa Nguyễn về việc xây dựng một khu cư trú tại Hội An. Việc thương thảo tuy không thành, nhưng cũng đã để lại một ghi chép:
2. Giá bán của các sản phẩm
Về giá cả của các mặt hàng buôn bán tại Hội An thường không cố định mà biến động lên xuống bất thường, tùy theo nguồn hàng dồi dào hay khan hiếm, chất lượng tốt hay xấu. Ví như vào năm 1600, ở Đàng Trong, trị giá của kỳ nam hương ngang với bạc, bao nhiêu kỳ nam hương là bấy nhiêu bạc, trong khi đó mang sang Bồ Đào Nha thì kỳ nam hương có giá là 50 cruzados một catty. Giai đoạn sau nguồn cung cấp kỳ nam hương kiệt quệ nên giá cũng bị đẩy lên cao hơn rất nhiều. Đến khoảng giữa thế kỷ XVIII thì giá cả của các mặt hàng buôn bán ở Hội An như sau: “gọi 100 cân là 1 tạ, cau thì 3 quan 1 tạ, hồ tiêu thì 12 quan 1 tạ, đậu khấu 5 quan, tô mộc (gỗ vang) 6 quan, hạt sa nhân 12 quan, thảo quả 10 quan, ô mộc (gỗ mun) 6 quan, hồng mộc 1 quan, ho lê mộc (gỗ trắc) 1 quan 2 tiền, tê giác 500 quan, yến sào 50 quan, gân hươu 15 quan, vây cá 40 quan, tôm khô 6 quan, rau biển 6 quan, ốc hương 12 quan, đồi mồi 180 quan, ngà voi 40 quan, ba la ma 12 quan, đường phèn 4 quan, đường trắng 2 quan, còn các thứ hoạt thạch, sắt, phấn kẽm, hải sâm và mấy trăm vị thuốc nam không thể kể xiết. Đến như kỳ nam hương thì 120 quan 1 lạng, vàng thì 180 quan 1 hốt, tơ lụa thì 3 quan 5 tiền 1 tấm. Còn nhục quế, trầm hương, trân châu rất tốt, giá cao hạ nhiều ít không nhất định
III. Dấu tích còn lại
Phố cổ Hội An là một thành phố nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam, một phố cổ giữ được gần như nguyên vẹn với hơn 1000 di tích kiến trúc từ phố xá, nhà cửa, hội quán, đình, chùa, miếu, nhà thờ tộc, giếng cổ… đến các món ăn truyền thống, tâm hồn của người dân nơi đây. Một lần du lịch Hội An sẽ làm say đắm lòng du khách bởi những nét đẹp trường tồn cùng thời gian, vô cùng mộc mạc, bìn
*Di tích tiêu biểu
Chùa Cầu (còn gọi chùa Nhật Bản), công trình kiến trúc do các thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Hội An xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ 16. Đây là một trong những điểm đến hấp dẫn du khách cả ban ngày lẫn ban đêm. (Ảnh: TTXVN)
Chiếc cầu này được các thương nhân người Nhật Bản góp tiền xây dựng vào khoảng thế kỷ 17, nên đôi khi người ta còn gọi là cầu Nhật Bản. Theo truyền thuyết, ngôi chùa được coi như là một thanh kiếm đâm xuống lưng con quái vật Namazu, khiến nó không quẫy đuôi, gây ra những trận động đất.[1] Sau đó, người ta dựng thêm phần chùa, nối liền vào lan can phía Bắc, nhô ra giữa cầu, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu.
Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là Lai Viễn Kiều, với ý nghĩa là "Cầu đón khách phương xa".
Theo niên đại được ghi lại ở xà nóc và văn bia còn lại ở đầu cầu thì chiếc cầu đã được dựng lại vào năm 1817. Ngôi chùa có lẽ cũng được dựng lại vào thời gian này.
Chùa được trùng tu vào các năm 1817, 1865, 1915, 1986 và dần mất đi các yếu tố kiến trúc Nhật Bản, thay vào đó là kiến trúc mang đậm phong cách Việt, Trung.[1]
Ngày 17 tháng 2 năm 1990, Chùa Cầu được cấp bằng Di tích Lịch sử – Văn hóa quốc gia.
Hiện nay, Chùa Cầu đang bị xâm thực bởi kênh nước thải hôi thối bên dưới cầu và có nguy cơ bị lún nghiêng.
Kiến trúc
Phố Hiến là một địa danh lịch sử ở thành phố Hưng Yên. Vào các thế kỷ 17-18, nơi đây là một thương cảng cổ nổi tiếng của Việt Nam. Lúc ấy, phố Hiến là một đô thị trải dài theo bờ tả ngạn sông Hồng. Ngoài kinh đô Thăng Long - Kẻ Chợ là thủ đô phồn vinh nhất nước, Phố Hiến đã là một đô thị nổi bật đứng ở vị trí thứ hai. Dân gian có câu: "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Văn bia chùa Thiên ứng, dựng năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625, đời vua Lê Thần Tông) đã ghi: "Phố Hiến nổi tiếng trong bốn phương là một tiểu Tràng An" - tức một Kinh đô thu nhỏ.
Nghi môn Văn miếu Xích Đằng
Văn miếu Xích Đằng hay còn gọi là Văn miếu Hưng Yên là một di tích quan trọng trong quần thể di tích Phố Hiến. Văn miếu Xích Đằng là văn miếu thuộc hàng tỉnh, được xây dựng vào khoảng năm 1701,[1] hiện tại thuộc địa phận thôn Xích Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Chùa Ông
Được xây dựng vào năm 1653. Chùa Ông (hay còn gọi là Quan Công Miếu) có kiến trúc uy nghi, hoành tráng, tại đây thờ vị tướng tài ba Quan Vân Trường (một biểu tượng về trung - tín - tiết - nghĩa). Chùa Ông đã từng là trung tâm tín ngưỡng của Quảng Nam xưa, đồng thời cũng là nơi các thương nhân thường lưu đến để cam kết trong việc vay nợ, buôn bán, làm ăn và xin xăm cầu may.
Trong năm hội quán ở Hội An, Phúc Kiến là hội quán lớn nhất, nằm ở số 46 đường Trần Phú. Buổi ban đầu, nơi đây chỉ là một ngôi chùa lợp tranh do người Việt dựng vào năm 1697 để thờ Phật. Qua thời gian, ngôi chùa bị hư hỏng và người Việt không đủ khả năng để sửa chữa. Những thương nhân Phúc Kiến mua lại ngôi chùa vào năm 1759 và sau nhiều lần trùng tu, năm 1792 đổi thành Hội quán Phúc Kiến.
Tương truyền, tiền thân của Hội quán là một gian miếu nhỏ thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu (bà Chúa phù hộ cho thương nhân vượt sóng gió đại dương) vớt được tại bờ biển Hội An vào năm 1697. Qua nhiều lần trùng tu, với sự đóng góp chủ yếu của Hoa Kiều bang Phúc Kiến, hội quán càng trở nên rực rỡ, khang trang góp phần tô điểm diện mạo kiến trúc đô thị cổ Hội An. Thông qua cách bài trí thờ phụng các hình nhân: 6 vị tiền hiền (lục tánh), bà mụ, thần tài ... Hội quán thể hiện sâu sắc triết lý Á Đông về hạnh phúc con người.
Hội quán Phúc Kiến đã được cấp bằng di tích lịch sử - văn hoá quốc gia ngày 17 tháng 02 năm 1990.
Hội quán Phúc Kiến
Ngoài ra còn các di tích như: Nhà cổ Quân Thắng; Nhà cổ Tân ký; …
IV. Bảo vệ di tích
1. Tình trạng xấu của các di tích
Trong số các di tích xuống cấp trên, có 7 ngôi nhà cổ thuộc diện xuống cấp nặng phải được trùng tu, chống đỡ bảo vệ trước mùa mưa bão.
Phần lớn những di tích ở Hội An thường xuyên đối mặt với thiên tai như bão, lũ nên hàng năm đều có biểu hiện xuống cấp. Trước thực trạng này, Trung tâm quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An thường xuyên chủ động tu bổ, bảo tồn bằng nguồn kinh phí không thường xuyên.
Những năm gần đây, khi đến với di tích Chùa Cầu, mọi người không thể không xót xa trước sự xuống cấp nghiêm trọng của di tích từ hệ thống móng, mố, trụ bên dưới đến hệ dầm, sàn, cột, giằng, vì kèo… Đặc biệt, trong đó hệ thống chịu lực quan trọng nhất của di tích gồm móng, mố, trụ đã có dấu hiệu nguy hiểm.
Là một học sinh, chúng ta cần làm gì để bảo vệ dự tích?
+ Giữ gìn sạch sẽ các di sản văn hóa, địa phương.
+ Đi tham quan, tìm hiểu các di tích lịch sử, di sản văn hóa
+ Không vứt rác bừa bãi
+ Tố giác kẻ gian ăn cắp các cổ vật di vật
+ Tham gia các lễ hội truyền thống.
Kết quả trinh bày của nhôm 4 đến đây là hết!
CHỦ ĐỀ: THĂNG LONG – KẺ CHỢ VÀ PHỐ CỔ HỘI AN
(THẾ KỈ XVI TỚI XVIII)
-Tiết 2-
KQ tìm hiểu về Hội An
Nhóm 4
I. Quá trình phát triển.
II. Hoạt động buôn bán.
III. Dấu tích còn lại.
IV. Bảo vệ di tích.
Lò Nguyễn Anh Thư; Lê Thị Như Quỳnh; Đặng Thùy Trang; Trử Văn Quác; Lưu Tiến Đạt(me); Hà Anh Thư
I. Quá trình phát triển
Hội An ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ 16, thời kỳ Việt Nam nằm dưới sự trị vì của nhà Lê. Sau khi Mạc Đăng Dung giành ngôi nhà Lê, vùng Đông Kinh thuộc quyền cai quản của nhà Mạc. Năm 1533, Nguyễn Kim nhân danh nhà Lê tập hợp binh sĩ chống lại nhà Mạc. Sau khi Nguyễn Kim chết năm, người con rể Trịnh Kiểm nắm giữ quyền hành, dòng họ Nguyễn Kim bị lấn át. Năm 1558, người con thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng cùng gia quyến và một số binh lính lui về cố thủ ở vùng Thuận Hóa và từ sau năm 1570, Nguyễn Hoàng tiếp tục nắm quyền trấn thủ Quảng Nam.[12] Cùng với con trai là Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Hoàng xây dựng thành lũy, ra sức phát triển kinh tế Đàng Trong, mở rộng giao thương buôn bán với nước ngoài và Hội An trở thành thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á thời kỳ đó.
Trong suốt thời gian từ lúc hình thanh, nhiều thương nhân Châu Á( Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, ĐNA) và Châu Âu đến Phố Hiến, Hội An buôn bán tấp nập. Họ mở cửa hàng bán nhiều sản phẩm. Các hàng hóa trong nước (Quảng Nam, Bình Khang, Diên Khánh,…) đều theo đường thủy đường bộ tập trung về Hội An.
II. HD buôn bán
1. Các nước đến buôn bán và một số sản phẩm qua lại
Thế kỷ 17, trong khi vẫn tiếp tục cuộc chiến với chúa Trịnh ở miền Bắc, chúa Nguyễn không ngừng khai phá miền Nam, lấn chiếm lãnh thổ của người Chăm. Vào năm 1567, triều đình nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ chủ trương bế quan tỏa cảng, cho thuyền buôn vượt biển giao thương với các quốc gia vùng Đông Nam Á, nhưng vẫn cấm xuất khẩu một số nguyên liệu quan trọng sang Nhật Bản. Điều này đã bắt buộc Mạc phủ Toyotomi rồi Mạc phủ Tokugawa cấp phép cho các thuyền buôn Châu Ấn sang mở rộng quan hệ thông thương với Đông Nam Á và mua lại hàng hóa Trung Quốc từ các quốc gia đó.
Nơi thuyền Châu Ấn đi qua nhiều nhất chính là cảng Hội An. Trong vòng 30 năm, 75 con tàu Châu Ấn đã cập cảng nơi đây. Các thương nhân người Nhật khi đó tới bán những đồ đồng, tiền đồng, sắt, đồ gia dụng… và mua lại đường, tơ lụa, trầm hương… Khoảng năm 1617, phố Nhật Bản ở Hội An được hình thành và phát triển cực thịnh trong đầu thế kỷ 17.
Thương nhân các nước luôn muốn tìm đến đến Hội An để giao dịch thương mại. Bởi ở đây các thương nhân dễ dàng bán được các thứ hàng hóa đưa sang cũng như dễ dàng lựa chọn để mua các mặt hàng phù hợp với yêu cầu của họ.
Đối với thương nhân Thái thì họ mang đến bán các thứ hàng hóa như: sắt, thuốc lá, thuốc phiện… Và từ đây họ mang các tấm chiếu buồm, lụa thô hoặc đệt hoa về.
Thuyền buôn từ Nhật thường xuyên đến Hội An buôn bán, sản phẩm mà họ mang sang gồm nhiều mặt hàng khác nhau nhưng đặc biệt nhất là đồ gốm sứ có màu sắc đẹp, hoa văn tinh xảo, hài hòa; rất được ưa chuộng tại Hội An, hàng bán rất chạy. Và hàng họ mua về cũng không kém phần đa dạng như: Sa tanh, roothout, đường phổi, da cá mập, dừa, đậu khấu, long não đỏ, gỗ trầm hương, sừng tê, thủy ngân, gấm thêu kim tuyến, thiếc… đặc biệt họ thích nhất là đồ tơ lụa.
Một giáo sĩ Bồ Đào Nha thuộc dòng Jésuite là Valentin Corvalho, ghi lại: “Tại Cochinchine… ta thấy thương gia Trung Quốc đem nhiều tơ lụa tới đó, và người Nhật mua hết để tải về nước”[8].
Còn thuyền buôn đến từ Trung Quốc mang các thứ hàng hóa là “ sa, đoạn, gấm, vóc, vải, các vị thuốc, giấy vàng bạc, hương vòng, các thứ đồ giấy, kim tuyến, ngân tuyến, các thứ phẩm, y phục, giầy tốt, nhung, đơ ra, kính, pha lê, quạt giấy, bút, mực, kim, cốc áo, các thứ bàn ghế, các thứ đèn lồng, các thứ đồ đồng, các thứ đồ sứ đồ sành; đồ ăn uống thì các loại như lá chè, cam, chanh, lê, táo, hồng, bánh, miến, bột mì, tram muối, đầu thái, trứng muối, tương gừng, tương ngọt, đậu phụ, rau kim châm, mộc nhĩ, nấm hương…”[9], bán rất chạy, thu được nhiều lợi nhuận, không hề bị ế đọng.
Thuyền đến từ các nước phương Tây thì thường chở đồ đồng đến Hội An để bán. Lê Qúy Đôn cho biết: “Phố Hội An xứ Quảng Nam, nồi đồng mâm đồng, do tàu Tây phương chở đến bán, bình thời kể có hàng nghìn hàng vạn…”[10]. Bên cạnh đó còn nhiều mặt hàng khác cũng được đưa từ phương Tây sang. Ví như các tàu buôn của thương nhân Hà Lan đến từ Surate và Coromandel đã đem theo vải vóc, chì, hỏa tiêu, …[11] Thuyền buôn đến từ nước Pháp thì bán khí giới, sắt, đồng, vải vóc, và mua trở về đường, lụa thô[12]. Thuyền đến từ Bồ Đào Nha mang theo các mặt hàng như: bàn chải, kim khâu, vòng tay, hoa tai bằng thủy tinh, mũ nón, mũ bonnet, thắt lưng, áo sơ mi và tất cả các loại áo…”[13], đặc biệt là san hô.
Năm 1695, sứ giả người Anh Thomas Bowyear của Công ty Đông Ấn Anh đến đàm phán với chúa Nguyễn về việc xây dựng một khu cư trú tại Hội An. Việc thương thảo tuy không thành, nhưng cũng đã để lại một ghi chép:
2. Giá bán của các sản phẩm
Về giá cả của các mặt hàng buôn bán tại Hội An thường không cố định mà biến động lên xuống bất thường, tùy theo nguồn hàng dồi dào hay khan hiếm, chất lượng tốt hay xấu. Ví như vào năm 1600, ở Đàng Trong, trị giá của kỳ nam hương ngang với bạc, bao nhiêu kỳ nam hương là bấy nhiêu bạc, trong khi đó mang sang Bồ Đào Nha thì kỳ nam hương có giá là 50 cruzados một catty. Giai đoạn sau nguồn cung cấp kỳ nam hương kiệt quệ nên giá cũng bị đẩy lên cao hơn rất nhiều. Đến khoảng giữa thế kỷ XVIII thì giá cả của các mặt hàng buôn bán ở Hội An như sau: “gọi 100 cân là 1 tạ, cau thì 3 quan 1 tạ, hồ tiêu thì 12 quan 1 tạ, đậu khấu 5 quan, tô mộc (gỗ vang) 6 quan, hạt sa nhân 12 quan, thảo quả 10 quan, ô mộc (gỗ mun) 6 quan, hồng mộc 1 quan, ho lê mộc (gỗ trắc) 1 quan 2 tiền, tê giác 500 quan, yến sào 50 quan, gân hươu 15 quan, vây cá 40 quan, tôm khô 6 quan, rau biển 6 quan, ốc hương 12 quan, đồi mồi 180 quan, ngà voi 40 quan, ba la ma 12 quan, đường phèn 4 quan, đường trắng 2 quan, còn các thứ hoạt thạch, sắt, phấn kẽm, hải sâm và mấy trăm vị thuốc nam không thể kể xiết. Đến như kỳ nam hương thì 120 quan 1 lạng, vàng thì 180 quan 1 hốt, tơ lụa thì 3 quan 5 tiền 1 tấm. Còn nhục quế, trầm hương, trân châu rất tốt, giá cao hạ nhiều ít không nhất định
III. Dấu tích còn lại
Phố cổ Hội An là một thành phố nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam, một phố cổ giữ được gần như nguyên vẹn với hơn 1000 di tích kiến trúc từ phố xá, nhà cửa, hội quán, đình, chùa, miếu, nhà thờ tộc, giếng cổ… đến các món ăn truyền thống, tâm hồn của người dân nơi đây. Một lần du lịch Hội An sẽ làm say đắm lòng du khách bởi những nét đẹp trường tồn cùng thời gian, vô cùng mộc mạc, bìn
*Di tích tiêu biểu
Chùa Cầu (còn gọi chùa Nhật Bản), công trình kiến trúc do các thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Hội An xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ 16. Đây là một trong những điểm đến hấp dẫn du khách cả ban ngày lẫn ban đêm. (Ảnh: TTXVN)
Chiếc cầu này được các thương nhân người Nhật Bản góp tiền xây dựng vào khoảng thế kỷ 17, nên đôi khi người ta còn gọi là cầu Nhật Bản. Theo truyền thuyết, ngôi chùa được coi như là một thanh kiếm đâm xuống lưng con quái vật Namazu, khiến nó không quẫy đuôi, gây ra những trận động đất.[1] Sau đó, người ta dựng thêm phần chùa, nối liền vào lan can phía Bắc, nhô ra giữa cầu, từ đó người địa phương gọi là Chùa Cầu.
Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là Lai Viễn Kiều, với ý nghĩa là "Cầu đón khách phương xa".
Theo niên đại được ghi lại ở xà nóc và văn bia còn lại ở đầu cầu thì chiếc cầu đã được dựng lại vào năm 1817. Ngôi chùa có lẽ cũng được dựng lại vào thời gian này.
Chùa được trùng tu vào các năm 1817, 1865, 1915, 1986 và dần mất đi các yếu tố kiến trúc Nhật Bản, thay vào đó là kiến trúc mang đậm phong cách Việt, Trung.[1]
Ngày 17 tháng 2 năm 1990, Chùa Cầu được cấp bằng Di tích Lịch sử – Văn hóa quốc gia.
Hiện nay, Chùa Cầu đang bị xâm thực bởi kênh nước thải hôi thối bên dưới cầu và có nguy cơ bị lún nghiêng.
Kiến trúc
Phố Hiến là một địa danh lịch sử ở thành phố Hưng Yên. Vào các thế kỷ 17-18, nơi đây là một thương cảng cổ nổi tiếng của Việt Nam. Lúc ấy, phố Hiến là một đô thị trải dài theo bờ tả ngạn sông Hồng. Ngoài kinh đô Thăng Long - Kẻ Chợ là thủ đô phồn vinh nhất nước, Phố Hiến đã là một đô thị nổi bật đứng ở vị trí thứ hai. Dân gian có câu: "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Văn bia chùa Thiên ứng, dựng năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625, đời vua Lê Thần Tông) đã ghi: "Phố Hiến nổi tiếng trong bốn phương là một tiểu Tràng An" - tức một Kinh đô thu nhỏ.
Nghi môn Văn miếu Xích Đằng
Văn miếu Xích Đằng hay còn gọi là Văn miếu Hưng Yên là một di tích quan trọng trong quần thể di tích Phố Hiến. Văn miếu Xích Đằng là văn miếu thuộc hàng tỉnh, được xây dựng vào khoảng năm 1701,[1] hiện tại thuộc địa phận thôn Xích Đằng, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Chùa Ông
Được xây dựng vào năm 1653. Chùa Ông (hay còn gọi là Quan Công Miếu) có kiến trúc uy nghi, hoành tráng, tại đây thờ vị tướng tài ba Quan Vân Trường (một biểu tượng về trung - tín - tiết - nghĩa). Chùa Ông đã từng là trung tâm tín ngưỡng của Quảng Nam xưa, đồng thời cũng là nơi các thương nhân thường lưu đến để cam kết trong việc vay nợ, buôn bán, làm ăn và xin xăm cầu may.
Trong năm hội quán ở Hội An, Phúc Kiến là hội quán lớn nhất, nằm ở số 46 đường Trần Phú. Buổi ban đầu, nơi đây chỉ là một ngôi chùa lợp tranh do người Việt dựng vào năm 1697 để thờ Phật. Qua thời gian, ngôi chùa bị hư hỏng và người Việt không đủ khả năng để sửa chữa. Những thương nhân Phúc Kiến mua lại ngôi chùa vào năm 1759 và sau nhiều lần trùng tu, năm 1792 đổi thành Hội quán Phúc Kiến.
Tương truyền, tiền thân của Hội quán là một gian miếu nhỏ thờ pho tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu (bà Chúa phù hộ cho thương nhân vượt sóng gió đại dương) vớt được tại bờ biển Hội An vào năm 1697. Qua nhiều lần trùng tu, với sự đóng góp chủ yếu của Hoa Kiều bang Phúc Kiến, hội quán càng trở nên rực rỡ, khang trang góp phần tô điểm diện mạo kiến trúc đô thị cổ Hội An. Thông qua cách bài trí thờ phụng các hình nhân: 6 vị tiền hiền (lục tánh), bà mụ, thần tài ... Hội quán thể hiện sâu sắc triết lý Á Đông về hạnh phúc con người.
Hội quán Phúc Kiến đã được cấp bằng di tích lịch sử - văn hoá quốc gia ngày 17 tháng 02 năm 1990.
Hội quán Phúc Kiến
Ngoài ra còn các di tích như: Nhà cổ Quân Thắng; Nhà cổ Tân ký; …
IV. Bảo vệ di tích
1. Tình trạng xấu của các di tích
Trong số các di tích xuống cấp trên, có 7 ngôi nhà cổ thuộc diện xuống cấp nặng phải được trùng tu, chống đỡ bảo vệ trước mùa mưa bão.
Phần lớn những di tích ở Hội An thường xuyên đối mặt với thiên tai như bão, lũ nên hàng năm đều có biểu hiện xuống cấp. Trước thực trạng này, Trung tâm quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An thường xuyên chủ động tu bổ, bảo tồn bằng nguồn kinh phí không thường xuyên.
Những năm gần đây, khi đến với di tích Chùa Cầu, mọi người không thể không xót xa trước sự xuống cấp nghiêm trọng của di tích từ hệ thống móng, mố, trụ bên dưới đến hệ dầm, sàn, cột, giằng, vì kèo… Đặc biệt, trong đó hệ thống chịu lực quan trọng nhất của di tích gồm móng, mố, trụ đã có dấu hiệu nguy hiểm.
Là một học sinh, chúng ta cần làm gì để bảo vệ dự tích?
+ Giữ gìn sạch sẽ các di sản văn hóa, địa phương.
+ Đi tham quan, tìm hiểu các di tích lịch sử, di sản văn hóa
+ Không vứt rác bừa bãi
+ Tố giác kẻ gian ăn cắp các cổ vật di vật
+ Tham gia các lễ hội truyền thống.
Kết quả trinh bày của nhôm 4 đến đây là hết!
 







Các ý kiến mới nhất