Bài 23. Kinh tế, văn hoá thế kỉ XVI - XVIII

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thái Minh Quân
Ngày gửi: 15h:15' 22-08-2021
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 17
Nguồn:
Người gửi: Thái Minh Quân
Ngày gửi: 15h:15' 22-08-2021
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 17
Số lượt thích:
0 người
Bài 23: KINH TẾ VÀ VĂN HOÁ THẾ KỶ XVI – XVIII
I. KINH TẾ
a. Nông nghiệp:
Đàng Ngoài:
Các chúa Trịnh ít quan tâm đến thuỷ lợi và tổ chức khai hoang, xung đột giữa các phe phái phong kiến kéo dài khiến ruộng đất bị bỏ hoang, đói kém mất mùa liên tục, nông dân phiêu tán
Nông nghiệp ở Đàng Ngoài chậm phát triển
Đàng Trong:
Các chúa Nguyễn khuyến khích dân khai hoang, cấp nông cụ, lương ăn, lập nhiều làng ấp mới khiến diện tích mở rộng, năng suất lúa tăng cao
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh đặt phủ Gia Định; tiếp đó mở rộng sang Mỹ Tho và Hà Tiên (1679 - 1757).
Sự mở rộng đất đai dẫn đến xuất hiện tấng lớp địa chủ lớn có nhiều ruộng đất. Cuối thế kỷ XVIII, nông dân Đàng Trong ngày càng đói khổ hơn.
b. Thủ công nghiệp
Xuất hiện các làng nghề như làng dệt La
Khê (Sơn Tây), làng gốm Thổ Hà (Bắc Giang), làng rèn sắt Nho Lâm (Nghệ An), làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng mía đường (Quảng Nam), làng rèn sắt Hiền Lương – Phú Bài (Thừa Thiên Huế)
Các sản phẩm thủ công của các làng nghề rất được các khách buôn trong nước và
nước ngoài ưa chuộng
c. Ngoại thương
Buôn bán phát triển; xuất hiện thêm một số đô thị: Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An(Quảng Nam), Gia Định…
Đến cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX, các đô thị lần lượt suy tàn dần do chính sách của chính quyền sở tại (Trịnh, Nguyễn) và sự chuyển biến của hệ thống thương mại quốc tế.
II. VĂN HOÁ
1. Tôn giáo
Nho giáo vẫn được chính quyền phong kiến đề cao trong học tập, thi cử để tuyển chọn quan lại
Đạo giáo và Phật giáo được phục hồi và phát triển
Trong các làng xã người Việt, nhân dân vẫn giữ được nếp sống văn hoá truyền
thống. Những nếp sống tốt đẹp (các phong tục tập quán, lễ hội, sinh hoạt dân
gian) đó góp phần nâng cao tình đoàn kết dân tộc trong thôn xóm, bồi đắp lòng yêu
quê hướng đất nước.
Thiên chúa giáo được du nhập vào Việt Nam vào giữa thế kỷ XVI bởi các giáo sĩ
phương Tây. Lúc đầu thì phát triển cực
thịnh, nhưng ít lâu sau bị chính quyền phong kiến ngăn cấm.
2. Sự ra đời chữ Quốc ngữ
Thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây dùng chữ cái La-tinh ghi âm tiếng Việt. Đi đầu là các giáo sĩ Bồ Đào Nha như de Pina, Gaspard; nổi bật là Alexandre de Rhodes có đóng góp lớn
Năm 1651, de Rhodes xuất bản quyển từ điển Việt – Bồ - Latinh.
Đây là chữ viết tiện lợi, độc đáo, dễ sử dụng và dễ phổ biến.
3. Văn học và nghệ thuật dân gian
a. Văn học
+ Văn học chữ Hán chiếm ưu thế.
+ Văn học chữ Nôm phát triển mạnh.
+ Các tác giả lớn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ
b. Nghệ thuật
Các loại hình nghệ thuật chính: Hát chèo, tuồng, hát ả đào…
Các công trình kiến trúc tiêu biểu: Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (Bắc Ninh).
Dặn dò:
I. KINH TẾ
a. Nông nghiệp:
Đàng Ngoài:
Các chúa Trịnh ít quan tâm đến thuỷ lợi và tổ chức khai hoang, xung đột giữa các phe phái phong kiến kéo dài khiến ruộng đất bị bỏ hoang, đói kém mất mùa liên tục, nông dân phiêu tán
Nông nghiệp ở Đàng Ngoài chậm phát triển
Đàng Trong:
Các chúa Nguyễn khuyến khích dân khai hoang, cấp nông cụ, lương ăn, lập nhiều làng ấp mới khiến diện tích mở rộng, năng suất lúa tăng cao
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh đặt phủ Gia Định; tiếp đó mở rộng sang Mỹ Tho và Hà Tiên (1679 - 1757).
Sự mở rộng đất đai dẫn đến xuất hiện tấng lớp địa chủ lớn có nhiều ruộng đất. Cuối thế kỷ XVIII, nông dân Đàng Trong ngày càng đói khổ hơn.
b. Thủ công nghiệp
Xuất hiện các làng nghề như làng dệt La
Khê (Sơn Tây), làng gốm Thổ Hà (Bắc Giang), làng rèn sắt Nho Lâm (Nghệ An), làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng mía đường (Quảng Nam), làng rèn sắt Hiền Lương – Phú Bài (Thừa Thiên Huế)
Các sản phẩm thủ công của các làng nghề rất được các khách buôn trong nước và
nước ngoài ưa chuộng
c. Ngoại thương
Buôn bán phát triển; xuất hiện thêm một số đô thị: Phố Hiến (Hưng Yên), Hội An(Quảng Nam), Gia Định…
Đến cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX, các đô thị lần lượt suy tàn dần do chính sách của chính quyền sở tại (Trịnh, Nguyễn) và sự chuyển biến của hệ thống thương mại quốc tế.
II. VĂN HOÁ
1. Tôn giáo
Nho giáo vẫn được chính quyền phong kiến đề cao trong học tập, thi cử để tuyển chọn quan lại
Đạo giáo và Phật giáo được phục hồi và phát triển
Trong các làng xã người Việt, nhân dân vẫn giữ được nếp sống văn hoá truyền
thống. Những nếp sống tốt đẹp (các phong tục tập quán, lễ hội, sinh hoạt dân
gian) đó góp phần nâng cao tình đoàn kết dân tộc trong thôn xóm, bồi đắp lòng yêu
quê hướng đất nước.
Thiên chúa giáo được du nhập vào Việt Nam vào giữa thế kỷ XVI bởi các giáo sĩ
phương Tây. Lúc đầu thì phát triển cực
thịnh, nhưng ít lâu sau bị chính quyền phong kiến ngăn cấm.
2. Sự ra đời chữ Quốc ngữ
Thế kỉ XVII, một số giáo sĩ phương Tây dùng chữ cái La-tinh ghi âm tiếng Việt. Đi đầu là các giáo sĩ Bồ Đào Nha như de Pina, Gaspard; nổi bật là Alexandre de Rhodes có đóng góp lớn
Năm 1651, de Rhodes xuất bản quyển từ điển Việt – Bồ - Latinh.
Đây là chữ viết tiện lợi, độc đáo, dễ sử dụng và dễ phổ biến.
3. Văn học và nghệ thuật dân gian
a. Văn học
+ Văn học chữ Hán chiếm ưu thế.
+ Văn học chữ Nôm phát triển mạnh.
+ Các tác giả lớn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ
b. Nghệ thuật
Các loại hình nghệ thuật chính: Hát chèo, tuồng, hát ả đào…
Các công trình kiến trúc tiêu biểu: Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay (Bắc Ninh).
Dặn dò:
 








Các ý kiến mới nhất