Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2
TSThS

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tìm kiếm Google

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 036 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Tuần 2. Khái quát văn học dân gian Việt Nam

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồng Ngọc
Ngày gửi: 21h:39' 26-03-2018
Dung lượng: 804.5 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích: 0 người
Tổ 3
Những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật
trong tập thơ “ Góc sân và khoảng trời”
của nhà thơ Trần Đăng Khoa
1. NỘi dung
A. Nhà thơ thiếu nhi thời chống Mĩ: âm vang của thời đại qua một tâm hồn thơ trẻ.
Tội ác của giặc Mĩ:
Sự hủy diệt gieo rắc khắp nơi, không chừa bất cứ một đối tượng nào:
“ Thằng Mĩ nó đến nước tôi
Búp bê nó giết, bao người nó tra
Nó bắn cả cụ mù lòa
Nó thiêu cả bé chưa và được cơm”
( Gửi bạn Chi Lê)
Đó không chỉ là sự hủy diệt mà ở khía cạnh khác, người đọc sẽ thấy được thân phận của những em bé thời chiến qua hình ảnh bé Giang ngồi chơi tam cúc với con mèo khoang rồi nịnh nó vì sợ nó bỏ đi:

“ À thôi mày được
Bé Giang dỗ dành
Mèo thè lưỡi đỏ
Liếm vào răng nanh”…
( Đánh tam cúc)
Ẩn sau trò chơi con trẻ, ta thấy hình ảnh những em bé tội nghiệp tha thẩn chơi một mình vì người lớn đều bận rộn, không có thời gian quan tâm các em. Cõ lẽ vì vậy mà các em biết tự lập, cứng cỏi, tự tin trong hoàn cảnh khó khăn:
“ Chúng tôi đến lớp ngày ngày
Mũ rơm tôi đội, túi đầy thuốc men”
( Gửi bạn Chi Lê)
Và biết lo toan cho nhau qua bài “ Dặn em”:
“ Mẹ cha bận việc ngày đêm
Anh ngồi trong lớp lo em ở nhà”

Mĩ ra sức rêu rao rằng mục tiêu của chúng oanh
tạc chỉ là các căn cứ quân sự thì TĐK đã miêu tả thực chất những cuộc ném bom ấy. Hậu quả là những mất mát, đau thương, xáo trộn trong cuộc sống thường nhật. Cảnh đàn gà táo tác chia lìa trong bom đạn:

“Có những quả bom lao xuốn như gió độc
Mày chưa kịp gọi con, đã bị vùi trong đất
Có nhìn thấy gì đâu
Xác con mày bay lên cùng với những lá trầu.”
( Nói với con gà mái)
Cảnh con chó Vàng không biết bỏ chạy đi đâu vì nghe tiếng bom Mĩ nổ. Niềm vui nhỏ mà thắm thiết của cậu bé với người bạn thân như bị đánh cắp:
“ Hôm nay tao bỗng thấy
Cái cỏng rộng thế này
Vì không thấy bóng mày
Nằm cờ tao trước cửa…..
Sao không về hả chó
…. Tao nhớ mày lắm đó
Vàng ơi là Vàng ơi!”
( Sao không về Vàng ơi? )

Bằng những câu chuyện đời thường, chân thực, TĐK đã cho ta thấy chiến tranh mang đến những nỗi đau, mất mát không thể bù đắp, những vết thương khó lành trong tâm hồn mỗi người, từ đó lên tiếng tố cáo mạnh mẽ tội ác của giặc Mĩ.
Những vần thơ tha thiết, nhẹ nhàn, những câu chuyện thường nhật, những điều bình yên bị phá vỡ đã có sức tố cáo mạnh mẽ.
Một nữa nhà báo người Pháp từng nói về thơ TĐK như “ những tiếng hát mạnh hơn những quả bom”.
Vẻ đẹp của người lính:
Trong nhận thức của một em bé, chú bộ đội chính là hiện thân của sức mạnh VN trong chiến tranh. Trong thơ TĐK , chú bộ đội là thần tượng để gửi gắm tình cảm yêu quý, ngưỡng mộ và ước mơ thầm kín của mình.
Hình ảnh chú bộ đội luôn song hành với những chiến công phi thường:
“ Chú bị thương tự chặt tay mình
Tay còn lại ôm bom lao vào đồn giặc
Chú úp bụng xuống dây thép gai nhọn hoắt
Cho đồng đội băng qua như một chiếc cầu”
( Điều anh quên không kể)
TĐK không chỉ thấy sự vĩ đại của chú bộ đội qua những chiến công chấn động địa cầu mà còn thấy chiều sâu tâm hồn của các chú. Luôn phải đối mặt với cái chết, hơn ai hết, chú hiểu rõ giá trị sống và rất nâng niu nó.
“ Nòng pháo bỗng nhiên dừng lại
Bao nhiêu cái mũ lắng nghe
Xa xa từ một bụi tre
Tiếng chim chích chòe
Đang hót”
( Tiếng chim chích chòe)
=>Vĩ đại, phi thường nhưng các chú vẫn rất giản dị, khiêm tốn. Sự căm thù giặc và thái độ yêu quý, ngưỡng mộ đối với chú bộ đội là những tình cảm lớn trong thơ viết về chiến tranh của TĐK.

Ý chí vươn lên của trẻ em VN trong chiến tranh:
Tư thế ung dung, bình tĩnh , hiên ngang một thời của các em nhỏ - một sự đối diện bình thản đến không ngờ trước sự khốc liệt của chiến tranh.

Bằng việc làm cụ thể, trẻ em VN đã góp sức mình bé nhỏ trong chiến thắng của dân tộc:
“ Hạt gạo làng ta
Có công các bạn
Sớm nào chống hạn
Vục mẻ miệng gầu”….
( Hạt gạo làng ta)


B. Nhà thơ mục đồng:
Chất mục đồng được thể hiện ở giọng điệu trẻ con, lối xưng hô ( mày – tao; em, cháu, con…), cách cảm, cách tả cảnh vật, con người bằng con mắt non tơ, hồn nhiên, yêu đời của một đưa trẻ,…
“ Đã ngủ rồi hả trầu?
Tao đã đi ngủ đâu
Mà trầu mày đã ngủ”….
( Đánh thức trầu)

Chất mục đồng còn thể hiện qua cách nhìn, cách cảm nhận trinh nguyên và kì diệu của tâm hồn con trẻ. Thiên nhiên đầy sức sống, luôn vận động và phát triển, sự cảm nhận của trẻ thơ mang một màu sắc hoàn toàn khác.
Là một thiên nhiên trong trẻo, tinh nguyên, kì diệu và đầy chất thơ:
“ Ông trăng tròn sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em”
( Trăng sáng sân nhà em)
- Hình ảnh vầng trăng trong thơ TĐK luôn có một sức hút mãnh liệt bởi vẻ đẹp hồn nhiên, trong trẻo và rất đặc trưng cho những đêm trăng ở nông thôn.
Chất mục đồng còn thể hiện ở tâm hồn người dân quê vừa tượng trưng cho sức sống mãnh liệt, tinh thần lạc quan của dân tộc VN:
“ Chú ơi hành quân
Cô lái máy cày
Có nghe phơi phới
Tiếng diều lượn bay”….
( Thả diều)
Cảm nhận rất riêng về người nông dân. TĐK chủ yếu nhắc tới người nông dân ở làng quê, trước hết là cha, mẹ:
“ Áo mẹ mưa bạc màu
Đầu mẹ nắng cháy tóc
Mẹ ngày đêm khó nhọc
Con chưa ngoan, chưa ngoan”
( Khi mẹ vắng nhà)
- Đó còn là những cảm xúc mạnh mẽ về sự cảm thông, thương xót và lòng biết ơn, kính trọng đối với những người lao động. Là sự nhọc nhằn, vất vả và sự lam lũ của người nông dân trong quá trình vật lộn với thiên nhiên và khắc nghiệt của bom đạn tàn khốc của kẻ thù.
“ Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy”…
( Hạt gạo làng ta)
=>Nhưng dù vất vả, nhọc nhằn thì hình ảnh người nông dân vẫn hiện lên với niềm vui hân hoan của người lao động. Dường như hương vị đồng quê đã trở thành một phần không thể thiếu trong con người TĐK.
2. NghỆ thuẬt
Thơ Trần Đăng Khoa hay không phải ở nội dung phản ánh hiện thực mà nó nằm ở khả năng trực giác đến kỳ lạ được biểu đạt qua một thế giới ngôn từ lung linh, sống động và nhạc điệu đa âm, đa sắc.
Trong tập “ Góc sân và khoảng trời”, có tới 306 từ /105 bài (so với cả tập “Những bài thơ em yêu” của những nhà thơ lớn tuổi chỉ có 159 từ/100 bài). Điều đáng lưu ý là số lượng từ láy ấy không hề lặp lại
Từ láy trong thơ Trần Đăng Khoa có khả năng tượng hình, tượng thanh sống động, ấn tượng:
“Tiếng gà
Khát khát
Tiếng chó
Khau khau
Tiếng gọi nhau
Ơi ới…”
Cả đất trời buổi sáng như rung lên nhịp rung của sự sống mới bởi hàng loạt các từ láy tượng thanh liên hoàn,…
=> Các từ láy ấy không chỉ diễn tả chính xác đặc điểm tự nhiên của từng loài vật, hiện tượng mà còn bộc lộ cái hồn của chúng. Vạn vật đang nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ huyền bí mà Trần Đăng Khoa nghe được bằng trực giác hồn nhiên của mình.

- Thơ Trần Đăng Khoa đi tìm cái linh hồn ảo diệu của thiên nhiên, tạo vật qua sự sống của chính con người. Cho nên, ngôn ngữ thơ bao giờ cũng có một độ mở liên tưởng với các hình thức tu từ: nhân hoá, so sánh, ẩn dụ,tượng trưng,… rất bất ngờ.

Nhiều bài nhân cách hoá toàn phần như: Mưa, Đánh thức trầu, Buổi sáng nhà em, Đám ma bác Giun,… Vạn vật được nhìn qua con mắt tinh tế của sinh hoạt làng quê, tâm lý đời thường.
Có những nhân hoá đạt đến mức trí tuệ, kết tinh thành những biểu trưng: Đứng canh trời đất bao la/ Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi, … Ông trời mặc áo giáp đen/ Ra trận…, Ao trường vẫn nở hoa sen/ Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu…
=> Giữa người và vật như có một sợi dây vô hình trong mối tương giao xúc cảm.
Nghệ thuật so sánh trong thơ Trần Đăng Khoa khá đặc sắc làm nhiều nhà thơ lớn phải thán phục. Xuân Diệu rất cảm khái với hình ảnh này:
“Trăng ơi từ đâu đến
Hay biển xanh diệu kỳ
Trăng tròn như mắt cá
Không bao giờ chớp mi”
(Trăng ơi…từ đâu đến?)
Nhà thơ từng viết về biển và trăng rất hay này phải thừa nhận rằng Khoa đã chạm đến tận cùng cái huyền bí của tự nhiên.
Câu thơ:
“Ngoài thềm rơi cái lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”

được nhiều người ca tụng ở khả năng thẩm âm “siêu phàm”.
Nhà thơ lắng nghe lòng mình qua một thứ âm thanh vọng lại từ trong ký ức sâu thẳm. Trí tưởng tượng phong phú, bay bổng và sự liên tưởng, so sánh kì diệu. Cách so sánh này lạ, ít thấy ở thi ca truyền thống.
Trần Đăng Khoa có những biện pháp nghệ thuật ẩn dụ bất ngờ: “Nét chữ chênh vênh nắng gió. Chữ cũng động cựa như núi đồi trắc trở”.
Những ẩn dụ khi đã chuyển sang nghĩa tượng trưng:
“Ông trời
Mặc áo giáp đen
Ra trận”…
(Mưa)
“Nền trời rừng rực ráng treo
Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay.”
( Tháng ba)

- Xuất hiện hình ảnh của Thánh Gióng trong huyền thoại qua một bức tranh thiên nhiên hoành tráng.
- Sự xuất thần của trạng thái vô thức nhiều khi có khả năng sản sinh ngôn ngữ giàu có hơn là sự nỗ lực của ý thức.
- Nói đến thơ Trần Đăng Khoa không thể không nói đến đặc sắc của nhạc điệu. Nhà thơ Phạm Hổ có nhận xét, thơ Trần Đăng Khoa với tập “Góc sân và khoảng trời” : “Có sự phong phú trong nhạc điệu, mỗi bài thơ, có một nhạc điệu riêng, âm sắc riêng”. Nhạc điệu là cấp độ siêu ngôn ngữ, thế giới âm thanh của ký hiệu ngôn từ. Nhạc điệu góp phần tạo hình, tạo nghĩa cho tác phẩm thơ. Ngôn ngữ chính xác, biểu cảm và giàu âm thanh, nhịp điệu.
“ Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan”
( Mẹ ốm)
Bên cạnh đó là những hình ảnh đẹp sáng tạo độc đáo:
“ Bố em đi cày về
Đội sấm
Đội chớp
Đội cả cơn mưa”…
( Mưa)
 
Gửi ý kiến