Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

kỹ thuật chăn nuôi trâu bò

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: sưu tầm
Người gửi: Trần Thị Hiền
Ngày gửi: 09h:14' 11-06-2010
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 660
Số lượt thích: 2 người (Trương Thi Hieu, huỳnh hữu thảo)
Phần II - Chương I
Chăn nuôi trâu, bò
Môn học: Chăn Nuôi
Giảng viên: TS. Trần Trang Nhung
Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Giống trâu Việt Nam
Trâu việt nam thuộc nhóm trâu đầm lầy (swamp buffalo) được nuôi ở các vùng sinh thái khác nhau, nuôi với nhiều mục đích: cày kéo, lấy phân, lấy thịt.
Trâu khá lớn, ngoại hình khá đồng nhất, toàn thânmàu đen. cổ ngực có dải trắng hình chữ V, khoảng 5% trâu có màu trắng. Nghé áơ sinh có KL 25-30 kg.
Khối lượng trâu đực và cái trưởng thành có thể phân thành 3 mức độ : to, trung bình và nhỏ (tương ứng như sau: 450-500 và 400-450; 400-450 và 350-400; 350-400 và 300-350 kg).
Dựa vào tầm vóc người ta chia làm hai nhóm: trâu ngố và trâu gié. Nhìng chung trâu miền núi > trâu đồng bằng,> Khả năng sinh sản của trâu thấp:
Tuổi đẻ lứa đầu muộn (4-5 tuổi), nhịp đẻ thưa (1,5-2năm/lứa), biểu hiện động dục không rõ nét, SL sữa thấp (600-700 kg/chu kỳ, tỷ lệ mỡ sũa cao (9-12%).
Tốc độ sinh trưởng chậm, tỷ lệ thịt xẻ thấp (43-48%). Một số địa phương có trâu tốt, tầm vóc lớn: Hàm Yên, Chiêm hoá (TQ); Lục Yên, Bảo Yên (Yên Bái), Mường Và, Mai Sơn (Lai Châu),Thanh Chương (Nghệ An), Quảng Nam, Bình Định..
Bò vàng Việt Nam
Bò Vàng Việt nam có thể xuất phát từ bò Châu Á có U (Bostaurus indicus).
Bò được nuôi lấy thịt, cầy kéo.Hầu hết có lông da màu vàng nên gọi là bò Vàng.
Tầm vóc nhỏ, khối lượng trưởng thành phổ biếnở con đực nặng 250-280 kg, con cái nặng 160-180 kg.
Khả năng sinh sản tương đối tốt, tuổi đẻ lứa đầu khá sớm (30-32 tháng), nhịp đẻ khá mau (13-15 tháng/lứa).
Sản lượng sữa thấp (300-400 kg/chu kỳ), tỷ lệ mỡ sữa 5,5%. Tốc độ sinh trưởng chậm, tỷ lệ thịt xẻ thấp (45%).
Một số địa phương sau đây có các nhóm bò tốt: Lạng Sơn, Bò Mèo (Đồng Văn, Hà Giang), Thanh Hoá, Nghệ An, Phú Yên
Bò Lai Sind
Cách đây khoảng 80 mươi năm (1923), bò Red Sindhi được nhập vào nước ta và được nuôi ở một số địa phương.
Việc lai giữa bò Red Sindhi với bò Vàng đã hình thành nên giống bò Lai Sind.
Bò Lai Sind là giống bò tốt, thích nghi cao với điều kiện nuôi dưỡng và khí hậu của nước ta.
Bò có tầm vóc khá lớn, con đực trưởng thành nặng 250- 300 kg, con cái 200-250 kg.
Bò có màug lông vàng Sẫm, tai to, hơi rủ, Yếm cổ phát triển kéo dài tới rốn, u vai cao. Khả năng sinh trưởng, cày kéo, cho thịt đều tốt hơn bò vàng.
Khả năng sinh sản khá tốt, sản lượng sữa 790-950 kg/chu kỳ, tỷ lệ mỡ sữa 5%.
Tốc độ sinh trưởng nhanh hơn bò Vàng
Bò H’Mông (Bò Mèo)
Bò mèo được phân bố ở vùng núi cao phía Bắc như Sơn La, Điện biên, Lai Châu, Hà Giang.Trong đó Hà Giang được coi như xứ sở của bò Mèo.
Bò có ngoại hình cân đối, cao to, cấu tạo cơ thể chắc chắn, linh hoạt.
Đa số bò có màu vàng tơ, một số ít màu cánh gián sẫm, da mỏng, lông mịn. Con đực có u vai cao, to, yếm rộng, đuôi dài.
Đực trông hung dữ, con cái dáng thanh, đầu nhẹ, bầu vú to, núm vú đều, thẳng hàng.
Khối lưởng trưởng thành, con đực380-390 kg, con cái nặng 250-270 kg, tỷ lệ thịt xẻ 50-52%, thịt tinh 38-40%. Đẻ lứa đầu lúc 33-35 tháng, khối lượng bê sơ sinh 15-16 kg.
Bò U đầu rìu
Bò phân bố rải rác ở Nghệ An, Hà Tĩnh, nhiều nhất ở huyện Nam Đàn (Nghệ An) và Kỳ Anh (Hà Tĩnh).
Số lượng có vài chục nghìn con, bò nuôi với mục đích cày kéo và lấy thịt. Bò có màu nâu nhạt đến màu vàng.
Một số bò có u vai màu đen. Cấu tạo cơ thể cân đối, chắc chắn, dáng thanh săn. Mặt thanh, sừng ngắn, to ở con đực, nhỏ ở con cái.Yếm thẳng gọn, lông thưa, min, ngắn, đuôi dài, chỏm đuôi có màu đen.
Bò đực có U vai hình đầu dìu. Khối lượng khi trưởng thành, con đực nặng 270-320 kg, con cái 190-210 kg, bê sơ sinh 13-16 kg. Tỷ lệ thịt xẻ tương ứng ở bò cái và đực là 44,5 và 47%, thịt tinh 32,6 và 34,6%.






Ngựa Việt nam
Được nuôi nhiều ở các tỉnh Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên và nuôi ít hơn ở Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hoà Bình, Bắc Giang.
Ngựa nuôi với mục đích kéo xe, thồ hàng hoặc cưỡi. Ngựa có tầm vóc nhỏ, màu lông đa dạng, ở tuổi trưởng thành, con đực nặng 170-180 kg, con cái nặng 160-170 kg.
Ngựa Việt nam có thể kéo xe trọng tải 1400-1500 kg, thồ 160-180 kg, cưỡi với tốc độ trung bình 25 km/giờ.
Kỹ thuật nuôi trâu, bò đực giống
Chọn lọc theo đời trước:
Yêu cầu trước tiên về trâu, bò đực giống là nó phải thuộc về một giống mà trong phạm vi của giống đó người ta tiến hành nhân giống.
Để tiến hành chọn lọc người ta xem xét hệ phả của con vật.
Khi đánh giá người ta xem xét sự biểu hiện tốt hay xấu của các tính trạng về ngoại hình, sinh trưởng phát dục và khả năng sản xuất của các đời trước, đặc biệt là đời bố mẹ.
Kỹ thuật chọn bản thân trâu, bò đực giống
Chọn lọc theo ngoại hình:
Đực giống phải có sức khoẻ tốt, mang các đặc điểm của giống và ngoại hình phù hợp với hướng sản xuất.
Thân hình phát triển cân đối, bộ xương chắc chắn, cử động dứt khoát, hệ cơ phát triển, lưng bằng phẳng, ngực sâu rộng, hông mông phát triển tốt, bốn chân vững chắc.
Đặc biệt các cơ quan sinh dục phát triển bình thường.
Hai dịch hoàn to đều, bao dịch hoàn mỏng, nhẵn, màu hồng.
Trâu, bò đực giống không được có những khuyết tật về ngoại hình, đặc biệt là các khuyết tật như: lưng võng, bụng sệ, chân yếu, thiếu dịch hoàn hoặc hai dịch hoàn phát triển không đều.
Chọn lọc theo sinh trưởng - phát dục: Trâu, bò đực giống phải có khả năng sinh trưởng tốt, thể trọng lớn.
Chọn lọc thông qua đánh giá phẩm chất tinh dịch và năng lực phối giống:
Phẩm chất tinh dịch của đực giống phải đạt các tiêu chuẩn quy định.
Đực giống phải có tính hăng và năng lực phối giống cao.
Kỹ thuật chọn theo đời sau
Đối với đực giống chọn lọc theo đời sau là rất cần thiết, vì nó có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng đời con.
Trong chăn nuôi trâu, bò sữa, việc đánh giá đực giống theo đời sau là đánh giá thông qua các chỉ tiêu về ngoại hình - thể chất, sinh trưởng - phát dục và khả năng sản xuất sữa ở các con gái của đực giống.
Số lượng con gái cần được đánh giá khoảng 25-30 trở lên.
Trong chăn nuôi trâu, bò thịt, đánh giá đực giống qua đời sau là đánh giá các chỉ tiêu về ngoại hình - thể chất, sinh trưởng - phát dục và khả năng cho thịt ở đời con.
Mỗi đực giống cần kiểm tra cho phối giống với > 30 cái sinh sản tập trung trong khoảng 30 ngày. Khi bê, nghé sinh ra cần đảm bảo đồng nhất về chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc.
Khi bê, nghé đạt 15-18 tháng tuổi tiến hành giết mổ ít nhất 3 con để đánh giá khả năng cho thịt.
Đặc điểm tinh dịch trâu, bò đực giống
Màu sắc: Tinh dịch của trâu, bò đực giống khoẻ mạnh có màu trắng sữa, riêng ở bò có thể (10%) có màu hơi vàng.
Độ đặc: Mẫu tinh tốt có dạng đặc như kem.
Dung lượng tinh dịch: ở trâu là 2-3 ml/1 lần xuất tinh; ở bò nội 2-3 ml; bò Sind 3,5-4 ml; bò Hà Lan trung bình 5-6 ml (có thể đạt 10-15 ml).
Mật độ tinh trùng: ở bò trung bình là 2-2,2 x 109 tinh trùng/1 ml; ở trâu biến động từ 0,63-1,03 x 109 tinh trùng/1 ml.
pH của tinh dịch: ở trâu, bò trung bình là 6,6-6,9 (biến động từ 6-8).
Tỉ lệ kỳ hình: Có thể biến động từ 3-30%.
Các nhân tố ảnh hưởng tới số lượng và chất lượng tinh dịch
Giống, cá thể: Các giống khác nhau có dung lượng tinh dịch trong một lần phóng tinh khác nhau. Trong cùng một giống các cá thể có số lượng và chất lượng tinh dịch khác nhau.
Dinh dưỡng: Mức độ dinh dưỡng hợp lý, khẩu phần ăn phong phú sẽ nâng cao chất lượng tinh dịch. Dinh dưỡng thấp hoặc cao đều ảnh hưởng xấu đến số lượng và chất lượng tinh dịch. Loại hình thức ăn cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới chất lượng tinh dịch. Đực giống cần được ăn các loại thức ăn toan tính sinh lý (thức ăn tinh).
Chăm sóc, quản lý: Chế độ chăm sóc, quản lý ảnh hưởng rõ rệt tới thời gian sử dụng đực giống.
Mùa vụ: Trâu đực giống có chất lượng tinh dịch tốt nhất ở vụ đông - xuân và thu - đông, kém nhất vào mùa hè. ở bò chất lượng tinh dịch tốt nhất vào mùa xuân, thu; kém hơn vào mùa hè và mùa đông. Yếu tố mùa vụ (đặc biệt là nhiệt độ) ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch của trâu rõ rệt hơn so với bò.
Chế độ khai thác: Chế độ khai thác, sử dụng hợp lý sẽ nâng cao chất lượng và số lượng tinh dịch. Khai thác quá mức sẽ làm giảm chất lượng, ngược lại khai thác quá thưa sẽ dẫn đến đực giống mất phản xạ về tính dục.
Tuổi: Đực giống quá non hoặc quá già đều cho tinh dịch có chất lượng thấp. Đực giống cho tinh dịch tốt nhất vào lúc 4-5 tuổi.
Ngoài ra các yếu tố như: phương thức phối giống, kỹ thuật khai thác, tình hình sức khoẻ, bệnh tật... cũng gây ảnh hưởng rõ rệt tới số lượng và chất lượng tinh dịch.
Nhu cầu dinh dưỡng cho trâu bò đực giống
Giống, cá thể: Các giống khác nhau có dung lượng tinh dịch trong một lần phóng tinh khác nhau. Trong cùng một giống các cá thể có số lượng và chất lượng tinh dịch khác nhau.
Dinh dưỡng: Mức độ dinh dưỡng hợp lý, khẩu phần ăn phong phú sẽ nâng cao chất lượng tinh dịch. Dinh dưỡng thấp hoặc cao đều ảnh hưởng xấu đến số lượng và chất lượng tinh dịch. Loại hình thức ăn cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới chất lượng tinh dịch. Đực giống cần được ăn các loại thức ăn toan tính sinh lý (thức ăn tinh).
Chăm sóc, quản lý: Chế độ chăm sóc, quản lý ảnh hưởng rõ rệt tới thời gian sử dụng đực giống.
Mùa vụ: Trâu đực giống có chất lượng tinh dịch tốt nhất ở vụ đông - xuân và thu - đông, kém nhất vào mùa hè. ở bò chất lượng tinh dịch tốt nhất vào mùa xuân, thu; kém hơn vào mùa hè và mùa đông. Yếu tố mùa vụ (đặc biệt là nhiệt độ) ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch của trâu rõ rệt hơn so với bò.
Chế độ khai thác: Chế độ khai thác, sử dụng hợp lý sẽ nâng cao chất lượng và số lượng tinh dịch. Khai thác quá mức sẽ làm giảm chất lượng, ngược lại khai thác quá thưa sẽ dẫn đến đực giống mất phản xạ về tính dục.
Tuổi: Đực giống quá non hoặc quá già đều cho tinh dịch có chất lượng thấp. Đực giống cho tinh dịch tốt nhất vào lúc 4-5 tuổi.
Ngoài ra các yếu tố như: phương thức phối giống, kỹ thuật khai thác, tình hình sức khoẻ, bệnh tật... cũng gây ảnh hưởng rõ rệt tới số lượng và chất lượng tinh dịch.
Nhu cầu dinh dưỡng cho trâu bò đực giống
Nhu cầu về năng lượng:
ở thời kỳ nghỉ phối cần 0,8 - 1,2 ĐVTĂ (9,7-12,6 MJ) / 100kg thể trọng.
ở thời kỳ phối trung bình: 0,9 - 1,3 ĐVTĂ (10,5-13,6 MJ)/ 100kg thể trọng.
ở thời kỳ phối nặng: 1,0 - 1,4 ĐVTĂ (12,4-16,2 MJ) / 100kg thể trọng.
Nhu cầu về protein tiêu hoá: Vào thời kỳ nghỉ phối cần 100g, phối trung bình 125g và phối nặng 140 - 145g/ ĐVTĂ.
Nhu cầu về khoáng: 7 - 8g Ca và 4 - 5g P/ĐVTĂ, 10 - 15g NaCl/100kg thể trọng.
Nhu cầu về vitamin: Vitamin A: (Được tính thông qua caroten, 1mg caroten tương đương 500 UI vitamin A) cần 80 - 100mg caroten / 100kg thể trọng.
Vitamin E: 40 - 50 mg, vitamin D: 1200 - 1800 UI /100kg thể trọng.
Tiêu chuẩn ăn cho trâu bò đực giống
Bảng 5. Tiêu chuẩn ăn của bò đực giống /ngày đêm
Yêu cầu dinh dưỡng cho trâu bò đực giống
Khẩu phần ăn:
Khẩu phần ăn của đực giống cần phối hợp từ nhiều loại thức ăn khác nhau để đảm bảo sự ngon miệng,
Cần sử dụng các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao dung tích nhỏ để đảm bảo bụng đực giống thon gọn.
Trong khẩu phần thức ăn tinh chiếm 35 - 45% về giá trị nặng lượng, còn lại là thức ăn thô và thức ăn xanh.
Vào thời kỳ phối giống cần bổ sung 0,3 - 0,5kg thóc hoặc đậu đỗ ủ mầm và 2 - 3 quả trứng gà/ con/ngày.
Cách cho ăn:
Thức ăn tinh cho ăn 2 lần/ngày.
Buổi sáng cho ăn trước khi khai thác tinh.
Sau khi cho ăn thức ăn tinh đến thức ăn xanh và cuối cùng cho thức ăn thô theo định lượng.
Nước uống tự do.
Chăm sóc trâu bò đực giống
Vận động: Đối với đực giống mang tính cưỡng bức. Vận động hợp lý sẽ tăng cường trao đổi chất, nâng cao sức khoẻ, phẩm chất tinh dịch và năng lực phối giống. Cần đảm bảo mỗi ngày đực giống đi bộ 1,5 - 2 km.
Có thể áp dụng các hình thức vận động như:
Kết hợp chăn thả: Bãi chăn thiết kế xa chuồng 1-1,5 km. Khi đi chăn dồn đuổi để đực giống đi bộ bình thường, không la cà dọc đường.
Kết hợp với lao tác nhẹ: Có thể sử dụng đực giống kéo xe hoặc bừa nhẹ với thời gian làm việc 2-3 giờ/ngày.
Vận động quanh trụ quay: Có thể chôn một cột trụ, đỉnh trụ có gắn với các đòn ngang. Mỗi đực giống được buộc vào một đầu đòn và cho chúng đi xung quanh trụ quay.
Xây dựng đường vận động: Thiết kế đường vận động có rào chắn hai bên với độ dài 1,5-2 km.
Chăm sóc trâu bò đực giống
Tắm chải: Là khâu kỹ thuật quan trọng.
Tắm chải ảnh hưởng tốt đến tiêu hoá, hấp thu, tuần hoàn, hô hấp, sinh trưởng, sinh sản,
Khả năng tự bảo vệ cơ thể, kích thích thần kinh và loại trừ ký sinh trùng ngoài da.
Mỗi ngày đực giống phải được tắm (về mùa hè), chải (về mùa đông) 1 - 2 lần.
Chải: áp dụng trong mùa đông. Đầu tiên dùng bàn chải cứng quét sạch những chỗ dính đất, phân, sau đó dùng bàn chải lông chải toàn thân theo thứ tự từ trái sang phải, từ trước đến sau, từ trên xuống dưới.
Nên chải vào buổi sáng sau khi đực giống vận động.
Tắm: Những ngày nắng ấm cần cho trâu, bò tắm, phải kết hợp kỳ cọ các vết bẩn trên da.
Tốt nhất là dùng vòi phun hoặc có thể cho đằm tắm ở ao, hồ, sông, suối có nước sạch.
Chăm sóc trâu bò đực giống
Chuồng trại: Chuồng đực giống phải đặt ở xa và đầu hướng gió so với chuồng cái sinh sản. Phải đảm bảo sạch sẽ thoáng mát. Nền chuồng khô ráo, không trơn, mùa đông nên có độn chuồng. Mội con nhốt một ô chuồng riêng với diện tích 10 - 12 m2 có sân chơi với diện tích 18 - 20 m2.
Định kỳ kiểm tra khối lượng đực giống: 1 tháng 1 lần. Nếu khối lượng tăng ngoài dự kiến thì cần giảm tiêu chuẩn ăn, nếu khối lượng giảm sút thì phải tăng khẩu phần ăn.
Phun diệt ve, ghẻ, rận: 7-10 ngày 1 lần bằng dung dịch Dipterex hoặc Bacdip 1,5-2%.
Định kỳ tiêm phòng đối với các bệnh truyền nhiễm thông thường như: Tụ huyết trùng, nhiệt thán...
Và định kỳ kiểm tra sức khoẻ: xét nghiệm máu, phân, nước tiểu 3 tháng 1 lần, xét nghiệm các bệnh truyền nhiễm 6 tháng 1 lần.
Sử dụng trâu bò đực giống
Tuổi bắt đầu sử dụng: Nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, sinh trưởng phát dục bình thường bò đực giống 18 - 24 tháng tuổi, trâu 30 - 36 tháng tuổi có thể bắt đầu cho phối giống.
Chế độ sử dụng: Trong trường hợp phối giống trực tiếp: 1 đực có thể phụ trách 30-50 cái, nếu khai thác tinh dịch để truyền giống nhân tạo mỗi tuần có thể sử dụng 3 - 4 lần đối với bò và 1 - 2 lần đối với trâu.
Thời gian sử dụng: Thời gian sử dụng tốt nhất là 4 - 5 năm.
Kỹ thuật nuôi trâu, bò cái sinh sản
Tuổi động dục lần đầu: ở bò 15-18 tháng tuổi, ở trâu khoảng 2 năm tuổi.
Tuổi phối giống lần đầu: Nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt bò cái có thể phối giống lần đầu lúc 18-20 tháng tuổi, trâu cái lúc 30 tháng tuổi.
Chu kỳ động dục: ở bò tơ là 19-21 ngày, bò cái trưởng thành: 21-23 ngày. ở trâu chu kỳ động dục không ổn định.
Chu kỳ trung bình ở trâu Việt Nam là 22 ? 1,1 ngày; ở trâu Murrahi là 19,3-21,4 ngày. Ngoài ra, ở trâu còn có các loại chu kỳ động dục không bình thường như: chu kỳ ngắn (5-7 ngày), song chu kỳ (31-60 ngày), tam chu kỳ (61-90 ngày) và chu kỳ dài (> 90 ngày).
Biểu hiện động dục: Bò thường động dục rõ rệt, còn trâu động dục thầm lặng, các biểu hiện động dục không rõ.
Thời điểm phối giống thích hợp: ở trâu, bò phối giống vào cuối giai đoạn 2 của thời kỳ động dục (10-12 giờ sau khi bắt đầu động dục). Trên thực tế nếu phát hiện động dục vào buổi sáng thì phối giống vào buổi chiều, nếu phát hiện vào buổi chiều thì phối giống vào buổi sáng hôm sau. Để đảm bảo phối giống đạt kết quả nên phối 2 lần cách nhau 10-12 giờ.
Thời gian mang thai: ở bò thời gian mang thai trung bình là 280-285 ngày, ở trâu Việt Nam 325 ngày.
Động dục trở lại sau đẻ: Bò cái động dục trở lại sau đẻ khoảng 1-3 tháng. Trâu nếu được nuôi dưỡng tốt và thời tiết thuận lợi thì động dục trở lại sau đẻ 1-2 tháng. Tuy nhiên, nếu thời tiết không thuận lợi và nuôi dưỡng kém, thời gian động dục trở lại có thể kéo dài đến 6 tháng.
Để đảm bảo trâu, bò cái đẻ 1 năm 1 con cần phối giống đạt trong khoảng thời gian 2-3 tháng sau khi đẻ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của trâu, bò cái
Giống, cá thể: Mỗi giống có tuổi thành thục, tính mắn đẻ khác nhau, do đó khả năng sinh sản khác nhau.
Mức độ dinh dưỡng: Bò tơ được nuôi dưỡng hợp lý, sinh trưởng nhanh sẽ thành thục sớm. Trâu, bò cái được nuôi dưỡng hợp lý sẽ có khả năng sinh sản tốt. Mức độ dinh dưỡng quá cao có thể dẫn đến tích luỹ mỡ, làm giảm khả năng sinh sản. Ngược lại, nuôi dưỡng kém cũng ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản.
Loại hình thức ăn: Thức ăn kiềm tính sinh lý có tác dụng tốt đến chức năng sinh sản của trâu, bò cái.
Đặc biệt khẩu phần của trâu, bò cái cần đáp ứng đủ nhu cầu về các chất khoáng như: P, Mn, Zn, I... và các vitamin A, E.
Mùa vụ: Mùa vụ ít ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của bò cái, nhưng ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng sinh sản của trâu. Mùa sinh sản của trâu thường kéo dài từ tháng 9-10 năm trước đến 2-3 năm sau. Về mùa hè khả năng sinh sản của trâu giảm.
Vô sinh: Phần lớn các trường hợp do bê, nghé tơ có cơ quan giới tính không phát triển. ở trâu, bò cái sinh sản hiện tượng vô sinh và chậm sinh có thể do thể vàng tồn lưu hoặc do các bệnh đường sinh dục.
Bệnh đường sinh dục: Các bệnh đường sinh dục như: sẩy thai truyền nhiễm, viêm vú, sót nhau, viêm tử cung... ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng sinh sản.
Phương thức và kỹ thuật phối giống: Phối giống đồng huyết sẽ làm giảm sức sống của thai, có thể gây chết thai. Kỹ thuật phối giống quyết định kết quả phối giống.
Ngoài ra các yếu tố khác như: chăm sóc quản lý, rối loạn kích tố... cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của trâu, bò cái.
Nuôi dưỡng trâu, bò cái trong thời kỳ mang thai
Giai đoạn chửa kỳ I: ở giai đoạn này nhu cầu nuôi thai không đáng kể.
Lúc này thai chủ yếu phát triển và hoàn thiện các cơ quan chức năng, sinh trưởng tích luỹ thấp.
Mặt khác, các chất dinh dưỡng của thức ăn được sử dụng mạnh mẽ.
Do vậy không cần bổ sung dinh dưỡng cho nhu cầu nuôi thai và có thể sử dụng các loại thức ăn thô xanh là chủ yếu (80-100%).

Giai đoạn chửa kỳ II: ở giai đoạn này thai sinh trưởng nhanh, chèn ép xoang bụng, khả năng đồng hoá thức ăn giảm.
Do vậy cần tăng cường dinh dưỡng và thay đổi cấu trúc khẩu phần ăn cho phù hợp: lựa chọn các thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dung tích nhỏ, dễ tiêu hoá.
Cần giảm thức ăn thô, tăng thức ăn tinh trong khẩu phần. Tránh cho ăn các loại thức ăn ôi, thiu, mốc.
Nhu cầu dinh dưỡng trâu, bò cái trong thời kỳ mang thai

Nhu cầu về năng lượng: Gồm nhu cầu duy trì và nhu cầu nuôi thai.
Nhu cầu duy trì: Phụ thuộc vào khối lượng cơ thể (0,8 - 1 ĐVTĂ/100 kg thể trọng).
Nhu cầu nuôi thai: Từ tháng chửa thứ 5 trở đi tăng thêm 0,2 - 0,3 ĐVTĂ/100kg thể trọng trâu, bò mẹ.
Nhu cầu về protit tiêu hoá: Chửa kỳ I: 80 - 90 g/ĐVTĂ.
Chửa kỳ II: 90 - 100g/ĐVTĂ.
Nhu cầu về khoáng: 7 - 8g Ca, 4 - 5g P và 10 - 15g NaCl/ĐVTĂ.
Khẩu phần ăn: Thức ăn thô xanh: Chửa kỳ I: 80%; - chửa kỳ II: 70%. Còn lại là thức ăn tinh.
Bảng 6. Nhu cầu duy trì về năng lượng của trâu, bò cáI
Chăm sóc trâu, bò cái sinh sản
Trước khi đẻ:
Trâu, bò cái đang chửa cần được chăn dắt riêng ở bãi chăn bằng phẳng, gần chuồng.
Nếu kết hợp cày kéo cần cho làm việc nhẹ, thời gian ngắn.
Trước khi đẻ 10 - 15 ngày cần cho nghỉ ngơi.
Trước khi đẻ 7 ngày cần chuyển trâu, bò cái sang chuồng đẻ đã được tiêu độc (dùng nước vôi 20%), có độn chuồng, vệ sinh sạch sẽ.
Trước khi vào chuồng đẻ trâu, bò cần được tắm chải sạch sẽ.
Trong khi đẻ:
Trong khi trâu, bò đẻ cần có người trực đẻ để can thiệp kịp thời khi cần thiết.
Nếu trường hợp đẻ khó do thai quá to, con mẹ rặn yếu hoặc ngôi thai nghịch thì cần hỗ trợ bằng cách điều chỉnh tư thế thai, dùng hai tay kéo thai ra theo nhịp rặn của con mẹ song cần chú ý không làm tổn thương đường sinh dục.
Để đảm bảo nhau ra hết nên hứng nước ối cho trâu, bò mẹ uống, đồng thời cho trâu, bò mẹ ăn cháo pha muối.
Nếu sau khi đẻ 12 giờ nhau không ra có nghĩa là sót nhau, cần có biện pháp can thiệp kịp thời.
Sau khi đẻ:
Sau khi trâu, bò đẻ song cần rửa sạch phần mông, háng, âm hộ, bầu vú và vệ sinh chuồng trại sạch sẽ.
Trâu, bò cái sau khi đẻ song cần được uống cháo muối.
Trong vòng 3 - 5 ngày sau khi đẻ cần theo dõi tình hình sức khoẻ để phát hiện các tai biến và các biện pháp can thiệp kịp thời.
Chăm sóc trâu, bò cái sinh sản
Chăm sóc trâu, bò cái sinh sản
Tê liệt 2 chân sau:
Trâu, bò đột ngột hoặc từ từ nằm xuống và không đứng dậy được nữa.
Nguyên nhân là do trong quá trình chửa khẩu phần ăn thiếu canxi, dinh dưỡng kém, ít vận động.
Có thể xử lý bằng cách tiêm tĩnh mạch gluconat canxi 20% (100-150 g).
Dùng rơm, cỏ khô chà sát, cồn salixilat xoa bóp hai chân sau, tăng cường chất độn chuồng.
Sót nhau:
Có thể xử lý bằng cách dùng nước muối 10% đã tiêu độc bơm vào tử cung hoặc dùng kích tố oxytoxin tiêm dưới da (8-10ml) nhưng phải tiêm sớm.
Nếu nhau thai không ra thì phải tiến hành bóc nhau.
Khi bóc xong dùng dung dịch nước muối hoặc thuốc tím 5% để rửa, sau đó hút ra và bơm 500.000-1.000.000UI Penixilin vào.
Viêm nhiễm đường sinh dục:
Bình thường sau khi đẻ trong vòng 3-4 ngày từ âm đạo có nước ối chảy ra, lúc đầu đỏ sau nhạt dần.
Nhưng nếu sau 1 tuần vẫn có nước ối chảy ra và có mùi hôi thối thì chắc chắn có hiện tượng viêm tử cung hoặc âm đạo.
Dùng dung dịch nước muối hoặc thuốc tím 5% thụt rửa, sau đó bơm kháng sinh vào.
Một số biện pháp nâng cao khả năng sản xuất
Phá thể vàng: ở một số trâu, bò cái có hiện tượng thể vàng tồn lưu, gây nên hiện tượng chửa giả (trứng không được thụ thai, nhưng thể vàg không tiêu biến).
Để khắc phục hiện tượng này cần tiến hành phá thể vàng bằng cách đưa tay qua trực tràng, sờ buồng trứng, tìm thể vàng và bóp nát.
Sau khi thể vàng bị phá 4-6 ngày các triệu chứng động dục thường xuất hiện.
Sử dụng kích tố sinh dục: Chế phẩm được sử dụng thông dụng nhất là huyết thanh ngựa chửa (HTNC).
Đối với bê, nghé tơ thiểu năng buồng trứng và trâu, bò cái có thể vàng tồn lưu có thể tiêm HTNC với liều 7-8 đơn vị chuột /1 kg thể trọng, 2 lần cách nhau 14-18 ngày có tác dụng kích thích động dục.
Ngoài ra còn có thể dùng các loại chế phẩm khác như: kích tố nhau thai, estradiol benzoat...
Cấy truyền hợp tử: Đây là một công nghệ sinh học mới đang được nhiều nước quan tâm.
Bản chất của cấy truyền hợp tử là người ta thu hoạch phôi từ con mẹ này để cấy truyền sang con mẹ khác.
Bằng biện pháp này người ta có thể sử dụng tối đa những con mẹ tốt.
Bằng việc sử dụng các chế phẩm sinh học người ta kích thích gây rụng nhiều trứng và sau khi thụ tinh thu được nhiều phôi trong 1 lần thu hoạch.
Các phôi sau khi thu hoạch được cấy truyền sang con mẹ khác để tăng năng suất sinh sản.
Kỹ thuật nuôi bê nghé giai đoạn bú sữa đầu
Thức ăn chủ yếu ở giai đoạn này là sữa đầu.
Sữa đầu có vai trò rất quan trọng vì thành phần của sữa đầu khác biệt rõ rệt so với sữa thường: Hàm lượng vật chất khô cao hơn 2 lần, protit, vitamin A, D cao gấp 5 lần, khoáng cao gấp 2 lần.
Đặc biệt sữa đầu có ? - Globulin làm tăng sức đề kháng của cơ thể và có độ axit cao có tác dụng ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh.
Ngoài ra trong sữa đầu có chứa MgSO4 có tác dụng tẩy nhẹ cứt su tích tụ trong đường tiêu hoá ở giai đoạn bào thai.
Thành phần của sữa đầu thay đổi rất nhanh chóng, do vậy bê, nghé sơ sinh sau khi được móc hết nhớt, dãi ở miệng, mũi và được bóc móng, cắt rốn, lau khô cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt, chậm nhất không quá 2 giờ.
Trong ngày đầu lượng sữa đầu cần bú là 5 - 6 kg, sau đó tăng lên 7 - 8 kg/ ngày. Mỗi lần bú 1 - 1,5 kg (7-8% khối lượng cơ thể), mỗi ngày bú 5 - 6 lần.
Kỹ thuật nuôi bê nghé giai đoạn bú sữa đầu
Có 2 phương pháp cho bú sữa đầu:
Bú trực tiếp: Thường áp dụng trong chăn nuôi trâu, bò thịt và trâu, bò cày kéo. Người ta nhốt chung bê, nghé với trâu, bò mẹ trong suốt thời kỳ sữa đầu để bê, nghé được bú tự do, hoặc có thể nhốt riêng bê, nghé, khi cần thì cho gặp mẹ để bú.
Bú gián tiếp: Thường áp dụng trong chăn nuôi trâu, bò sữa, bê, nghé được nuôi cách ly ngay từ khi sơ sinh. Sữa mẹ được vắt và cho bê, nghé bú bằng bình có núm vú cao su với đường kính lỗ núm vú 0,2 cm.
Trong trường hợp con mẹ bị mất sữa đầu cần cho bê, nghé bú sữa của con mẹ khác đẻ cùng thời gian với con mẹ nó hoặc sử dụng sữa đầu nhân tạo (1lít sữa tươi + 10 ml dầu cá + 5g NaCl + 3 quả trứng gà tươi).
Chăm sóc: ở giai đoạn này bê, nghé còn rất yếu, khả năng chống đỡ bệnh tật kém.
Vì vậy cần nuôi riêng (cách ly) để tránh mầm bệnh xâm nhập.
Mỗi con được nhốt ở một cũi riêng.
Cũi và chuồng nuôi phải thường xuyên được vệ sinh.
Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 20 - 220C, độ ẩm < 80%.
Đặc biệt cần đề phòng bệnh viêm rốn (bôi cồn iốt thường xuyên) và bệnh ỉa chảy do ăn quá nhiều sữa hoặc nhiễm E. coli.
Kỹ thuật nuôi bê nghé giai đoạn bú sữa đầu
Có 2 phương pháp cho bú sữa đầu:
Bú trực tiếp: Thường áp dụng trong chăn nuôi trâu, bò thịt và trâu, bò cày kéo. Người ta nhốt chung bê, nghé với trâu, bò mẹ trong suốt thời kỳ sữa đầu để bê, nghé được bú tự do, hoặc có thể nhốt riêng bê, nghé, khi cần thì cho gặp mẹ để bú.
Bú gián tiếp: Thường áp dụng trong chăn nuôi trâu, bò sữa, bê, nghé được nuôi cách ly ngay từ khi sơ sinh. Sữa mẹ được vắt và cho bê, nghé bú bằng bình có núm vú cao su với đường kính lỗ núm vú 0,2 cm.
Trong trường hợp con mẹ bị mất sữa đầu cần cho bê, nghé bú sữa của con mẹ khác đẻ cùng thời gian với con mẹ nó hoặc sử dụng sữa đầu nhân tạo (1lít sữa tươi + 10 ml dầu cá + 5g NaCl + 3 quả trứng gà tươi).
Chăm sóc: ở giai đoạn này bê, nghé còn rất yếu, khả năng chống đỡ bệnh tật kém.
Vì vậy cần nuôi riêng (cách ly) để tránh mầm bệnh xâm nhập.
Mỗi con được nhốt ở một cũi riêng.
Cũi và chuồng nuôi phải thường xuyên được vệ sinh.
Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 20 - 220C, độ ẩm < 80%.
Đặc biệt cần đề phòng bệnh viêm rốn (bôi cồn iốt thường xuyên) và bệnh ỉa chảy do ăn quá nhiều sữa hoặc nhiễm E. coli.
Dinh dưỡng cho bê nghé giai đoạn bú sữa (3-6 tháng)
Nhu cầu về năng lượng: Nhu cầu duy trì là 52 Kcal/kg thể trọng, nhu cầu cần cho 1 kg tăng trọng là 3000 Kcal.
Nhu cầu về protein: Đối với bê, nghé dưới 3 tháng tuổi là 125-130 g protit tiêu hoá/ĐVTĂ; 4-6 tháng tuổi: 117-105 g.
Nhu cầu về xơ: Dưới 3 tháng tuổi: 6-12%; 4-6 tháng tuổi: 16-18% so với vật chất khô trong khẩu phần.
Nhu cầu về đường: Dưới 3 tháng tuổi: 15-16,5%; 4-6 tháng tuổi: 8-9,5%. Tỉ lệ đường/protein là 0,8-1,0.
Nhu cầu về mỡ: Hàm lượng thích hợp là 3,5-4% vật chất khô của khẩu phần.
Nhu cầu về khoáng: Đối với bê dưới 3 tháng tuổi: Ca: 14,9-10,2 g; P: 8,4-6,2 g; NaCl: 6,5-5,4 g/kg vật chất khô. Đối với bê 4-6 tháng tuổi: Ca: 8,9-7,1 g; P: 6,0-4,7 g; NaCl: 5,4-5,2 g/kg vật chất khô.
Nhu cầu về vitamin: Caroten: 26-37 mg; VTM D: 600-900 UI; VTM E: 30-50 mg/kg vật chất khô.
thức ăn cho bê nghé giai đoạn bú sữa (3-6 tháng)
Sữa nguyên: Lượng sữa được khống chế tuỳ đặc điểm của giống và hướng biến động từ 200 - 600 kg / con. Lượng sữa cho ăn ở tháng đầu chiếm 30 - 35% tổng lượng sữa, ở các tháng tiếp theo giảm dần đến khi cai sữa đạt mức thấp nhất (0,5 - 1kg / ngày).
Sữa thay thế: Được sử dụng nhằm tiết kiệm sữa nguyên, giảm giá thành nuôi bê. Thành phần và mức tiêu hoá của sữa thay thế tương tự sữa nguyên. Có thể sử dụng cho bê từ sau 10 - 15 ngày tuổi.
Cỏ tươi và cỏ khô: Là loại thức ăn kích thích sự phát triển của dạ cỏ, hoàn thiện hệ vi sinh vật, giảm tai biến về tiêu hoá. Cần tạp cho bê, nghé ăn từ 5 - 10 ngày tuổi. Cho ăn tự do không hạn chế số lượng. Đảm bảo lúc 3 tháng tuổi chúng có thể ăn 5-6 kg cỏ tươi/ngày, lúc cai sữa 12-15 kg/ngày. Định mức cỏ khô tăng dần đến 3 tháng tuổi đạt 1,3-1,4 kg và lúc 6 tháng tuổi đạt 3 kg/con.
Thức ăn củ quả: Bắt đầu sử dụng từ sau 25 - 30 ngày tuổi. Không nên cho ăn quá sớm và quá nhiều.
Thức ăn ủ xanh: Sử dụng cho bê, nghé từ sau 1 tháng tuổi. Thức ăn ủ xanh sử dụng cho bê, nghé cần phải có chất lượng cao.
Thức ăn tinh: Nên sử dụng dưới dạng hỗn hợp. Bắt đầu cho bê, nghé ăn từ sau 15 - 20 ngày tuổi. Lượng thức ăn tinh cho ăn phụ thuộc vào lượng sữa và các thức ăn thô, xanh bê, nghé ăn được. Lúc đầu cho ăn 100-150 g/ngày, sau đó tăng dần, đến 3 tháng tuổi đạt 1,2-1,6 kg.
Thức ăn bổ sung: Từ 11 ngày tuổi cần bổ sung thức ăn khoáng, vitamin dưới dạng hỗn hợp (premix) hoặc riêng rẽ.
nuôi bê nghé cái giai đoạn sau cai sữa
Vật chất khô: Bê, nghé 7-12 tháng tuổi cần 2,4-3 kg; 13-18 tháng tuổi: 2,1-2,5 kg/100 kg thể trọng.
Năng lượng: 0,7-0,9 ĐVTĂ/1 kg vật chất khô.
Protein: 7-9 tháng tuổi: 100 g; 10-15 tháng tuổi: 95 g và 16-26 tháng tuổi: 90 g protit tiêu hoá/ĐVTĂ.
Xơ: 7-12 tháng tuổi: 22%; 13-24 tháng tuổi: 24% vật chất khô.
Đường: 7-12 tháng tuổi: 6,5-9%; 13-24 tháng tuổi: 6,5-8,5% vật chất khô.
Mỡ: 3% vật chất khô.
Khoáng: 7-12 tháng tuổi: Ca: 7-6,6 g; P: 4,3-4 g và NaCl: 5,1-5 g/kg vật chất khô. 13-24 tháng tuổi: Ca: 6,9-6,8 g; P: 4,3-4 g và NaCl: 5,9-5,4 g/kg vật chất khô.
Vitamin: Caroten: 22-25 mg; VTM D: 400-500 UI; VTM E: 30-50 mg/kg vật chất khô.
Việc sử dụng rộng rãi các loại thức ăn thô và xanh trong khẩu phần giúp cho bộ máy tiêu hoá phát triển tạo điều kiện để đạt sức sản xuất cao.
Thức ăn chủ yếu là cỏ xanh. Nếu thức ăn thô, xanh có chất lượng thấp để đạt tăng trọng cao cần bổ sung 0,5 - 1 kg thức ăn tinh/con/ ngày.
Khi bê, nghé trên 12 tháng tuổi có thể bổ sung urê thay thế 20 - 25% nhu cầu về protein tiêu hoá.
Cần kiểm tra hàm lượng chất khoáng và vitamin trong khẩu phần.
Cần cung cấp đủ nước cho bê, nghé uống.
nuôi bê nghé đực giai đoạn sau cai sữa
Vật chất khô: 7-12 tháng tuổi: 2,2-2,8 kg; 13-18 tháng tuổi: 2,0-2,2 kg/100 kg thể trọng.
Năng lượng: 0,85-0,95 ĐVTĂ/kg vật chất khô.
Nhu cầu về protein, xơ, đường, mỡ, khoáng và vitamin tương tự như ở bê, nghé cái.
Khẩu phần ăn:
Cần cho ăn nhiều thức ăn tinh và ít thức ăn thô, xanh hơn so với bê, nghé cái.
Trong khẩu phần bê, nghé đực 7 - 16 tháng tuổi cần có 1,8 - 3,5 kg thức ăn tinh, còn lại là thức ăn thô xanh.
Bê, nghé đực > 6 tháng tuổi tách riêng khỏi bê, nghé cái.
Chăm sóc: Ngoài các khâu chăm sóc nhưng vệ sinh chuồng trại, vận động, tắm chải đối với bê, nghé ở giai đoạn này cần được định kỳ phun diệt ký sinh trùng ngoài da (7-10 ngày/lần) và tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm.
Đối với bê, nghé đực cần xoa luyện kích thích bao dịch hoàn.
Kỹ thuật nuôi trâu, bò sữa - chọn lọc
Australian Red
Kỹ thuật nuôi trâu, bò sữa - chọn lọc
Chọn lọc theo huyết thống: Căn cứ vào hệ phả để xem xét nguồn gốc và sức sản xuất của các đời trước. Chọn những cá thể có nguồn gốc rõ ràng, thành tích của các đời trước, đặc biệt là đời bố mẹ càng cao càng tốt.
Chọn lọc bản thân: Dựa vào 3 chỉ tiêu cơ bản:
Ngoại hình - thể chất: Chọn những cá thể có ngoại hình mang các nét đặc trưng của giống và hướng sản xuất (xem mục 4.3.1 chương II phần I). Khi chọn lọc cần đặc biệt chú ý sự phát triển của bầu vú. Chọn những con có bầu vú phát triển tốt, hình bát, có dung tích lớn, các thuỳ vú phát triển đều nhau, 4 núm vú to dài đều đặn, phân bố đều và rộng, tĩnh mạch vú nổi rõ, to, dài và gấp khúc, tổ chức tuyến phát triển (khi sờ vào thấy mềm mại).
Về thể chất chọn những cá thể thuộc loại hình thanh săn. Nên chọn những con có tính tình hiền lành, dễ gần người. Đối với bò cái đã vắt sữa thì chọn những con đã vắt sữa, sữa xuống nhanh và ít bị ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh.
Sinh trưởng - phát dục: Cần xác định khối lượng của bò ở các lứa tuổi và so sánh với tiêu chuẩn của giống. Những cá thể sinh trưởng - phát dục tốt sẽ có khả năng cho sữa cao. Chọn những cá thể có khối lượng trên trung bình, nhưng phải có ngoại hình hướng sữa.
Sức sản xuất sữa: Được đánh giá thông qua sản lượng và chất lượng sữa. Trước đây người ta thường đánh giá sức sản xuất sữa theo 3 chu kỳ đầu tiên. Nhưng hiện nay người ta áp dụng rộng rãi hình thức đánh giá qua chu kỳ tiết sữa thứ nhất. Để đánh giá sức sản xuất của trâu, bò người ta vắt sữa kiểm tra 3 lần/tháng và kiểm tra chất lượng sữa 1 tháng 1 lần. Đến cuối tháng thứ 6 có thể đánh giá và kết luận. Những cá thể tốt được chuyển vào đàn nái cơ bản, số còn lại được loại thải.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất sữa
Giống: Các giống khác nhau có khả năng cho sữa khác nhau. Các giống chuyên sữa có sức sản xuất sữa cao nhất, tiếp đến là các giống kiêm dụng sữa - thịt, thịt - sữa. Các giống chuyên thịt và cày kéo có sức sản xuất sữa thấp nhất. Chất lượng sữa diễn biến theo chiều hướng ngược lại.
Cá thể: Trong cùng một giống, thậm chí trong cùng một đàn các cá thể có sức sản xuất sữa khác nhau. Sức sản xuất sữa của mỗi cá thể được quyết định bởi yếu tố di truyền và điều kiện sống của bản thân.
Thời gian cho sữa: Chu kỳ tiết sữa càng dài thì sản lượng sữa trong một chu kỳ càng lớn. Nhưng nếu thời gian tiết sữa quá dài sẽ ảnh hưởng đến số chu kỳ cho sữa, nên sản lượng sữa cả đời sẽ giảm. Người ta thường khống chế chu kỳ tiết sữa khoảng 300-305 ngày.
Tuổi: Sản lượng sữa đạt cao nhất ở lứa thứ 3-4, ổn định 2-3 năm, sau đó giảm dần. Tuổi ít ảnh hưởng đến chất lượng sữa.
Tuổi đẻ lứa đầu: Tuổi đẻ lứa đầu quá sớm ảnh hưởng xấu tới sức sản xuất sữa do cơ thể mẹ chưa phát triển đầy đủ. Nếu tuổi đẻ lứa đầu quá muộn sẽ dẫn đến chu kỳ cho sữa giảm, nên sản lượng sữa cả đời giảm.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất sữa
Nhịp đẻ: Nhịp đẻ mau thì số chu kỳ cho sữa tăng nhưng sản lượng sữa từng chu kỳ giảm. Ngược lại, nhịp đẻ thưa thì thì sản lượng sữa từng chu kỳ có thể cao hơn, nhưng số chu kỳ cho sữa giảm. Đối với trâu, bò sữa, nhịp đẻ 1 năm/1 con là thích hợp.
Thời kỳ cạn sữa: Thời gian cạn sữa quá ngắn, tuyến vú không kịp phục hồi chức năng sẽ ảnh hưởng đến sản lượng sữa ở chu kỳ sau. Thời gian cạn sữa quá dài sẽ rút ngắn chu kỳ cho sữa, nên sản lượng sữa chu kỳ hiện tại giảm. Thời gian cạn sữa thích hợp là 45-60 ngày trước khi đẻ.
Thời gian động dục lại sau đẻ: Thời gian động dục lại sau đẻ khoảng 50-70 ngày sẽ cho sản lượng sữa cao nhất.
Quá trình chửa: Chửa lại sau đẻ quá sớm sẽ ảnh hưởng xấu đến sản lượng sữa.
Thời gian trong một chu kỳ tiết sữa: Năng suất sữa tăng dần đến tháng thứ ba, sau đó giảm dần. Chất lượng sữa biến đổi theo hướng ngược lại.
Tình trạng sức khoẻ, bệnh tật: Trâu, bò có sức khoẻ tốt, trạng thái sinh lý bình thường sẽ cho năng suất sữa cao. Bệnh tật, đặc biệt là bệnh ở tuyến vú và các cơ quan sinh dục ảnh hưởng xấu đến năng suất sữa.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sức sản xuất sữa

Thể trọng: Trong cùng một loại hình thì thường các cá thể có tầm vóc lớn, thể trọng cao sử dụng được nhiều thức ăn hơn nên có khả năng cho năng suất sữa cao hơn.
Dinh dưỡng: Là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất. Dinh dưỡng đầy đủ sẽ có ảnh hưởng tốt đến năng suất sữa và ngược lại. Loại hình thức ăn gây ảnh hưởng đến chất lượng sữa. Thức ăn thô, xanh có tác dụng làm tăng tỉ lệ mỡ trong sữa.
Chăm sóc, quản lý: Điều kiện chăm sóc, quản lý cũng ảnh hưởng đến sản lượng và chất lượng sữa.
Thời tiết, khí hậu: Khi thời tiết thay đổi đột ngột, sản lượng sữa và chất lượng sữa giảm. Sản lượng sữa và chất lượng sữa cũng thay đổi theo mùa vụ trong năm. Sản lượng sữa cao vào cuối xuân, mùa hè và đầu thu. Ngược lại, chất lượng sữa cao vào cuối thu, mùa đông và đầu xuân.
Phương pháp và kỹ thuật cho sữa: Phương pháp thích hợp và kỹ thuật vắt sữa đúng sẽ làm tăng năng suất và chất lượng sữa.
Thuốc dùng: Các loại thuốc kháng sinh dùng để chữa bệnh gây ảnh hưởng xấu đến năng suất và chất lượng sữa.
nhu cầu dinh dưỡng cho trâu, bò sữa trong thời kỳ vắt sữa
Nhu cầu về vật chất khô: 2,8-3,
No_avatar
-ảnh hưởng của việc cai sữa sớm cho ngé đến sự sinh trưởng của ngé sau này
No_avatar

bai giang chua có nhiều hình ảnh minh họa về bệnh trâu bò

 
Gửi ý kiến