kỹ thuật chung về ô tô

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Quang Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:56' 18-01-2013
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 428
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Quang Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:56' 18-01-2013
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 428
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ SỐ 20- BQP
Khoa:Công nghệ ô tô
Chương trình mo dun:kỹ thuật chung
Thực hiện:Nguyễn Quang Tuấn
Mô đun 16: KỸ THUẬT CHUNG VỀ Ô TÔ
Bài 1: Nhận dạng ô tô.
Bài 2: Nhận dạng hư hỏng và mài mòn của chi tiết.
Bài 3: Phương pháp sửa chữa và cộng nghệ phục hồi chi tiết bị mài mòn.
Bài 4: Làm sạch và kiểm tra chi tiết.
Bài 5: Nhận dạng chủng loại động cơ đốt trong.
Bài 6: Nhận dạng động cơ 4 kỳ.
Bài 7: Nhận dạng động cơ 2 kỳ.
Bài 8: Nhận dạng động cơ nhiều xy lanh.
Biên soạn: Nguyễn Đức Hạnh- Khoa Cơ khí Động lực- Trường CĐCN Việt Đức
Bài 1: Nhận dạng ô tô.
1.1- Khái niệm về ô tô.
Ô tô là một thiết bị di động dùng để chuyên chở người và hàng hoá và các mục đích khác.
1.2- Lịch sử và xu hướng phát triễn của ô tô.
- 1860 Lenoir (người pháp) sản xuất thành công ĐCĐT chạy bằng khí ga có hiệu suất nhiệt = 3%.
- 1867 Otto và Langen đã đem đến triển lãm Pari động cơ chạy bằng khí ga với hiệu suất nhiệt = 9%.
- 1876 Otto đã sản xuất thành công động cơ 4 kỳ cơ hiệu suất = 15 %. Cùng năm đó ông Cleck (người Anh) đã sản xuất động cơ 2 kỳ chạy bằng khí ga.
- 1883 Daimler và Maybach (Đức) đã sản xuất thành công động cơ 4 kỳ chạy bằng xăng có hệ thống đánh lửa.
- 1885 Dainler và Benz đã sản xuất ra môtô 2&3 bánh.
- 1886 Dainler đã sản xuất ra ô tô chạy bằng nhiên liệu xăng.
- 1889 Dunlop lần đầu tiên sản xuất ra lốp có không khí (trước đó dùng toàn là lốp đặc hoặc gỗ).
- 1893 Maybach sản xuất thành công bộ chế hòa khí và cùng năm đó ông Diesel ( Đức) đã chế tạo thành công động cơ Diesel.
- 1898 hãng Open bắt đầu hoạt động ở Đức.
- 1903 Hãng Ford được thành lập tại Mỹ.
- 1899 Hãng Fiat của ý bắt đầu sản xuất ô tô.
- 1916 đã sản xuất được máy bay.
- 1936 Hãng Daimler Benz bắt đầu sản xuất hàng loạt ô tô tải (Diesel).
- 1957 Động cơ Vanken ra đời.
1937 Hãng Toyota được thành lập bởi Toyoda.
1997 Hãng TOYOTA cho ra đời chiếc ô tô Hybrid đầu tiên.
Cho đến ngày nay thì ngành công nghệ ô tô ngày càng phát triển.
1.3- Phân loại ô tô.
1.3.1- Phân loại theo năng lượng chuyển động:
+ Xe sử dụng động cơ lai (Hybrid) .
Loại xe ô tô này được trang bị với những nguồn năng lượng chuyển động khác nhau, như động cơ xăng và mô tơ điện. Do động cơ xăng phát ra điện năng, loại xe ô tô này không cần nguồn bên ngoài để nạp điện cho ắc quy. Hệ thống dẫn động bánh xe dùng điện 270V, ngoài ra các thiết bị khác dùng điện 12V
+ Động cơ xăng. Loại xe ô tô này hoạt động bằng động cơ sử dụng nhiên liệu xăng
+ Động cơ Diesel. Loai xe ô tô này hoạt động sử dụng nhiên liệu diesel
+ Ô tô sử dụng năng lượng điện.
Loại xe ô tô này sử dụng nguồn điện ắc quy để vận hành mô tơ điện. Thay vì sử dụng nhiên liệu, ắc quy cần được nạp lại điện. Loại xe này mang lại nhiều lợi ích, như không gây ô nhiễm và phát ra tiếng ồn thấp khi hoạt động. Hệ thống dẫn động bánh xe dùng điện 290V, ngoài ra các thiết bị khác dùng điện 12 V.
+ Xe sử dụng động cơ lại loại tế bào nhiên liệu (FCHV)
Loại xe ô tô này sử dụng năng lượng điện tạo ra khi nhiên liệu hyđrô phản ứng với ô xy trong không khí sinh ra nước. Do đó chỉ thải ra nước, nó được coi là tốt nhất trong những loại xe có mức ô nhiễm thấp, và nó được tiên đoán sẽ trở thành nguồn năng lượng chuyển động cho thế hệ ô tô tiếp theo.
1.3.2- Phân loại theo phương pháp dẫn động có:
Xe có thể được phân loại theo vị trí của động cơ, bánh xe chủ động và số bánh xe chuyển động. Đối với xe con thì có 4 loại sau:
+ Động cơ đặt phía trước, cầu trước chủ động(FF)
+ Động cơ phía sau, cầu sau chủ động ( FR).
+ Động cơ đặt giữa, cầu sau chủ động (MR).
+ Động cơ đặt trước, 4 bánh chủ động ( 4WD).
1.3.3- Phân loại theo mục đích sử dụng.
Theo mục đích sử dụng ô tô được phân thành 3 nhóm: ô tô chở người, ô tô vận tải và ô tô chuyên dùng.
+ Ô tô chở người được phân làm 2 loại: ô tô con và ô tô chở khách:
Ô tô con, là loại dùng để chở người, thường có số chỗ ngồi từ 2 đến 8 và có thể chia các nhóm theo dung tích xy lanh: loại siêu nhỏ: dưới 1,2 lít; loại nhỏ: 1,3 – 1,8 lít; loại trung bình:1,9 – 3,5 lít; loại lớn: trên 3,5 lít.
Ô tô chở khách, là loại dùng để chở người, thường có số chỗ ngồi từ 12 trở lên. Ô tô chở khách cũng có thể chia thành các nhóm theo trọng lượng toàn bộ hay theo chiều dài xe.
+ Ô tô vận tải: là loại ô tô được sử dụng chuyên chở các loại hàng hoá. Ô tô tải thường được chia thành nhóm theo trọng lượng toàn bộ.
+ Ô tô chuyên dụng: được chế tạo để sử dụng vào một công việc xác định như ô tô cứu hoả, ô tô chở rác, ô tô cứu thương, ô tô chở bê tông ...
1.3.4- Phân loại theo trọng lượng toàn bộ.
Theo trọng lượng toàn bộ được phân thành các nhóm được ký hiệu bằng một chữ cái:
+ Ô tô chở người: ký hiệu M:
M1 : ô tô chở người có số chỗ ngồi không quá 8 và trọng lượng toàn bộ dưới 1 tấn.
M2: ô tô chở người có số chỗ ngồi lớn hơn 8 và trọng lượng toàn bộ dưới 5 tấn.
M3: ô tô chở người có trọng lượng toàn bộ từ 5 tấn trở lên.
+ Ô tô chở hàng: ký hiệu N:
N1: ô tô chở hàng có trọng lượng toàn bộ dưới 3,5 tấn.
N2: ô tô chở hàng có trọng lượng toàn bộ dưới 3,5 12 tấn.
N3: ô tô chở hàng có trọng lượng toàn bộ trên 12 tấn.
+ Rơ moóc và bán moóc: ký hiệu O:
O1: rơ moóc và bán moóc có trọng lượng toàn bộ dưới 0,75 tấn.
O2: rơ moóc và bán moóc có trọng lượng toàn bộ 0,75 3,5 tấn.
O3: rơ moóc và bán moóc có trọng lượng toàn bộ 3,5 10 tấn.
O4: rơ moóc và bán moóc có trọng lượng toàn bộ trên 10 tấn.
Ngoài ra các loại phương tiện khác cũng được phân loại và ký hiệu với chữ cái riêng, chẳng hạn: T- máy kéo nông lâm nghiệp, G – xe mọi địa hình, ...
1.4- Cấu tạo chung về ô tô
Xe ô tô gồm các bộ phận như sau:
Động cơ: Động cơ xăng hoặc động cơ Điêden hoặc động cơ điện, hoặc động cơ gas, hoặc kết hợp giữa động cơ xăng và điện (Hybrid), hoặc động cơ lai loại tế bào nhiên liệu (Hyđrô).
Hệ thống truyền lực: bộ ly hợp, hộp số, trục các đăng, cầu chủ động, bán trục, bánh xe.
Gầm xe: Hệ thống treo, hệ thống lái, hệ thống phanh.
Điện động cơ.
Điện thân xe.
Thân vỏ.
1.5- Cách bố trí chung trên ô tô.
Tuỳ theo cách bố trí động cơ đốt trong và hệ thống truyền lực trên ô tô mà người ta có thể phân biệt một số sơ đồ bố trí điển hình: cầu sau chủ động, động cơ đặt trước hoặc giữa xe; cầu sau chủ động, động cơ đặt trước; cầu sau chủ động, động cơ đặt sau; ô tô nhiều cầu chủ động.
1.5.1- Sơ đồ cầu sau chủ động, động cơ đặt trước hoặc giữa xe.
Đây là sơ đồ mang tính truyền thống và cho tới nay vẫn được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là trên các loại xe tải, xe khách và trên một số loại xe du
1.5.2- Sơ đồ cầu trước chủ động, động cơ đặt trước.
Sơ đồ này chỉ sử dụng trên các xe du lịch. Có 2 cách bố trí động cơ: đặt dọc theo xe hoặc đặt ngang. Việc bố trí động cơ ở phía trước kết hợp với cầu trước chủ động cho phép nâng cao tính ổn định và tính điều khiển của ô tô.
1.5.3- Sơ đồ cầu sau chủ động, động cơ đặt sau.
Với sơ đồ này, động cơ và toàn bộ HTTL được đặt ở phía sau xe nên rất thích hợp với các loại ô tô chở khách đường dài, bởi vì nó cho phép giảm được tối đa ảnh hưởng của độ ồn, rung và nhiệt của động cơ tới khoang hành khách.
1.5.4- Sơ đồ ô tô nhiều cầu chủ động.
Ô tô nhiều cầu chủ động thường được sử dụng trong những trường hợp sau:
Các loại ô tô cỡ lớn có nhiều cầu, các cầu sau thường được thiết kế chủ động để tận dụng khả năng bám, tăng lực kéo của xe.
Các loại ô tô cần có tính năng việt dã cao để có thể hoạt động trong các điều kiện đường xấu hoặc thậm trí không có đường (ô tô quân sự, vận tải lâm nghiệp, ...) được chế tạo với tất cả các cầu đều được chủ động.
Bài 2: Nhận dạng hư hỏng và mài mòn của chi tiết
2.1- Các dạng hư hỏng đặc trưng.
Trong quá trình sử dụng, các chi tiết sẽ dần dần thay đổi trạng thái do phải chịu tải trọng quá trình làm việc và ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết, điều kiện sử dụng. Những hư hỏng có thể được tích luỹ dần như mỏi, mài mòn, hoặc cũng có thể xảy ra tức thời như gãy, vỡ, ...
Những nguyên nhân gây nên hư hỏng có thể phân loại như sau:
- Tải trọng xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng gây nên ứng suất qúa cao trong các chi tiết ( quá tải) dẫn đến hiện tượng gẫy, vỡ.
- Tải tác động theo chu kỳ trong thời gian dài sẽ dẫn đến những hư hỏng do mỏi.
- Ma sát giữa các bề mặt làm việc chúng bị mòn dần đi.
- Chế độ nhiệt trong quá trình làm việc và điều kiện môi trường ( nhiệt độ, độ ẩm cao, các loại hoá chất, ...) làm han gỉ lão hoá các chi tiết.
Thông thường khả năng làm việc của các chi tiết phụ thuộc vào tất cả các yếu tố trên. Tuy nhiên các chi tiết không chịu cùng điều kiện giống nhau, do vậy đối với mỗi loại chi tiết có thể xác định những nguyên nhân chính gây hư hỏng. Chẳng hạn, các chi tiết thường xuyên chịu tải theo chu kỳ và đôi khi bị quá tải thường bị gẫy, vỡ hoặc biến dạng tại các tiết diện nguy hiểm và các rạn nứt tích luỹ do mỏi. Đó là những trường hợp của các bán trục, các bánh răng và một số chi tiết vỏ.
2.2- Khái niệm về các hình thức mài mòn:
Trong quá trình sử dụng các chi tiết máy đều bị hao mòn dần dẫn đến hư hỏng. Nếu sự hao mòn càng tăng thì tuổi thọ của ô tô máy kéo xe máy và máy công tác càng giảm. Nếu sự hao mòn vượt quá giới hạn cho phép sẽ dẫn đến tai nạn cho người và phương tiện.
Sự hao mòn này được tuân theo một qui luật nhất định theo thời gian sử dụng và là sự hao mòn không thể tránh khỏi. Các loại hao mòn bao gồm:
2.2.1- Hao mòn cơ học:
Đây là hao mòn giữa các cặp chi tiết lắp ghép có chuyển động tương đối với nhau. Tuỳ theo chế độ bôi trơn cho cặp lắp ghép đó mà có thể chia ma sát của các cặp lắp ghép thành 3 loại sau:
- Ma sát ướt: giữa hai bề mặt của hai chi tiết luôn được duy trì một vùng dầu ngăn cách.
- Ma sát nửa ướt: sự duy trì lớp dầu bôi trơn ngăn cách giữa hai bề mặt lắp ghép không được liên tục lúc có lúc không có dầu bôi trơn.
- Ma sát khô: giữa hai bề mặt lăp ghép không có màng dầu bôi trơn.
2.2.2- Hao mòn hoá học:
Là sự ăn mòn do các chất hoá học, các tạp chất ăn mòn ở môi trường chi tiết hoạt động qua các phản ứng hoá học.
2.2.3- Mòn, hỏng đột suất:
Nguyên nhân: do không tuân thủ đúng chế độ sử dụng và bảo dưỡng kĩ thuật, do quá trình lắp ráp sửa chữa và điều chỉnh không đúng kĩ thuật, do sử dụng và bảo quản không tốt
Dưới đây là dạng mài mòn của một số nhóm chi tiết điển hình trên ô tô như sau:
• Đối với các tấm ma sát của đĩa bị động ly hợp: là độ mòn theo chiều dầy của đĩa cho tới khi đầu các đinh tán bắt đầu trùng với bề mặt đĩa. Nếu các tấm ma sát được dán lên xương đĩa thì trạng thái giới hạn được xác định bằng độ mòn tới khi cơ cấu không còn khả năng điều chỉnh, hoặc các tấm ma sát không còn đủ độ bền.
Đối với các bánh răng: là hiện tượng gãy, vỡ răng hoặc các vết nứt, những hư hỏng như tróc, biến dạng bề mặt tiếp xúc của răng gây nên độ ồn quá mức khi làm việc.
• Đối với các khớp nối bằng răng: là độ mòn của các răng theo bề dầy và theo chiều dài dẫn tới việc tự ngắt khớp khi có tải.
• Đối với các ổ lăn: là độ mòn của các bề mặt làm việc trên ca bi, tróc rỗ bề mặt làm việc trên ca bi và của các viên bi; vết nứt trên ca bi, gãy các vòng cách.
• Đối với các trục: là biến dạng cục bộ, gãy, độ mòn quá mức tại vị trí lắp ổ bi.
• Đối với các chi tiết vỏ: là các vết nứt, vỡ.
2.3- Khái niệm về các giai đoạn mài mòn:
Quá trình mài mòn của các chi tiết lắp ghép có bề mặt chuyển động tương đối với nhau có 3 giai đoạn:
- Giai đoạn I: mòn khởi xuất - giai đoạn chạy rà trơn
- Giai đoạn II: mòn ổn định - giai đoạn đưa máy vào sử dụng
- Giai đoạn III: mòn phá huỷ - giai đoạn đưa máy vào sửa chữa
3.1. Khái niệm về bảo dưỡng, sửa chữa
3.1.1- Bảo dưỡng.
Bảo dưỡng là những công việc được tiến hành có kế hoạch và có hệ thống nhằm ngăn ngừa hư hỏng, đảm bảo duy trì trạng thái kỹ thuật tốt và kéo dài tuổi thọ của xe. Bảo dưỡng được tiến hành hàng ngày và định kỳ theo thời gian sử dụng hoặc số km xe chạy.
Bảo dưỡng bao gồm một loạt công việc bắt buộc, chủ yếu tập trung vào kiểm tra trạng thái kỹ thuật, tẩy rửa, bắt chặt, thay dầu mỡ, chẩn đoán trạng thái kỹ thuật và điều chỉnh các cụm máy. Bảo dưỡng được chia thành bảo dưỡng hàng ngày và hai cấp bảo dưỡng định kỳ là bảo dưỡng cấp 1 và bảo dưỡng cấp 2.
*) Đối với ô tô.
Bảo dưỡng hàng ngày được thực hiện hàng ngày chủ yếu bởi chính người lái xe. Bảo dưỡng định kỳ được thực hiện ở các gara hoặc xưởng sửa chữa xe và do thợ chuyên môn thực hiện. Chu kỳ và nội dung công việc cần thực hiện ở mỗi cấp bảo duỡng thường được nhà chế tạo quy định cụ thể trong các sổ tay hướng dẫn sử dụng, nhưng nói chung có thể thấy như trong bảng 1.1.
Bài 3: Phương pháp sửa chữa và công nghệ phục hồi chi tiết bị mài mòn
Nếu đường xá xấu, môi trường hoạt động bụi bẩn nhiều thì định mức thời gian nói trên giảm từ 15 – 30 %.
*) Đối với các máy công tác
- Bảo dưỡng hằng ngày: được tiến hành sau mỗi ca làm việc.
- Bảo dưỡng cấp 1: được tiến hành sau 60 giờ hoạt động.
- Bảo dưỡng cấp 2: được tiến hành sau 120 giờ hoạt động.
Bảng 1.1: Chu kỳ bảo dưỡng các loại xe trong điều kiện đường xá tốt.
a) Nội dung công việc bảo dưỡng hằng ngày:
- Lau rửa sạch sẽ toàn bộ xe máy
- Kiểm tra mức dầu bôi trơn ở các bộ phận, kiểm tra mức nước làm mát, kiểm tra nhiên liệu nếu cân thiết thì phải bổ xung đầy đủ, kiểm tra độ kín của các bộ phận.
- Kiểm tra và siết chặt các mối ghép ren quan trọng như bu lông và đai ốc bánh xe, các khớp chuyền động
- Cho máy hoạt động để phát hiện tiếng kêu lạ, theo dõi các đồng hồ trên bảnh táp lô, kiểm tra sự hoạt động của hệ thống chiếu sáng và tín hiệu.
b) Nội dung bảo dưỡng cấp 1:
- Bảo dưỡng các bầu lọc của hệ thống nhiên liệu, hệ thống bôi trơn, kiểm tra, bổ xung dầu mỡ như thay dầu động cơ và làm kín các đường ống dẫn.
- Kiểm tra và điều chỉnh đúng hoạt động của ly hợp và tay lái
- Kiêm tra dung dịch ac qui, kiểm tra máy khởi động
- Kiểm tra thời điểm đánh lửa và điều chỉnh đúng nếu cần thiết
c) Nội dung bảo dưỡng cấp 2:
Làm tất cả các công việc của bảo dưỡng hàng ngày và cấp 1, còn làm thêm:
- Bơm mỡ bôi trơn vào các vú mỡ
- Tháo và bảo dưỡng bơm thấp áp
- Kiểm tra và điều chỉnh van phun nhiên liệu
- Kiểm tra và điều chỉnh đúng thời điểm đấnh lửa
- Bảo dưỡng máy khởi động - máy phát điện - bộ chia điện
- Kiểm tra điện áp và điện dịch của ac qui
- Kiểm tra và điều chỉnh đúng độ căng các dây đai, siết chặt lại lắp máy.
- Kiểm tra và điều chinh đúng khe hở nhiệt xupap.
3.1.2- Sửa chữa.
Sửa chữa là công việc duy trì và phục hồi tính không hỏng và khả năng làm việc bình thường của xe. Có hai dạng sửa chữa là sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn.
Sửa chữa nhỏ là công việc khắc phục các hư hỏng cục bộ, ngẫu nhiên của các chi tiết trong các cụm máy, có thể tháo một bộ phận hoặc thay thế một số cụm, chi tiết mới hoặc chi tiết sửa chưa.
Sửa chữa lớn (Đại tu) được tiến hành theo định kỳ để phục hồi khả năng làm việc đầy đủ của tất cả các chi tiết, cụm bằng cách phục hồi hoặc thay thế tất cả các chi tiết mòn, hỏng bằng chi tiết mới hoặc chi tiết sửa chữa. Đặc trưng của sửa chữa lớn là tháo toàn bộ xe để sửa chữa, thay thế chi tiết, bộ phận rồi lắp lại như mới. Yêu cầu xe phải được phục hồi khả năng làm việc bằng ít nhất 80% so với xe mới. Sửa chữa lớn thường được thực hiện trong các xưởng sửa chữa có đầy đủ trang thiết bị phục vụ tháo, lắp, gia công cơ khí và kiểm tra.
Trong điều kiện sử dụng bình thường, xe có động cơ thường được sửa chữa lớn sau khi xe chạy được khoảng 150.000 – 250.000 km tuỳ thuộc loại xe và hãng xe khác nhau. Xe tải có chu kỳ sửa chữa lớn ngắn hơn xe du lịch.
Các bước của quá trình sửa chữa lớn trong xưởng sửa chữa ô tô như sau:
1. Tiếp nhận xe vào xưởng sửa chữa, rửa ngoài.
3. Tháo rời chi tiết từ các cụm.
2. Tháo các cụm ra khỏi xe.
4. Rửa và kiểm tra, phân loại chi tiết.
6.Lắp, điều chỉnh, chạy ra, thứ nghiệm các cụm.
5. Sửa chữa, phục hồi các chi tiết và cụm máy.
7. Lắp xe, thử xe, sơn xe và giao xe.
Ví dụ: Quy trình đại tu một động cơ của xe con như sau:
Quy trình các bước đại tu động cơ của xe du lịch
1- Tháo động cơ ra khỏi xe; 2- Tháo rời các chi tiết của động cơ; 3- Vệ sinh, kiểm tra, sửa chữa chi tiết hỏng; 4- Lắp ráp động cơ; 5- Lắp động cơ lên xe; 6- Kiểm tra lần cuối, thử xe và giao xe
1- Tháo động cơ ra khỏi xe.
- Tiến hành biện pháp ngăn không cho xăng hoặc dầu chảy ra ngoài bằng cách tháo giắc bơm xăng. Sau đó tháo các đường ống dẫn nhiên liệu
Tháo ăc quy.
-Tháo nước làm mát
Tháo ắc quy
Tháo nước làm mát
Hộp cầu chì
Hộp nối bảng tápnô
ECU
- Tháo các giắc nối và dây điện
- Tháo các đường ống
- Tháo các bộ phận của khoang động cơ
- Lắp kích động cơ và tháo động cơ cùng hộp số
- Tháo hộp số .
- Tháo ly hợp và bánh đà .
Lắp động cơ lên giá đại tu động cơ
- Tháo đường ống nạp, ống xả, máy phát điện , dây điện động cơ
2- Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
3- Rửa, vệ sinh các chi tiết của động cơ.
4- Kiểm tra, sửa chữa các chi tiết của động cơ.
Kiểm tra vết lứt trên nắp máy, thân máy và xy lanh.
Kiểm tra khe hở
- Kiểm tra khe hở giữa piston và xéc măng
- Đo kiểm tra trục cam
5- Lắp ráp các chi tiết của động cơ và lắp động cơ lên xe.
Quá trình lắp ráp các chi tiết ngược lại với quy trình tháo.
Chú ý: - Khí lắp thì toàn bộ gioăng đệm phải thay mới.
- Dấu và chiều của các chi tiết chuyển động.
6- Chạy rà, hiệu chỉnh, kiểm tra tổng thể, bàn giao xe
3.2- Khái niệm về các phương pháp sửa chữa và phục hồi chi tiết bị mài mòn.
- Phương pháp gia công theo kích thước sửa chữa.
Đây là phương pháp sửa chữa gia công theo chi tiết chuẩn sẵn có trước. Trong quá trình làm việc các chi tiết chuyển động tương đối với nhau sẽ bị mòn, đến một mức nào đó thì ta phải ti n hành sửa chữa các chi tiết mòn. Khi tiến hành sửa chữa thì có những chi tiết chúng ta phải thay thế, mà chi tiết đó đã được chế tạo sẵn theo một kích thước quy định, ta phải tiến hành sửa chi tiết khác theo chi tiết sẵn có.
Ví dụ : Khi chúng ta đại tu động cơ mà thay piston lên cos1 (mỗi cos tăng lên 0,25mm) thì chúng ta phải doa xy lanh theo kích thước của piston. Piston là chi tiết thay thế chế tạo sẵn có do nhà sản xuất cung cấp, ta phải sửa kích thước xy lanh theo kích thước của piston.
- Phương pháp tăng thêm chi tiết.
Khi một chi tiết hoặc cụm chi tiết nào đó bị hỏng mà ta cần tiến hành sửa chữ, trong quá trình sửa chữ mà ta phải chế tạo thêm các chi tiết phụ để nh ằm n âng cao tính an toàn chi chi tiết vừa sửa chữa thì đó gọi là phương pháp sửa tăng thêm chi tiết. Phương pháp này chủ yếu dùng cho các chi tiết chịu lực, chịu mô men. Khi sử dụng phương pháp này sẽ làm tăng lên kích thước của chi tiết, trên ô tô ít sử dụng phương pháp này.
Ví du: Khi một dầm đỡ của một mái nhà bị nứt gãy, mà việc thay thế dầm đó khó khăn thì người ta sửa chữa bằng cách chống thêm một chiếc dầm phụ để chịu lực cho dầm chính.
- Phương pháp điều chỉnh.
Sau một thời gian sử dụng các chi tiết bị mài mòn, khe hở láp ráp của các chi tiết tăng vượt quá giới hạn cho phép gây ra va đập, rung động trong quá trình làm việc dẫn tới làm hư hỏng nhanh các chi tiết vì vậy phải điều chỉnh lại các khe hở láp ráp đúng qui định. Phương pháp này không làm thay đổi hình dạng- kích thước của chi tiết mà phụ thuộc cấu tạo của chi tiết, phụ thuộc vào kết cấu mối ghép của các chi tiết có cho phép điều chỉnh được hay không.
Ví dụ: điều chỉnh khe hở nhiệt các xupap của một số động cơ sau quá trình làm việc bị mòn. Điều chỉnh đúng khe hở các ổ lăn đỡ bánh xe sau một thời gian làm việc bị mòn.
- Phương pháp thay đổi một phần chi tiết.
Khi thay một chi tiết hoặc cụm chi tiết có chức năng tương đương so với cụm chi tiết cũ. Khi sử dụng phương pháp này thì chi tiết hoặc cụm chi tiết thay thế phải có độ tin cậy cao hơn, gọn hơn thì chúng ta mới sử dụng phương pháp này.
Ví dụ: Hoán cải hệ thống đánh lửa thường (đánh lửa có tiếp điểm) của động cơ sang hệ thống đánh lửa bán dẫn (đánh lửa không tiếp điểm). Hệ thống đánh lửa bán dẫn làm việc có độ tin cậy cao hơn, ít hỏng hóc hơn.
- Phương pháp phục hồi.
Đây là phương pháp sửa chữa để phục hồi lại kích thước hình dáng ban đầu của chi tiết. Phương pháp này thường sử dụng các công nghệ như hàn đắp sau đó gia công lại theo kích thước cũ, mạ crôm sau đó mài lại theo kích thước cũ, phun kim loại …
Ví dụ: Piston thuỷ lực trong quá trình làm việc bị mòn, mu ốn kh ôi ph ục lại như kích thước ban đầu thì ta tiến hành mạ crom sau đó mài lại theo kích thước tiêu chu ẩn ban đầu.
3.3- Khái niệm về các công nghệ sửa chữa và phục hồi chi tiết bị mài mòn.
Công nghệ sửa chữa và phục hồi chi tiết bị mài mòn là các Công nghệ sửa chữa nhằm phục hồi lại hình dáng, kịch thước của chi tiết đúng như ban đầu, hoặc phục hồi lại theo kích thước sửa chữa qui chuẩn.
Ví dụ: phục hồi thay đổi kích thước ban đầu
Sau một quá trình làm việc lâu dài xy lanh và pitong của động cơ bị mòn vượt quá giới hạn cho phép để động cơ tiếp tục hoạt động ta chọn kích thước pitong có kích thước ( cos 1), tiếp đó doa mài xi lanh theo kích thước của pitong.
3.3.1- Công nghệ gia công cơ khí.
Nếu áp dụng phương pháp này các chi tiết được phục hồi trên các máy chuyên dùng hoặc các máy vạn năng.
VD: Doa xy lanh.
3.3.2- Công nghệ mạ phun kim loại.
Nấu chảy kim loại rồi dùng không khí nén thổi nước kim loại bám vào bề mặt kim loại bị mòn. Bề mặt được phun trước khi phun phải được tạo nhám và làm sạch để làm tăng độ bám của kim loại phun. Phương pháp này sử dụng để phục hồi chi tiết máy không được thay đổi kích thước ban đầu và độ bền của lớp kim loại được phun không cần cao so với hàn đắp và cũng chỉ sử dụng phục hồi các chi tiết có kết cấu đơn giản và kích thước lớn.
Phục hồi chi tiết máy bằng phương pháp này ta dùng dũa hoặc cạo hoặc mài nghiền để làm tăng độ chính xác cho các chi tiết hoặc làm độ chính xác cho các chi tiết lắp ghép.
Ví dụ: - Cạo rà để làm phẳng lắp máy.
- Mài nghiền để làm tăng độ kín cho xupap và đế xupap.
3.3.3- Công nghệ gia công nguội (dũa - mài - cạo rà).
3.3.4- Phương pháp thay mới chi tiết bộ phận máy.
Đây là phương pháp được áp dụng nhiều nhất đối với các nước có nền công nghiệp hiện đại. Đây là phương pháp đảm bảo năng suất và chất lượng nhất.
Ví dụ: - Khi đĩa phanh bị mòn đến tới hạn ghi trên đĩa thì thay đĩa mới.
3.3.5- Phương pháp vá táp, cấy chốt.
Phương pháp náy được áp dụng phục hồi các chi tiết như vở hộp số, vỏ cầu, thân động cơ bằng cách khoan chặn hai đầu vết nứt bằng mũi khoan 4 - 6 . Sau đó vá táp hoặc cấy chốt.
- Cấy chốt: dung mũi khoan 5 - 6 khoan liên tiếp theo vết nứt sau đó đóng chốt vào các lỗ khoan với vật liệu làm chốt phải mềm hơn vật liệu hộp máy.
- Vá táp: dùng tôn mỏng khoan các lỗ 5- 6 liên tiếp nhau theo vết nứt rồi dùng đệm kín và đinh tán liên kết kín tôn mỏng và hộp máy.
3.3.6- Phương pháp dán.
Trong tương lai phục hồi các chi tiét máy bị mòn, bị nứt bằng phương pháp dán sẽ được sử dụng nhiều. Nhưng khi sử dụng keo dán cần lưu tâm mấy điểm sau: pha chế keo dán đúng hướng dẫn của nhà sản xuất, nhiệt độ vùng dán không được cao quá.
3.3.7- Sửa chữa chi tiết máy bằng phương pháp hàn
Phương pháp này có độ chính xác không cao, có thể dùng các phương pháp hàn điện hoặc hàn hơi để hàn đắp rồi phục hồi lại hình dáng kích thước của chi tiết máy.
Ví dụ: hàn phục hồi hộp số bị nứt, thân máy bị nứt ở vị trí không quan trọng, hàn khung xe, vỏ xe bị nứt, bị hỏng.
3.3.8- Sửa chữa chi tiết bằng phương pháp mạ.
Sử dụng công nghệ mạ điện phân như mạ crôm, mạ Niken… để khôi phục lại các kích thước của chi tiết máy.
4. 1- Khái niệm về các phương pháp làm sạch chi tiết
4.1.1- Phương pháp làm sạch cặn nước.
Bài 4: Làm sạch và kiểm tra chi tiết.
Các cặn nước có chủ yếu trong hệ thống làm mát của động cơ. Nó được sinh ra trong quá trình làm việc của động cơ, nước làm mát được làm nóng, do trong nước làm mát không được nguyên chất (nhất là các động cơ làm mát bằng nước thường), có nhiều tạp chất, các ion kim loại như Fe, Ca, Mg, Na…, khi gặp điều kiện nhiệt độ cao nó kết tủa, phản ứng với nhau đóng cặn trên các thành bình, làm giảm chức năng tản nhiệt của hệ thống.
Để đảm bảo tẩy rửa sạch các cặn nước, người ta dùng phương pháp tẩy rửa bằng nước rửa hoá chất kết hợp tạo dòng nước mạnh lưu thông trong hệ thống. Có rất nhiều loại nước rửa hoá chất có thể dùng như:
- Dung dịch 100 g Na2CO3 gậm nước + 2 g K2Cr2O7 + 1 lít nước.
- Dung dịch 2,5% HCl + 97,5 % nước.
- Dung dịch 100 g H3PO4 + 50 g CrO3 + 1 lít nước.
- Dung dịch axits lactic 60 g/lít …
4.1.2- Phương pháp làm sạch cặn dầu.
Các cặn dầu được sinh ra trong hệ thống đường dầu bôi trơn của động cơ. Các cặn bẩn này được tạo thành do nước, muội than, bụi bẩn, mạt kim loại bong tách từ các bề mặt ma sát và dầu phân huỷ trong quá trình làm việc trộn lẫm với nhau. Vì vậy, chúng ta phải thường xuyên thông rửa hệ thống bôi trơn. Khi các đường dầu bị tắc, dù là một phần thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc cấp dầu bôi trơn cho các bề mặt ma sát. Do vậy, khi động cơ được tháo ra để sửa chữa cần phải thông rửa hệ thống đường dầu này.
Để tẩy rửa các cặt dầu thì ta có thể dùng dầu Diesel hoặc dầu hoả hoặc dung dịch tẩy rửa chuyên dùng sau đó dùng khí nén để thổi thông.
Ví dụ: để thông rửa các đường dầu trong động cơ, trước tiên cần tháo tất cả các vít nút (nút công nghệ) các lỗ khoan đường dầu trên thân máy và các chi tiết, sau đó dùng sợi vải quấn lên dây thép thấm dầu hoả sạch để để thông rửa tất cả các đường dầu trên thân máy, nắp máy, trục khuỷu, thanh truyền … Sau đó dùng khí nén thổi thông.
4.1.3-- Phương pháp làm sạch muội than.
Muội than chủ yếu được sinh ra trong buồng cháy của động cơ. Muội than được sinh ra do quá trình cháy không hoàn toàn của nhiên liệu. Để làm sạch các muội than ta dùng dao cạo, chổi sắt hay đá mài (hình 13 ).
Ví dụ: Làm sạch muội than trên xupáp bằng cách gắn xupáp lên máy khoan bàn (hình 14), dùng dao cạo hay giấy giáp đánh sạch muội than khi cho máy khoan chạy.
4.2- Khái niệm về các phương pháp kiểm tra chi tiết:
4.2.1- Kiểm tra bằng trực giác.
Quan sát xem có bất kỳ điều gì bất thường hay hư hỏng trên các chi tiết không. Nếu thấy có điều gì bất thường khi quan sát, cũng nên kiểm tra xem có gì bất thường trên các chi tiết liên quan không. Hãy thay thế nếu thấy cần thiết. Kiểm tra bằng quan sát sau khi đã vệ sinh sạch chi tiết, bao gồm những điểm sau.
- Hãy đánh giá mức độ vùng hư hỏng.
- Kiểm tra biến dạng nứt hay hư hỏng.
- Kiểm tra mòn nhiều.
- Kiểm tra khu vực kim loại xem có bị biến màu hay cháy không.
- Kiểm tra bằng phương pháp đo.
4.2.2- Kiểm tra bằng phương pháp đo.
Dùng các dụng cụ đo như thước cặp, pan me, đồng hồ xo. thước kiểm phẳng … để đo xác định kích thước các chi tiết
4.2.3- Kiểm tra bằng các phương pháp khác.
Kiểm tra bằng chất thấm màu.
Phương pháp kiểm tra này ứng dụng hiện tượng mao dẫn của chất lỏng để phát hiện vết nứt trên bất kỳ bề mặt nào. Trong phương pháp kiểm tra này, những loại chất lỏng sau đây được sử dụng: chất thấm (ĐỎ), dung dịch rửa (XANH) và thử (TRẮNG)
Bài 5: Nhận dạng chủng loại động cơ đốt trong.
5.1- Khái niệm về động cơ đốt trong.
Động cơ đốt trong là một loại động cơ nhiệt có nhiệm vụ biến nhiệt năng do đốt cháy nhiên liệu sang cơ năng đều được tiến hành ngay trong bản thân động cơ.
Động cơ đốt trong gồm có: động cơ kiểu Piston, tuốc bin khí, động cơ rô to, động cơ phản lực. ĐCĐT có hiệu suất có ích cao, đối với động cơ Diesel hiện đại (H = 40-50%), Tuốc bin hơi khoảng 22-28%, động cơ hơi nước không quá 16%, tốc bin khí = 30%.
5.2- Phân loại động cơ đốt trong
ĐCĐT có rất nhiều loại tùy theo đặc điểm chung người ta phân loại như sau:
Phân theo nhiên liệu sử dụng có: động cơ xăng, động cơ Diesel, động cơ khí gas.
Phân loại theo cách đốt cháy hỗn hợp khí có: động cơ cháy cưỡng bức (đ/c xăng, ga), động cơ có hỗn hợp tự bốc cháy (đ/c Diesel).
Phân loại theo phương pháp đưa khí nạp vào xy lanh có: động cơ tăng áp (Turbo), động cơ không tăng áp.
Phân loại theo phương pháp tạo thành hỗn hợp khí có: hỗn hợp khí được tạo thành bên ngoài (đ/c có bộ chế hòa khí), hỗn hợp khí tạo thành bên trong xylanh (đ/c Diesel).
Phân loại theo số xylanh có: động cơ 1 xylanh, 2 xylanh, 3 xylanh, 4 xy lanh…
Phân loại theo chu trình công tác: động cơ 1 kỳ (đ/c tên lửa), đ/c 2 kỳ, đ/c 4 kỳ.
Phân loại theo cách bố trí xy lanh có: đ/c có xylanh bố trí 1 hành dọc, đ/c chữ V, hình sao…
5.3- Cấu tạo chung của động cơ đốt trong.
Các chi tiết cố định
Các chi tết chuyển động.
Cơ cấu phân phối khí.
Hệ thống cung cấp nhiên liệu.
Hệ thống bôi trơn.
Hệ thống đánh lửa.
Ngoài ra trên động cơ còn có hệ thống khởi động.
5.4- Các thuật ngữ cơ bản của động cơ
- Điểm chết.
Là vị trí mà khi Piston ở các vị trí đó dù ta tác dụng một lực nào lên Piston cũng không làm cho trục khuỷu của động cơ quay, tức là không sinh ra một mô men quay. Có 2 vị trí điểm chết:
+ Điểm chết trên ( ĐCT).
+ Điểm chết dưới ( ĐCD).
- Hành trình pít tông. S
Là khoảng cách giữa hai điểm chết.
- Thể tích buồng cháy. Vc
Là thể tích bé nhất của xy lanh khi piston ở điểm trết trên.
- Thể tích làm việc của xi lanh. Vh
là hiệu số giữa thể tích lớn nhất của xylanh và thể tích buồng nén.
Vh = Vmax - Vc
Với động cơ 1 xylanh thì
trong đó: D - đường kính của xylanh.
S – hành trình của Piston.
- Thể tích toàn phần. Vmax
Vmax = Vh + Vc
Thể tích làm việc của động cơ:
( i là số xy lanh của động cơ)
- Kỳ
Là một phần của chu trình công tác xảy ra giữa 2 vị trí của cơ cấu trục khủy - thanh truyền có thể tích xylanh lớn nhất và nhỏ nhất, tức là trong một hành trình của Piston.
- Chu trình công tác của động cơ: Là tổng cộng tất cả những phần của quá trình sảy ra trong thời gian của một giai đoạn (thời kỳ) trong một xylanh của động cơ. Khái niệm về chu trình công tác là nói nên sự thay đổi môi chất công tác trong xylanh.
5.5- Các thông số kỹ thuật cơ bản của động cơ
- Tỷ số nén
Là tỷ số giữa thể tích lớn nhất của xylanh chia cho thể tích buồng nén.
động cơ xăng = 6 12
động cơ diesel = 14 22
Công suất chỉ thị.
Nếu thể tích của các xy lanh là như nhau thì:
, (W) với p (Pa), Vh (m3), n(vòng/giây)
Nếu pi : áp suất chỉ thị trung bình tính bằng Mpa ( MN/m2)
Vh : thể tích làm việc của xy lanh tính bằng lít (l).
n: tính bằng số vòng quay (v/phút).
Ni tính bằng KW.
Thì , KW
- Công suất thực tế (Ne).
Công suất có ích của động cơ được phát ra ở đuôi trục khuỷu để từ đó truyền năng lượng tới máy công tác, công Ne bao giời cũng nhỏ hơn Ni bởi vì khi động cơ làm việc thì sẽ có một phần công tiêu hao do ma sát giữa các bề mặt chi tiết, công dẫn động bơm nước, bơm dầu, trục cam …
Ne = Ni - Nm (KW)
Với Nm- công suất tổn hao cơ giới dùng để khắc phục mọi lực cản trong nội bộ động cơ khi động cơ hoạt động.
Tỷ số giữa Ne và Ni gọi là hiệu suất cơ giới m
Hiện nay động cơ đốt trong có m = 0,63 0,93
Nếu gọi pe là áp suất có ích trung bình thì pe và pi có mối quan hệ sau:
pe = pi. m
Vậy ta có :
; KW
- Công suất tiêu hao (Nm).
Công suất tiêu hao do ma sát giữa các bề mặt chi tiết, công dẫn động bơm nước, bơm dầu, trục cam … , Công suất tiêu hao được tính như sau :
Nm = Ni - Ne (KW)
- Mức tiêu thụ nhiên liệu.
Mức tiêu thụ nhiên liệu của xe ô tô - máy kéo được tính theo km hoặc giờ làm việc.
+ Đối với ô tô thì mức tiêu thụ nhiên liệu đươc tính theo lít/100km.
+ Đối với máy kéo hoặc máy công trình thì được tính theo lít/giờ.
5. 6-Nhận dạng các loại động cơ và nhận dạng các cơ cấu, hệ thống trên động cơ.
- Nhận dạng các loại động cơ.
*) Động cơ hơi nước (Động cơ đốt ngoài).
*) Động cơ đốt trong:
- Động cơ 2 kỳ:
- Động cơ 4 kỳ:
- Động cơ nhiều xy lanh:
+ nhiều xy lanh thẳng hàng.
+ nhiều xy lanh chữ V.
+ động cơ đối đỉnh.
+ Động cơ box sơ.
- Các loại động cơ khác:
+ Động cơ Van ken.
+ Động cơ phản lực.
+ Động cơ Tuốc bin khí.
- Nhận dạng các cơ cấu, hệ thống trên động cơ : (hình lắp ráp động cơ f ord).
6.1- Khái niệm về động cơ bốn kỳ
Động cơ 4 kỳ là loại động cơ thực hiện xong một chu trình công tác sau 4 hành trình của piston hay hai vòng quay của trục khuỷu.
Bài 6: Nhận dạng động cơ 4 kỳ .
6.2-Động cơ xăng bốn kỳ
6.2.1- Sơ đồ cấu tạo
(hình 1.4)
1- Piston
2- xuáp nạp;
3- bu gi;
4- xupáp xả
5- Buồng cháy.
6- Thanh truyền.
7- Trục khuỷu.
6.2.2- Nguyên lý hoạt động
Đối với động cơ 4 kỳ thì phải thực hiện 4 hành trình của piston mới hoàn thành 1 chu trình công tác.
- Kỳ thứ nhất: là kỳ nạp
P = 0,7- 0,9 at
T= 75 1250C.
- Kỳ thứ 2 – kỳ nén (hình 1.2)
Cuối kỳ
P = 10 12 at
T= 350 500 0C
Kỳ thứ 3- kỳ cháy (hình 1.3).
Khi bốc cháy thì:
P = 30 40 at
T= 2100 2500 0C
Ở cuối kỳ cháy :
P = 3 5 at
T = 1000 12000C.
- Kỳ thứ 4 – kỳ xả (hình 1.4).
Ở cuối kỳ xả :
P = 1,1 1,2 at
T = 700 8000C.
Quá trình làm việc của động cơ xăng 4 kỳ được lập đi lập lại trong xylanh theo đúng trình tự trên, chỉ có kỳ cháy giãn nở là kỳ sinh công còn kỳ nạp, nén là kỳ chuẩn bị, còn kỳ xả là kỳ kết thúc.
6.2.3- Pha phân phối khí và đồ thị công của động cơ Xăng 4 kỳ.
6.3- Động cơ diesel 4 kỳ.
6.3.1- Sơ đồ cấu tạo:
1- xuáp nạp.
2- xupáp xả.
3- Vòi phun.
4- Piston .
5- Buồng cháy.
6- Thanh truyền.
7- Trục khuỷu.
6.3.2- Nguyên lý hoạt động.
- Kỳ thứ nhất: là kỳ nạp
P = 0,75 0,85 at
T= 90 1250C.
-Kỳ 2- Nén (hình 1.7):
Cuối kỳ
P = 30 40 at
T= 600 700 0C
- Kỳ 3 – Cháy (hình 1.8):
Khi bốc cháy thì:
P = 50 65 at
T= 1800 2000 0C
ở cuối kỳ nén, nhiên liệu diesel được phun vào xylanh với áp suất 150 200 at.
-Kỳ 4- Xả (hình 1.9):
Ở cuối kỳ xả :
P = 1,1 1,2 at
T = 300 400 0C.
Sau khi kết thúc hành trình xả, tức là động cơ đã hoàn thành xong một chu trình công tác và một chu trình công tác mới lại bắt đầu lập lại.
6.3.3- Pha phân phối khí và đồ thị công của động cơ Diesel 4 kỳ.
6.4- So sánh ưu nhược điểm giữa động cơ diesel và động cơ xăng.
Động cơ Xăng và động cơ Diesel là hai loại động cơ mà ngày nay được sử dụng rộng rãi nhất. Mỗi loại đều có ưu, nhược điểm riêng.
Động cơ Diesel có ưu điểm là có thể tạo ra công suất lớn, tiết kiệm nhiên liệu, ít gây ô nhiễm
Khoa:Công nghệ ô tô
Chương trình mo dun:kỹ thuật chung
Thực hiện:Nguyễn Quang Tuấn
Mô đun 16: KỸ THUẬT CHUNG VỀ Ô TÔ
Bài 1: Nhận dạng ô tô.
Bài 2: Nhận dạng hư hỏng và mài mòn của chi tiết.
Bài 3: Phương pháp sửa chữa và cộng nghệ phục hồi chi tiết bị mài mòn.
Bài 4: Làm sạch và kiểm tra chi tiết.
Bài 5: Nhận dạng chủng loại động cơ đốt trong.
Bài 6: Nhận dạng động cơ 4 kỳ.
Bài 7: Nhận dạng động cơ 2 kỳ.
Bài 8: Nhận dạng động cơ nhiều xy lanh.
Biên soạn: Nguyễn Đức Hạnh- Khoa Cơ khí Động lực- Trường CĐCN Việt Đức
Bài 1: Nhận dạng ô tô.
1.1- Khái niệm về ô tô.
Ô tô là một thiết bị di động dùng để chuyên chở người và hàng hoá và các mục đích khác.
1.2- Lịch sử và xu hướng phát triễn của ô tô.
- 1860 Lenoir (người pháp) sản xuất thành công ĐCĐT chạy bằng khí ga có hiệu suất nhiệt = 3%.
- 1867 Otto và Langen đã đem đến triển lãm Pari động cơ chạy bằng khí ga với hiệu suất nhiệt = 9%.
- 1876 Otto đã sản xuất thành công động cơ 4 kỳ cơ hiệu suất = 15 %. Cùng năm đó ông Cleck (người Anh) đã sản xuất động cơ 2 kỳ chạy bằng khí ga.
- 1883 Daimler và Maybach (Đức) đã sản xuất thành công động cơ 4 kỳ chạy bằng xăng có hệ thống đánh lửa.
- 1885 Dainler và Benz đã sản xuất ra môtô 2&3 bánh.
- 1886 Dainler đã sản xuất ra ô tô chạy bằng nhiên liệu xăng.
- 1889 Dunlop lần đầu tiên sản xuất ra lốp có không khí (trước đó dùng toàn là lốp đặc hoặc gỗ).
- 1893 Maybach sản xuất thành công bộ chế hòa khí và cùng năm đó ông Diesel ( Đức) đã chế tạo thành công động cơ Diesel.
- 1898 hãng Open bắt đầu hoạt động ở Đức.
- 1903 Hãng Ford được thành lập tại Mỹ.
- 1899 Hãng Fiat của ý bắt đầu sản xuất ô tô.
- 1916 đã sản xuất được máy bay.
- 1936 Hãng Daimler Benz bắt đầu sản xuất hàng loạt ô tô tải (Diesel).
- 1957 Động cơ Vanken ra đời.
1937 Hãng Toyota được thành lập bởi Toyoda.
1997 Hãng TOYOTA cho ra đời chiếc ô tô Hybrid đầu tiên.
Cho đến ngày nay thì ngành công nghệ ô tô ngày càng phát triển.
1.3- Phân loại ô tô.
1.3.1- Phân loại theo năng lượng chuyển động:
+ Xe sử dụng động cơ lai (Hybrid) .
Loại xe ô tô này được trang bị với những nguồn năng lượng chuyển động khác nhau, như động cơ xăng và mô tơ điện. Do động cơ xăng phát ra điện năng, loại xe ô tô này không cần nguồn bên ngoài để nạp điện cho ắc quy. Hệ thống dẫn động bánh xe dùng điện 270V, ngoài ra các thiết bị khác dùng điện 12V
+ Động cơ xăng. Loại xe ô tô này hoạt động bằng động cơ sử dụng nhiên liệu xăng
+ Động cơ Diesel. Loai xe ô tô này hoạt động sử dụng nhiên liệu diesel
+ Ô tô sử dụng năng lượng điện.
Loại xe ô tô này sử dụng nguồn điện ắc quy để vận hành mô tơ điện. Thay vì sử dụng nhiên liệu, ắc quy cần được nạp lại điện. Loại xe này mang lại nhiều lợi ích, như không gây ô nhiễm và phát ra tiếng ồn thấp khi hoạt động. Hệ thống dẫn động bánh xe dùng điện 290V, ngoài ra các thiết bị khác dùng điện 12 V.
+ Xe sử dụng động cơ lại loại tế bào nhiên liệu (FCHV)
Loại xe ô tô này sử dụng năng lượng điện tạo ra khi nhiên liệu hyđrô phản ứng với ô xy trong không khí sinh ra nước. Do đó chỉ thải ra nước, nó được coi là tốt nhất trong những loại xe có mức ô nhiễm thấp, và nó được tiên đoán sẽ trở thành nguồn năng lượng chuyển động cho thế hệ ô tô tiếp theo.
1.3.2- Phân loại theo phương pháp dẫn động có:
Xe có thể được phân loại theo vị trí của động cơ, bánh xe chủ động và số bánh xe chuyển động. Đối với xe con thì có 4 loại sau:
+ Động cơ đặt phía trước, cầu trước chủ động(FF)
+ Động cơ phía sau, cầu sau chủ động ( FR).
+ Động cơ đặt giữa, cầu sau chủ động (MR).
+ Động cơ đặt trước, 4 bánh chủ động ( 4WD).
1.3.3- Phân loại theo mục đích sử dụng.
Theo mục đích sử dụng ô tô được phân thành 3 nhóm: ô tô chở người, ô tô vận tải và ô tô chuyên dùng.
+ Ô tô chở người được phân làm 2 loại: ô tô con và ô tô chở khách:
Ô tô con, là loại dùng để chở người, thường có số chỗ ngồi từ 2 đến 8 và có thể chia các nhóm theo dung tích xy lanh: loại siêu nhỏ: dưới 1,2 lít; loại nhỏ: 1,3 – 1,8 lít; loại trung bình:1,9 – 3,5 lít; loại lớn: trên 3,5 lít.
Ô tô chở khách, là loại dùng để chở người, thường có số chỗ ngồi từ 12 trở lên. Ô tô chở khách cũng có thể chia thành các nhóm theo trọng lượng toàn bộ hay theo chiều dài xe.
+ Ô tô vận tải: là loại ô tô được sử dụng chuyên chở các loại hàng hoá. Ô tô tải thường được chia thành nhóm theo trọng lượng toàn bộ.
+ Ô tô chuyên dụng: được chế tạo để sử dụng vào một công việc xác định như ô tô cứu hoả, ô tô chở rác, ô tô cứu thương, ô tô chở bê tông ...
1.3.4- Phân loại theo trọng lượng toàn bộ.
Theo trọng lượng toàn bộ được phân thành các nhóm được ký hiệu bằng một chữ cái:
+ Ô tô chở người: ký hiệu M:
M1 : ô tô chở người có số chỗ ngồi không quá 8 và trọng lượng toàn bộ dưới 1 tấn.
M2: ô tô chở người có số chỗ ngồi lớn hơn 8 và trọng lượng toàn bộ dưới 5 tấn.
M3: ô tô chở người có trọng lượng toàn bộ từ 5 tấn trở lên.
+ Ô tô chở hàng: ký hiệu N:
N1: ô tô chở hàng có trọng lượng toàn bộ dưới 3,5 tấn.
N2: ô tô chở hàng có trọng lượng toàn bộ dưới 3,5 12 tấn.
N3: ô tô chở hàng có trọng lượng toàn bộ trên 12 tấn.
+ Rơ moóc và bán moóc: ký hiệu O:
O1: rơ moóc và bán moóc có trọng lượng toàn bộ dưới 0,75 tấn.
O2: rơ moóc và bán moóc có trọng lượng toàn bộ 0,75 3,5 tấn.
O3: rơ moóc và bán moóc có trọng lượng toàn bộ 3,5 10 tấn.
O4: rơ moóc và bán moóc có trọng lượng toàn bộ trên 10 tấn.
Ngoài ra các loại phương tiện khác cũng được phân loại và ký hiệu với chữ cái riêng, chẳng hạn: T- máy kéo nông lâm nghiệp, G – xe mọi địa hình, ...
1.4- Cấu tạo chung về ô tô
Xe ô tô gồm các bộ phận như sau:
Động cơ: Động cơ xăng hoặc động cơ Điêden hoặc động cơ điện, hoặc động cơ gas, hoặc kết hợp giữa động cơ xăng và điện (Hybrid), hoặc động cơ lai loại tế bào nhiên liệu (Hyđrô).
Hệ thống truyền lực: bộ ly hợp, hộp số, trục các đăng, cầu chủ động, bán trục, bánh xe.
Gầm xe: Hệ thống treo, hệ thống lái, hệ thống phanh.
Điện động cơ.
Điện thân xe.
Thân vỏ.
1.5- Cách bố trí chung trên ô tô.
Tuỳ theo cách bố trí động cơ đốt trong và hệ thống truyền lực trên ô tô mà người ta có thể phân biệt một số sơ đồ bố trí điển hình: cầu sau chủ động, động cơ đặt trước hoặc giữa xe; cầu sau chủ động, động cơ đặt trước; cầu sau chủ động, động cơ đặt sau; ô tô nhiều cầu chủ động.
1.5.1- Sơ đồ cầu sau chủ động, động cơ đặt trước hoặc giữa xe.
Đây là sơ đồ mang tính truyền thống và cho tới nay vẫn được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là trên các loại xe tải, xe khách và trên một số loại xe du
1.5.2- Sơ đồ cầu trước chủ động, động cơ đặt trước.
Sơ đồ này chỉ sử dụng trên các xe du lịch. Có 2 cách bố trí động cơ: đặt dọc theo xe hoặc đặt ngang. Việc bố trí động cơ ở phía trước kết hợp với cầu trước chủ động cho phép nâng cao tính ổn định và tính điều khiển của ô tô.
1.5.3- Sơ đồ cầu sau chủ động, động cơ đặt sau.
Với sơ đồ này, động cơ và toàn bộ HTTL được đặt ở phía sau xe nên rất thích hợp với các loại ô tô chở khách đường dài, bởi vì nó cho phép giảm được tối đa ảnh hưởng của độ ồn, rung và nhiệt của động cơ tới khoang hành khách.
1.5.4- Sơ đồ ô tô nhiều cầu chủ động.
Ô tô nhiều cầu chủ động thường được sử dụng trong những trường hợp sau:
Các loại ô tô cỡ lớn có nhiều cầu, các cầu sau thường được thiết kế chủ động để tận dụng khả năng bám, tăng lực kéo của xe.
Các loại ô tô cần có tính năng việt dã cao để có thể hoạt động trong các điều kiện đường xấu hoặc thậm trí không có đường (ô tô quân sự, vận tải lâm nghiệp, ...) được chế tạo với tất cả các cầu đều được chủ động.
Bài 2: Nhận dạng hư hỏng và mài mòn của chi tiết
2.1- Các dạng hư hỏng đặc trưng.
Trong quá trình sử dụng, các chi tiết sẽ dần dần thay đổi trạng thái do phải chịu tải trọng quá trình làm việc và ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết, điều kiện sử dụng. Những hư hỏng có thể được tích luỹ dần như mỏi, mài mòn, hoặc cũng có thể xảy ra tức thời như gãy, vỡ, ...
Những nguyên nhân gây nên hư hỏng có thể phân loại như sau:
- Tải trọng xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng gây nên ứng suất qúa cao trong các chi tiết ( quá tải) dẫn đến hiện tượng gẫy, vỡ.
- Tải tác động theo chu kỳ trong thời gian dài sẽ dẫn đến những hư hỏng do mỏi.
- Ma sát giữa các bề mặt làm việc chúng bị mòn dần đi.
- Chế độ nhiệt trong quá trình làm việc và điều kiện môi trường ( nhiệt độ, độ ẩm cao, các loại hoá chất, ...) làm han gỉ lão hoá các chi tiết.
Thông thường khả năng làm việc của các chi tiết phụ thuộc vào tất cả các yếu tố trên. Tuy nhiên các chi tiết không chịu cùng điều kiện giống nhau, do vậy đối với mỗi loại chi tiết có thể xác định những nguyên nhân chính gây hư hỏng. Chẳng hạn, các chi tiết thường xuyên chịu tải theo chu kỳ và đôi khi bị quá tải thường bị gẫy, vỡ hoặc biến dạng tại các tiết diện nguy hiểm và các rạn nứt tích luỹ do mỏi. Đó là những trường hợp của các bán trục, các bánh răng và một số chi tiết vỏ.
2.2- Khái niệm về các hình thức mài mòn:
Trong quá trình sử dụng các chi tiết máy đều bị hao mòn dần dẫn đến hư hỏng. Nếu sự hao mòn càng tăng thì tuổi thọ của ô tô máy kéo xe máy và máy công tác càng giảm. Nếu sự hao mòn vượt quá giới hạn cho phép sẽ dẫn đến tai nạn cho người và phương tiện.
Sự hao mòn này được tuân theo một qui luật nhất định theo thời gian sử dụng và là sự hao mòn không thể tránh khỏi. Các loại hao mòn bao gồm:
2.2.1- Hao mòn cơ học:
Đây là hao mòn giữa các cặp chi tiết lắp ghép có chuyển động tương đối với nhau. Tuỳ theo chế độ bôi trơn cho cặp lắp ghép đó mà có thể chia ma sát của các cặp lắp ghép thành 3 loại sau:
- Ma sát ướt: giữa hai bề mặt của hai chi tiết luôn được duy trì một vùng dầu ngăn cách.
- Ma sát nửa ướt: sự duy trì lớp dầu bôi trơn ngăn cách giữa hai bề mặt lắp ghép không được liên tục lúc có lúc không có dầu bôi trơn.
- Ma sát khô: giữa hai bề mặt lăp ghép không có màng dầu bôi trơn.
2.2.2- Hao mòn hoá học:
Là sự ăn mòn do các chất hoá học, các tạp chất ăn mòn ở môi trường chi tiết hoạt động qua các phản ứng hoá học.
2.2.3- Mòn, hỏng đột suất:
Nguyên nhân: do không tuân thủ đúng chế độ sử dụng và bảo dưỡng kĩ thuật, do quá trình lắp ráp sửa chữa và điều chỉnh không đúng kĩ thuật, do sử dụng và bảo quản không tốt
Dưới đây là dạng mài mòn của một số nhóm chi tiết điển hình trên ô tô như sau:
• Đối với các tấm ma sát của đĩa bị động ly hợp: là độ mòn theo chiều dầy của đĩa cho tới khi đầu các đinh tán bắt đầu trùng với bề mặt đĩa. Nếu các tấm ma sát được dán lên xương đĩa thì trạng thái giới hạn được xác định bằng độ mòn tới khi cơ cấu không còn khả năng điều chỉnh, hoặc các tấm ma sát không còn đủ độ bền.
Đối với các bánh răng: là hiện tượng gãy, vỡ răng hoặc các vết nứt, những hư hỏng như tróc, biến dạng bề mặt tiếp xúc của răng gây nên độ ồn quá mức khi làm việc.
• Đối với các khớp nối bằng răng: là độ mòn của các răng theo bề dầy và theo chiều dài dẫn tới việc tự ngắt khớp khi có tải.
• Đối với các ổ lăn: là độ mòn của các bề mặt làm việc trên ca bi, tróc rỗ bề mặt làm việc trên ca bi và của các viên bi; vết nứt trên ca bi, gãy các vòng cách.
• Đối với các trục: là biến dạng cục bộ, gãy, độ mòn quá mức tại vị trí lắp ổ bi.
• Đối với các chi tiết vỏ: là các vết nứt, vỡ.
2.3- Khái niệm về các giai đoạn mài mòn:
Quá trình mài mòn của các chi tiết lắp ghép có bề mặt chuyển động tương đối với nhau có 3 giai đoạn:
- Giai đoạn I: mòn khởi xuất - giai đoạn chạy rà trơn
- Giai đoạn II: mòn ổn định - giai đoạn đưa máy vào sử dụng
- Giai đoạn III: mòn phá huỷ - giai đoạn đưa máy vào sửa chữa
3.1. Khái niệm về bảo dưỡng, sửa chữa
3.1.1- Bảo dưỡng.
Bảo dưỡng là những công việc được tiến hành có kế hoạch và có hệ thống nhằm ngăn ngừa hư hỏng, đảm bảo duy trì trạng thái kỹ thuật tốt và kéo dài tuổi thọ của xe. Bảo dưỡng được tiến hành hàng ngày và định kỳ theo thời gian sử dụng hoặc số km xe chạy.
Bảo dưỡng bao gồm một loạt công việc bắt buộc, chủ yếu tập trung vào kiểm tra trạng thái kỹ thuật, tẩy rửa, bắt chặt, thay dầu mỡ, chẩn đoán trạng thái kỹ thuật và điều chỉnh các cụm máy. Bảo dưỡng được chia thành bảo dưỡng hàng ngày và hai cấp bảo dưỡng định kỳ là bảo dưỡng cấp 1 và bảo dưỡng cấp 2.
*) Đối với ô tô.
Bảo dưỡng hàng ngày được thực hiện hàng ngày chủ yếu bởi chính người lái xe. Bảo dưỡng định kỳ được thực hiện ở các gara hoặc xưởng sửa chữa xe và do thợ chuyên môn thực hiện. Chu kỳ và nội dung công việc cần thực hiện ở mỗi cấp bảo duỡng thường được nhà chế tạo quy định cụ thể trong các sổ tay hướng dẫn sử dụng, nhưng nói chung có thể thấy như trong bảng 1.1.
Bài 3: Phương pháp sửa chữa và công nghệ phục hồi chi tiết bị mài mòn
Nếu đường xá xấu, môi trường hoạt động bụi bẩn nhiều thì định mức thời gian nói trên giảm từ 15 – 30 %.
*) Đối với các máy công tác
- Bảo dưỡng hằng ngày: được tiến hành sau mỗi ca làm việc.
- Bảo dưỡng cấp 1: được tiến hành sau 60 giờ hoạt động.
- Bảo dưỡng cấp 2: được tiến hành sau 120 giờ hoạt động.
Bảng 1.1: Chu kỳ bảo dưỡng các loại xe trong điều kiện đường xá tốt.
a) Nội dung công việc bảo dưỡng hằng ngày:
- Lau rửa sạch sẽ toàn bộ xe máy
- Kiểm tra mức dầu bôi trơn ở các bộ phận, kiểm tra mức nước làm mát, kiểm tra nhiên liệu nếu cân thiết thì phải bổ xung đầy đủ, kiểm tra độ kín của các bộ phận.
- Kiểm tra và siết chặt các mối ghép ren quan trọng như bu lông và đai ốc bánh xe, các khớp chuyền động
- Cho máy hoạt động để phát hiện tiếng kêu lạ, theo dõi các đồng hồ trên bảnh táp lô, kiểm tra sự hoạt động của hệ thống chiếu sáng và tín hiệu.
b) Nội dung bảo dưỡng cấp 1:
- Bảo dưỡng các bầu lọc của hệ thống nhiên liệu, hệ thống bôi trơn, kiểm tra, bổ xung dầu mỡ như thay dầu động cơ và làm kín các đường ống dẫn.
- Kiểm tra và điều chỉnh đúng hoạt động của ly hợp và tay lái
- Kiêm tra dung dịch ac qui, kiểm tra máy khởi động
- Kiểm tra thời điểm đánh lửa và điều chỉnh đúng nếu cần thiết
c) Nội dung bảo dưỡng cấp 2:
Làm tất cả các công việc của bảo dưỡng hàng ngày và cấp 1, còn làm thêm:
- Bơm mỡ bôi trơn vào các vú mỡ
- Tháo và bảo dưỡng bơm thấp áp
- Kiểm tra và điều chỉnh van phun nhiên liệu
- Kiểm tra và điều chỉnh đúng thời điểm đấnh lửa
- Bảo dưỡng máy khởi động - máy phát điện - bộ chia điện
- Kiểm tra điện áp và điện dịch của ac qui
- Kiểm tra và điều chỉnh đúng độ căng các dây đai, siết chặt lại lắp máy.
- Kiểm tra và điều chinh đúng khe hở nhiệt xupap.
3.1.2- Sửa chữa.
Sửa chữa là công việc duy trì và phục hồi tính không hỏng và khả năng làm việc bình thường của xe. Có hai dạng sửa chữa là sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn.
Sửa chữa nhỏ là công việc khắc phục các hư hỏng cục bộ, ngẫu nhiên của các chi tiết trong các cụm máy, có thể tháo một bộ phận hoặc thay thế một số cụm, chi tiết mới hoặc chi tiết sửa chưa.
Sửa chữa lớn (Đại tu) được tiến hành theo định kỳ để phục hồi khả năng làm việc đầy đủ của tất cả các chi tiết, cụm bằng cách phục hồi hoặc thay thế tất cả các chi tiết mòn, hỏng bằng chi tiết mới hoặc chi tiết sửa chữa. Đặc trưng của sửa chữa lớn là tháo toàn bộ xe để sửa chữa, thay thế chi tiết, bộ phận rồi lắp lại như mới. Yêu cầu xe phải được phục hồi khả năng làm việc bằng ít nhất 80% so với xe mới. Sửa chữa lớn thường được thực hiện trong các xưởng sửa chữa có đầy đủ trang thiết bị phục vụ tháo, lắp, gia công cơ khí và kiểm tra.
Trong điều kiện sử dụng bình thường, xe có động cơ thường được sửa chữa lớn sau khi xe chạy được khoảng 150.000 – 250.000 km tuỳ thuộc loại xe và hãng xe khác nhau. Xe tải có chu kỳ sửa chữa lớn ngắn hơn xe du lịch.
Các bước của quá trình sửa chữa lớn trong xưởng sửa chữa ô tô như sau:
1. Tiếp nhận xe vào xưởng sửa chữa, rửa ngoài.
3. Tháo rời chi tiết từ các cụm.
2. Tháo các cụm ra khỏi xe.
4. Rửa và kiểm tra, phân loại chi tiết.
6.Lắp, điều chỉnh, chạy ra, thứ nghiệm các cụm.
5. Sửa chữa, phục hồi các chi tiết và cụm máy.
7. Lắp xe, thử xe, sơn xe và giao xe.
Ví dụ: Quy trình đại tu một động cơ của xe con như sau:
Quy trình các bước đại tu động cơ của xe du lịch
1- Tháo động cơ ra khỏi xe; 2- Tháo rời các chi tiết của động cơ; 3- Vệ sinh, kiểm tra, sửa chữa chi tiết hỏng; 4- Lắp ráp động cơ; 5- Lắp động cơ lên xe; 6- Kiểm tra lần cuối, thử xe và giao xe
1- Tháo động cơ ra khỏi xe.
- Tiến hành biện pháp ngăn không cho xăng hoặc dầu chảy ra ngoài bằng cách tháo giắc bơm xăng. Sau đó tháo các đường ống dẫn nhiên liệu
Tháo ăc quy.
-Tháo nước làm mát
Tháo ắc quy
Tháo nước làm mát
Hộp cầu chì
Hộp nối bảng tápnô
ECU
- Tháo các giắc nối và dây điện
- Tháo các đường ống
- Tháo các bộ phận của khoang động cơ
- Lắp kích động cơ và tháo động cơ cùng hộp số
- Tháo hộp số .
- Tháo ly hợp và bánh đà .
Lắp động cơ lên giá đại tu động cơ
- Tháo đường ống nạp, ống xả, máy phát điện , dây điện động cơ
2- Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
Tháo rời các chi tiết của động cơ
3- Rửa, vệ sinh các chi tiết của động cơ.
4- Kiểm tra, sửa chữa các chi tiết của động cơ.
Kiểm tra vết lứt trên nắp máy, thân máy và xy lanh.
Kiểm tra khe hở
- Kiểm tra khe hở giữa piston và xéc măng
- Đo kiểm tra trục cam
5- Lắp ráp các chi tiết của động cơ và lắp động cơ lên xe.
Quá trình lắp ráp các chi tiết ngược lại với quy trình tháo.
Chú ý: - Khí lắp thì toàn bộ gioăng đệm phải thay mới.
- Dấu và chiều của các chi tiết chuyển động.
6- Chạy rà, hiệu chỉnh, kiểm tra tổng thể, bàn giao xe
3.2- Khái niệm về các phương pháp sửa chữa và phục hồi chi tiết bị mài mòn.
- Phương pháp gia công theo kích thước sửa chữa.
Đây là phương pháp sửa chữa gia công theo chi tiết chuẩn sẵn có trước. Trong quá trình làm việc các chi tiết chuyển động tương đối với nhau sẽ bị mòn, đến một mức nào đó thì ta phải ti n hành sửa chữa các chi tiết mòn. Khi tiến hành sửa chữa thì có những chi tiết chúng ta phải thay thế, mà chi tiết đó đã được chế tạo sẵn theo một kích thước quy định, ta phải tiến hành sửa chi tiết khác theo chi tiết sẵn có.
Ví dụ : Khi chúng ta đại tu động cơ mà thay piston lên cos1 (mỗi cos tăng lên 0,25mm) thì chúng ta phải doa xy lanh theo kích thước của piston. Piston là chi tiết thay thế chế tạo sẵn có do nhà sản xuất cung cấp, ta phải sửa kích thước xy lanh theo kích thước của piston.
- Phương pháp tăng thêm chi tiết.
Khi một chi tiết hoặc cụm chi tiết nào đó bị hỏng mà ta cần tiến hành sửa chữ, trong quá trình sửa chữ mà ta phải chế tạo thêm các chi tiết phụ để nh ằm n âng cao tính an toàn chi chi tiết vừa sửa chữa thì đó gọi là phương pháp sửa tăng thêm chi tiết. Phương pháp này chủ yếu dùng cho các chi tiết chịu lực, chịu mô men. Khi sử dụng phương pháp này sẽ làm tăng lên kích thước của chi tiết, trên ô tô ít sử dụng phương pháp này.
Ví du: Khi một dầm đỡ của một mái nhà bị nứt gãy, mà việc thay thế dầm đó khó khăn thì người ta sửa chữa bằng cách chống thêm một chiếc dầm phụ để chịu lực cho dầm chính.
- Phương pháp điều chỉnh.
Sau một thời gian sử dụng các chi tiết bị mài mòn, khe hở láp ráp của các chi tiết tăng vượt quá giới hạn cho phép gây ra va đập, rung động trong quá trình làm việc dẫn tới làm hư hỏng nhanh các chi tiết vì vậy phải điều chỉnh lại các khe hở láp ráp đúng qui định. Phương pháp này không làm thay đổi hình dạng- kích thước của chi tiết mà phụ thuộc cấu tạo của chi tiết, phụ thuộc vào kết cấu mối ghép của các chi tiết có cho phép điều chỉnh được hay không.
Ví dụ: điều chỉnh khe hở nhiệt các xupap của một số động cơ sau quá trình làm việc bị mòn. Điều chỉnh đúng khe hở các ổ lăn đỡ bánh xe sau một thời gian làm việc bị mòn.
- Phương pháp thay đổi một phần chi tiết.
Khi thay một chi tiết hoặc cụm chi tiết có chức năng tương đương so với cụm chi tiết cũ. Khi sử dụng phương pháp này thì chi tiết hoặc cụm chi tiết thay thế phải có độ tin cậy cao hơn, gọn hơn thì chúng ta mới sử dụng phương pháp này.
Ví dụ: Hoán cải hệ thống đánh lửa thường (đánh lửa có tiếp điểm) của động cơ sang hệ thống đánh lửa bán dẫn (đánh lửa không tiếp điểm). Hệ thống đánh lửa bán dẫn làm việc có độ tin cậy cao hơn, ít hỏng hóc hơn.
- Phương pháp phục hồi.
Đây là phương pháp sửa chữa để phục hồi lại kích thước hình dáng ban đầu của chi tiết. Phương pháp này thường sử dụng các công nghệ như hàn đắp sau đó gia công lại theo kích thước cũ, mạ crôm sau đó mài lại theo kích thước cũ, phun kim loại …
Ví dụ: Piston thuỷ lực trong quá trình làm việc bị mòn, mu ốn kh ôi ph ục lại như kích thước ban đầu thì ta tiến hành mạ crom sau đó mài lại theo kích thước tiêu chu ẩn ban đầu.
3.3- Khái niệm về các công nghệ sửa chữa và phục hồi chi tiết bị mài mòn.
Công nghệ sửa chữa và phục hồi chi tiết bị mài mòn là các Công nghệ sửa chữa nhằm phục hồi lại hình dáng, kịch thước của chi tiết đúng như ban đầu, hoặc phục hồi lại theo kích thước sửa chữa qui chuẩn.
Ví dụ: phục hồi thay đổi kích thước ban đầu
Sau một quá trình làm việc lâu dài xy lanh và pitong của động cơ bị mòn vượt quá giới hạn cho phép để động cơ tiếp tục hoạt động ta chọn kích thước pitong có kích thước ( cos 1), tiếp đó doa mài xi lanh theo kích thước của pitong.
3.3.1- Công nghệ gia công cơ khí.
Nếu áp dụng phương pháp này các chi tiết được phục hồi trên các máy chuyên dùng hoặc các máy vạn năng.
VD: Doa xy lanh.
3.3.2- Công nghệ mạ phun kim loại.
Nấu chảy kim loại rồi dùng không khí nén thổi nước kim loại bám vào bề mặt kim loại bị mòn. Bề mặt được phun trước khi phun phải được tạo nhám và làm sạch để làm tăng độ bám của kim loại phun. Phương pháp này sử dụng để phục hồi chi tiết máy không được thay đổi kích thước ban đầu và độ bền của lớp kim loại được phun không cần cao so với hàn đắp và cũng chỉ sử dụng phục hồi các chi tiết có kết cấu đơn giản và kích thước lớn.
Phục hồi chi tiết máy bằng phương pháp này ta dùng dũa hoặc cạo hoặc mài nghiền để làm tăng độ chính xác cho các chi tiết hoặc làm độ chính xác cho các chi tiết lắp ghép.
Ví dụ: - Cạo rà để làm phẳng lắp máy.
- Mài nghiền để làm tăng độ kín cho xupap và đế xupap.
3.3.3- Công nghệ gia công nguội (dũa - mài - cạo rà).
3.3.4- Phương pháp thay mới chi tiết bộ phận máy.
Đây là phương pháp được áp dụng nhiều nhất đối với các nước có nền công nghiệp hiện đại. Đây là phương pháp đảm bảo năng suất và chất lượng nhất.
Ví dụ: - Khi đĩa phanh bị mòn đến tới hạn ghi trên đĩa thì thay đĩa mới.
3.3.5- Phương pháp vá táp, cấy chốt.
Phương pháp náy được áp dụng phục hồi các chi tiết như vở hộp số, vỏ cầu, thân động cơ bằng cách khoan chặn hai đầu vết nứt bằng mũi khoan 4 - 6 . Sau đó vá táp hoặc cấy chốt.
- Cấy chốt: dung mũi khoan 5 - 6 khoan liên tiếp theo vết nứt sau đó đóng chốt vào các lỗ khoan với vật liệu làm chốt phải mềm hơn vật liệu hộp máy.
- Vá táp: dùng tôn mỏng khoan các lỗ 5- 6 liên tiếp nhau theo vết nứt rồi dùng đệm kín và đinh tán liên kết kín tôn mỏng và hộp máy.
3.3.6- Phương pháp dán.
Trong tương lai phục hồi các chi tiét máy bị mòn, bị nứt bằng phương pháp dán sẽ được sử dụng nhiều. Nhưng khi sử dụng keo dán cần lưu tâm mấy điểm sau: pha chế keo dán đúng hướng dẫn của nhà sản xuất, nhiệt độ vùng dán không được cao quá.
3.3.7- Sửa chữa chi tiết máy bằng phương pháp hàn
Phương pháp này có độ chính xác không cao, có thể dùng các phương pháp hàn điện hoặc hàn hơi để hàn đắp rồi phục hồi lại hình dáng kích thước của chi tiết máy.
Ví dụ: hàn phục hồi hộp số bị nứt, thân máy bị nứt ở vị trí không quan trọng, hàn khung xe, vỏ xe bị nứt, bị hỏng.
3.3.8- Sửa chữa chi tiết bằng phương pháp mạ.
Sử dụng công nghệ mạ điện phân như mạ crôm, mạ Niken… để khôi phục lại các kích thước của chi tiết máy.
4. 1- Khái niệm về các phương pháp làm sạch chi tiết
4.1.1- Phương pháp làm sạch cặn nước.
Bài 4: Làm sạch và kiểm tra chi tiết.
Các cặn nước có chủ yếu trong hệ thống làm mát của động cơ. Nó được sinh ra trong quá trình làm việc của động cơ, nước làm mát được làm nóng, do trong nước làm mát không được nguyên chất (nhất là các động cơ làm mát bằng nước thường), có nhiều tạp chất, các ion kim loại như Fe, Ca, Mg, Na…, khi gặp điều kiện nhiệt độ cao nó kết tủa, phản ứng với nhau đóng cặn trên các thành bình, làm giảm chức năng tản nhiệt của hệ thống.
Để đảm bảo tẩy rửa sạch các cặn nước, người ta dùng phương pháp tẩy rửa bằng nước rửa hoá chất kết hợp tạo dòng nước mạnh lưu thông trong hệ thống. Có rất nhiều loại nước rửa hoá chất có thể dùng như:
- Dung dịch 100 g Na2CO3 gậm nước + 2 g K2Cr2O7 + 1 lít nước.
- Dung dịch 2,5% HCl + 97,5 % nước.
- Dung dịch 100 g H3PO4 + 50 g CrO3 + 1 lít nước.
- Dung dịch axits lactic 60 g/lít …
4.1.2- Phương pháp làm sạch cặn dầu.
Các cặn dầu được sinh ra trong hệ thống đường dầu bôi trơn của động cơ. Các cặn bẩn này được tạo thành do nước, muội than, bụi bẩn, mạt kim loại bong tách từ các bề mặt ma sát và dầu phân huỷ trong quá trình làm việc trộn lẫm với nhau. Vì vậy, chúng ta phải thường xuyên thông rửa hệ thống bôi trơn. Khi các đường dầu bị tắc, dù là một phần thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc cấp dầu bôi trơn cho các bề mặt ma sát. Do vậy, khi động cơ được tháo ra để sửa chữa cần phải thông rửa hệ thống đường dầu này.
Để tẩy rửa các cặt dầu thì ta có thể dùng dầu Diesel hoặc dầu hoả hoặc dung dịch tẩy rửa chuyên dùng sau đó dùng khí nén để thổi thông.
Ví dụ: để thông rửa các đường dầu trong động cơ, trước tiên cần tháo tất cả các vít nút (nút công nghệ) các lỗ khoan đường dầu trên thân máy và các chi tiết, sau đó dùng sợi vải quấn lên dây thép thấm dầu hoả sạch để để thông rửa tất cả các đường dầu trên thân máy, nắp máy, trục khuỷu, thanh truyền … Sau đó dùng khí nén thổi thông.
4.1.3-- Phương pháp làm sạch muội than.
Muội than chủ yếu được sinh ra trong buồng cháy của động cơ. Muội than được sinh ra do quá trình cháy không hoàn toàn của nhiên liệu. Để làm sạch các muội than ta dùng dao cạo, chổi sắt hay đá mài (hình 13 ).
Ví dụ: Làm sạch muội than trên xupáp bằng cách gắn xupáp lên máy khoan bàn (hình 14), dùng dao cạo hay giấy giáp đánh sạch muội than khi cho máy khoan chạy.
4.2- Khái niệm về các phương pháp kiểm tra chi tiết:
4.2.1- Kiểm tra bằng trực giác.
Quan sát xem có bất kỳ điều gì bất thường hay hư hỏng trên các chi tiết không. Nếu thấy có điều gì bất thường khi quan sát, cũng nên kiểm tra xem có gì bất thường trên các chi tiết liên quan không. Hãy thay thế nếu thấy cần thiết. Kiểm tra bằng quan sát sau khi đã vệ sinh sạch chi tiết, bao gồm những điểm sau.
- Hãy đánh giá mức độ vùng hư hỏng.
- Kiểm tra biến dạng nứt hay hư hỏng.
- Kiểm tra mòn nhiều.
- Kiểm tra khu vực kim loại xem có bị biến màu hay cháy không.
- Kiểm tra bằng phương pháp đo.
4.2.2- Kiểm tra bằng phương pháp đo.
Dùng các dụng cụ đo như thước cặp, pan me, đồng hồ xo. thước kiểm phẳng … để đo xác định kích thước các chi tiết
4.2.3- Kiểm tra bằng các phương pháp khác.
Kiểm tra bằng chất thấm màu.
Phương pháp kiểm tra này ứng dụng hiện tượng mao dẫn của chất lỏng để phát hiện vết nứt trên bất kỳ bề mặt nào. Trong phương pháp kiểm tra này, những loại chất lỏng sau đây được sử dụng: chất thấm (ĐỎ), dung dịch rửa (XANH) và thử (TRẮNG)
Bài 5: Nhận dạng chủng loại động cơ đốt trong.
5.1- Khái niệm về động cơ đốt trong.
Động cơ đốt trong là một loại động cơ nhiệt có nhiệm vụ biến nhiệt năng do đốt cháy nhiên liệu sang cơ năng đều được tiến hành ngay trong bản thân động cơ.
Động cơ đốt trong gồm có: động cơ kiểu Piston, tuốc bin khí, động cơ rô to, động cơ phản lực. ĐCĐT có hiệu suất có ích cao, đối với động cơ Diesel hiện đại (H = 40-50%), Tuốc bin hơi khoảng 22-28%, động cơ hơi nước không quá 16%, tốc bin khí = 30%.
5.2- Phân loại động cơ đốt trong
ĐCĐT có rất nhiều loại tùy theo đặc điểm chung người ta phân loại như sau:
Phân theo nhiên liệu sử dụng có: động cơ xăng, động cơ Diesel, động cơ khí gas.
Phân loại theo cách đốt cháy hỗn hợp khí có: động cơ cháy cưỡng bức (đ/c xăng, ga), động cơ có hỗn hợp tự bốc cháy (đ/c Diesel).
Phân loại theo phương pháp đưa khí nạp vào xy lanh có: động cơ tăng áp (Turbo), động cơ không tăng áp.
Phân loại theo phương pháp tạo thành hỗn hợp khí có: hỗn hợp khí được tạo thành bên ngoài (đ/c có bộ chế hòa khí), hỗn hợp khí tạo thành bên trong xylanh (đ/c Diesel).
Phân loại theo số xylanh có: động cơ 1 xylanh, 2 xylanh, 3 xylanh, 4 xy lanh…
Phân loại theo chu trình công tác: động cơ 1 kỳ (đ/c tên lửa), đ/c 2 kỳ, đ/c 4 kỳ.
Phân loại theo cách bố trí xy lanh có: đ/c có xylanh bố trí 1 hành dọc, đ/c chữ V, hình sao…
5.3- Cấu tạo chung của động cơ đốt trong.
Các chi tiết cố định
Các chi tết chuyển động.
Cơ cấu phân phối khí.
Hệ thống cung cấp nhiên liệu.
Hệ thống bôi trơn.
Hệ thống đánh lửa.
Ngoài ra trên động cơ còn có hệ thống khởi động.
5.4- Các thuật ngữ cơ bản của động cơ
- Điểm chết.
Là vị trí mà khi Piston ở các vị trí đó dù ta tác dụng một lực nào lên Piston cũng không làm cho trục khuỷu của động cơ quay, tức là không sinh ra một mô men quay. Có 2 vị trí điểm chết:
+ Điểm chết trên ( ĐCT).
+ Điểm chết dưới ( ĐCD).
- Hành trình pít tông. S
Là khoảng cách giữa hai điểm chết.
- Thể tích buồng cháy. Vc
Là thể tích bé nhất của xy lanh khi piston ở điểm trết trên.
- Thể tích làm việc của xi lanh. Vh
là hiệu số giữa thể tích lớn nhất của xylanh và thể tích buồng nén.
Vh = Vmax - Vc
Với động cơ 1 xylanh thì
trong đó: D - đường kính của xylanh.
S – hành trình của Piston.
- Thể tích toàn phần. Vmax
Vmax = Vh + Vc
Thể tích làm việc của động cơ:
( i là số xy lanh của động cơ)
- Kỳ
Là một phần của chu trình công tác xảy ra giữa 2 vị trí của cơ cấu trục khủy - thanh truyền có thể tích xylanh lớn nhất và nhỏ nhất, tức là trong một hành trình của Piston.
- Chu trình công tác của động cơ: Là tổng cộng tất cả những phần của quá trình sảy ra trong thời gian của một giai đoạn (thời kỳ) trong một xylanh của động cơ. Khái niệm về chu trình công tác là nói nên sự thay đổi môi chất công tác trong xylanh.
5.5- Các thông số kỹ thuật cơ bản của động cơ
- Tỷ số nén
Là tỷ số giữa thể tích lớn nhất của xylanh chia cho thể tích buồng nén.
động cơ xăng = 6 12
động cơ diesel = 14 22
Công suất chỉ thị.
Nếu thể tích của các xy lanh là như nhau thì:
, (W) với p (Pa), Vh (m3), n(vòng/giây)
Nếu pi : áp suất chỉ thị trung bình tính bằng Mpa ( MN/m2)
Vh : thể tích làm việc của xy lanh tính bằng lít (l).
n: tính bằng số vòng quay (v/phút).
Ni tính bằng KW.
Thì , KW
- Công suất thực tế (Ne).
Công suất có ích của động cơ được phát ra ở đuôi trục khuỷu để từ đó truyền năng lượng tới máy công tác, công Ne bao giời cũng nhỏ hơn Ni bởi vì khi động cơ làm việc thì sẽ có một phần công tiêu hao do ma sát giữa các bề mặt chi tiết, công dẫn động bơm nước, bơm dầu, trục cam …
Ne = Ni - Nm (KW)
Với Nm- công suất tổn hao cơ giới dùng để khắc phục mọi lực cản trong nội bộ động cơ khi động cơ hoạt động.
Tỷ số giữa Ne và Ni gọi là hiệu suất cơ giới m
Hiện nay động cơ đốt trong có m = 0,63 0,93
Nếu gọi pe là áp suất có ích trung bình thì pe và pi có mối quan hệ sau:
pe = pi. m
Vậy ta có :
; KW
- Công suất tiêu hao (Nm).
Công suất tiêu hao do ma sát giữa các bề mặt chi tiết, công dẫn động bơm nước, bơm dầu, trục cam … , Công suất tiêu hao được tính như sau :
Nm = Ni - Ne (KW)
- Mức tiêu thụ nhiên liệu.
Mức tiêu thụ nhiên liệu của xe ô tô - máy kéo được tính theo km hoặc giờ làm việc.
+ Đối với ô tô thì mức tiêu thụ nhiên liệu đươc tính theo lít/100km.
+ Đối với máy kéo hoặc máy công trình thì được tính theo lít/giờ.
5. 6-Nhận dạng các loại động cơ và nhận dạng các cơ cấu, hệ thống trên động cơ.
- Nhận dạng các loại động cơ.
*) Động cơ hơi nước (Động cơ đốt ngoài).
*) Động cơ đốt trong:
- Động cơ 2 kỳ:
- Động cơ 4 kỳ:
- Động cơ nhiều xy lanh:
+ nhiều xy lanh thẳng hàng.
+ nhiều xy lanh chữ V.
+ động cơ đối đỉnh.
+ Động cơ box sơ.
- Các loại động cơ khác:
+ Động cơ Van ken.
+ Động cơ phản lực.
+ Động cơ Tuốc bin khí.
- Nhận dạng các cơ cấu, hệ thống trên động cơ : (hình lắp ráp động cơ f ord).
6.1- Khái niệm về động cơ bốn kỳ
Động cơ 4 kỳ là loại động cơ thực hiện xong một chu trình công tác sau 4 hành trình của piston hay hai vòng quay của trục khuỷu.
Bài 6: Nhận dạng động cơ 4 kỳ .
6.2-Động cơ xăng bốn kỳ
6.2.1- Sơ đồ cấu tạo
(hình 1.4)
1- Piston
2- xuáp nạp;
3- bu gi;
4- xupáp xả
5- Buồng cháy.
6- Thanh truyền.
7- Trục khuỷu.
6.2.2- Nguyên lý hoạt động
Đối với động cơ 4 kỳ thì phải thực hiện 4 hành trình của piston mới hoàn thành 1 chu trình công tác.
- Kỳ thứ nhất: là kỳ nạp
P = 0,7- 0,9 at
T= 75 1250C.
- Kỳ thứ 2 – kỳ nén (hình 1.2)
Cuối kỳ
P = 10 12 at
T= 350 500 0C
Kỳ thứ 3- kỳ cháy (hình 1.3).
Khi bốc cháy thì:
P = 30 40 at
T= 2100 2500 0C
Ở cuối kỳ cháy :
P = 3 5 at
T = 1000 12000C.
- Kỳ thứ 4 – kỳ xả (hình 1.4).
Ở cuối kỳ xả :
P = 1,1 1,2 at
T = 700 8000C.
Quá trình làm việc của động cơ xăng 4 kỳ được lập đi lập lại trong xylanh theo đúng trình tự trên, chỉ có kỳ cháy giãn nở là kỳ sinh công còn kỳ nạp, nén là kỳ chuẩn bị, còn kỳ xả là kỳ kết thúc.
6.2.3- Pha phân phối khí và đồ thị công của động cơ Xăng 4 kỳ.
6.3- Động cơ diesel 4 kỳ.
6.3.1- Sơ đồ cấu tạo:
1- xuáp nạp.
2- xupáp xả.
3- Vòi phun.
4- Piston .
5- Buồng cháy.
6- Thanh truyền.
7- Trục khuỷu.
6.3.2- Nguyên lý hoạt động.
- Kỳ thứ nhất: là kỳ nạp
P = 0,75 0,85 at
T= 90 1250C.
-Kỳ 2- Nén (hình 1.7):
Cuối kỳ
P = 30 40 at
T= 600 700 0C
- Kỳ 3 – Cháy (hình 1.8):
Khi bốc cháy thì:
P = 50 65 at
T= 1800 2000 0C
ở cuối kỳ nén, nhiên liệu diesel được phun vào xylanh với áp suất 150 200 at.
-Kỳ 4- Xả (hình 1.9):
Ở cuối kỳ xả :
P = 1,1 1,2 at
T = 300 400 0C.
Sau khi kết thúc hành trình xả, tức là động cơ đã hoàn thành xong một chu trình công tác và một chu trình công tác mới lại bắt đầu lập lại.
6.3.3- Pha phân phối khí và đồ thị công của động cơ Diesel 4 kỳ.
6.4- So sánh ưu nhược điểm giữa động cơ diesel và động cơ xăng.
Động cơ Xăng và động cơ Diesel là hai loại động cơ mà ngày nay được sử dụng rộng rãi nhất. Mỗi loại đều có ưu, nhược điểm riêng.
Động cơ Diesel có ưu điểm là có thể tạo ra công suất lớn, tiết kiệm nhiên liệu, ít gây ô nhiễm
 







Các ý kiến mới nhất