Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 1-Làm quen với Vật Lí

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Văn Quyền
Ngày gửi: 10h:28' 07-09-2023
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 72
Số lượt thích: 0 người
I. Đối tượng nghiên cứu của Vật lí và mục tiêu của môn Vật

– Thuật ngữ “vật lí” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “physiko” có
nghĩa là “kiến thức về tự nhiên”. Vật lí là môn “khoa học tự
nhiên” có đối tượng nghiên cứu tập trung vào các dạng vận động
của vật chất (chất, trường), năng lượng.
– Các lĩnh vực nghiên cứu của Vật lí rất đa dạng, từ Cơ học, Điện
học, Điện từ học,Quang học, Âm học, Nhiệt học, Nhiệt động lực
học đến Vật lí nguyên tử và hạt nhân, Vật lí lượng tử, Thuyết
tương đối.

I. Đối tượng nghiên cứu của Vật lí và mục tiêu của môn Vật

– Việc học tập môn Vật lí giúp các em hình thành, phát triển
năng lực vật lí với các biểu hiện chính sau đây:
+ Có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản về vật lí.
+ Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để khám phá, giải
quyết các vấn đề có liên quan trong học tập cũng như trong đời
sống. 
+ Nhận biết được năng lực, sở trường của bản thân, định
hướng nghề nghiệp.

III. Vai trò của Vật lí đối với khoa học, kĩ thuật và công nghệ
a. Vật lí có quan hệ với mọi ngành khoa học và được coi là cơ sở
của khoa học tự nhiên (KHTN). Các khái niệm, định luật, nguyên lí
của Vật lí được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của KHTN, đặc
biệt là trong việc giải thích cơ chế của các hiện tượng tự nhiên.
b. Vật lí là cơ sở của công nghệ, không có các thành tựu nghiên
cứu của Vật lí thì không có công nghệ.

Năm 1765, James Watt sáng chế
ra máy hơi nước dựa trên những
kết quả nghiên cứu về Nhiệt của
Vật lí, đó chính là bước khởi đầu
cho cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ nhất với đặc trưng cơ bản
là thay thế sức lực cơ bắp bằng
sức lực máy móc.

Nhờ khám phá ra hiện tượng cảm
ứng điện từ của nhà vật lí Faraday
mà sau đó các máy phát điện ra
đời, mở đầu cho kỉ nguyên sử
dụng điện năng của nhân loại và
là một trong những cơ sở cho sự
ra đời của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ hai vào cuối thế kỉ
XIX.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ ba bắt đầu vào những năm 70
của thế kỉ XX, với đặc trưng là tự
động hóa các quá trình sản xuất
(dây chuyền sản xuất tự động)
cũng là nhờ có những thành tựu
nghiên cứu về điện tử, chất bán
dẫn và vi mạch,… của Vật lí học.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư được coi là bắt đầu vào
đầu thế kỉ XXI với tốc độ phát
triển và mức độ ảnh hưởng vượt
xa các cuộc cách mạng công
nghiệp trước đó. Đặc trưng của
cuộc cách mạng công nghiệp này
là sử dụng trí tuệ nhân tạo, robot,
internet toàn cầu, công nghệ vật
liệu siêu nhỏ (nano)

III. Vai trò của Vật lí đối với khoa học, kĩ thuật và công nghệ
c. Vai trò của Vật lí trong sự phát triển các công nghệ nêu trên cho
thấy sự ảnh hưởng to lớn của nó đối với cuộc sống con người. Mọi
thiết bị mà con người sử dụng hàng ngày đều ít nhiều gắn với
những thành tựu nghiên cứu của Vật lí.
Tuy nhiên, việc ứng dụng các thành tựu của Vật lí vào công nghệ còn
có thể làm ô nhiễm môi trường sống, hủy hoại hệ sinh thái,… nếu
không được sử dụng đúng phương pháp, đúng mục đích.

IV. Phương pháp nghiên cứu Vật lí
1. Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp quan trọng của Vật
lí.

IV. Phương pháp nghiên cứu Vật lí

1. Xác định vấn đề cần tìm hiểu: Có đúng vật nặng rơi nhanh
hơn vật nhẹ không?
2. Bằng những quan sát hàng ngày, ông đã thấy khi trời mưa
những giọt nước mưa dù to hay nhỏ đều rơi xuống như nhau,
cũng giống như khi có tuyết rơi thì những hạt tuyết to hay nhỏ
cũng rơi xuống như nhau.

IV. Phương pháp nghiên cứu Vật lí

3. Từ những quan sát của mình, Galilei dự đoán: Sự rơi nhanh
hay chậm không phụ thuộc vào vật nặng hay nhẹ.
4. Không chỉ dừng lại ở suy luận, Galilei nghĩ ra cách làm thí
nghiệm để kiểm tra dự đoán của mình. Ông cho rằng nếu dùng
thí nghiệm chứng minh được hai vật nặng, nhẹ rất khác nhau
đều rơi nhanh như nhau thì sẽ bác bỏ được ý kiến của Aristotle.

IV. Phương pháp nghiên cứu Vật lí
5. Thí nghiệm đã chứng tỏ ý kiến của Galilei là đúng: Sự rơi nhanh
hay chậm không phụ thuộc vào vật nặng hay nhẹ.
Phương pháp Galilei dùng ở trên được gọi là phương pháp thực
nghiệm và Galilei được coi là "cha đẻ" của phương pháp này. Sơ đồ
của phương pháp thực nghiệm được mô tả như sau:

IV. Phương pháp nghiên cứu Vật lí
2. Phương pháp mô hình
Đây là phương pháp dùng các mô hình để nghiên cứu, giải thích các
tính chất của vật thật, tìm ra cơ chế hoạt động của nó,...
Các loại mô hình thường dùng ở trường phổ thông là:
 
Gửi ý kiến