Tìm kiếm Bài giảng
Bài 13. Làng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Anh
Ngày gửi: 12h:54' 07-05-2022
Dung lượng: 25.6 MB
Số lượt tải: 269
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Anh
Ngày gửi: 12h:54' 07-05-2022
Dung lượng: 25.6 MB
Số lượt tải: 269
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Thị Thái)
1
2
3
4
5
6
7
8
Đồng nghĩa với trái.
“Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.”
Gợi tả nhân vật nào?
Hãy điền từ còn thiếu
“Một … chờn vờn sương sớm,
Một…ấp ui nồng đượm”
Nhân vật chính trong văn bản Làng - Kim Lân?
Đây là nhân vật nào trong Truyện Kiều (Nguyễn Du)?
Cho biết tên ngôi làng của ông Hai?
(trong tác phẩm Làng, Kim Lân)
Tác giả bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính?
Nguyễn Huệ lên ngôi lấy niên hiệu là….
Làng
Kim Lân
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
2. Tác phẩm:
II. Đọc hiểu văn bản:
II. Đọc hiểu văn bản:
Sắp xếp các chi tiết theo diễn biến truyện?
Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông bàng hoàng, tủi nhục, đau đớn, không muốn gặp ai. Ông thấy thù làng. Bị chủ nhà không cho ở nhờ nữa, gia đình ông không biết đi đâu nhưng kiên quyết không về làng. Ông nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn. Khi nhận tin cải chính, ông vui mừng khoe với mọi người rằng làng ông không theo giặc, nhà ông bị giặc đốt. Ông thêm yêu và lại say sưa kể về làng.
Tác giả đặt nhân vật ông Hai vào tình huống gay cấn: Làng Chợ Dầu theo giặc để từ đó ông Hai bộc lộ tình yêu làng, lòng yêu nước của mình.
1. Tình huống truyện
Diễn biến tâm trạng ông Hai (qua 3 thời điểm)
2. Ông Hai trước khi hay tin làng Chợ Dầu theo giặc:
2. Ông Hai trước khi hay tin làng Chợ Dầu theo giặc:
Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh.
Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió tha hồ đi khắp đầu làng cuối xóm, bùn không dính đến gót chân. Tháng năm ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, không có lấy một hạt thóc đất
Bây giờ khoe làng, ông lão lại khoe khác. Ông khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập ở làng, mà ông gia nhập phong trào từ thời kỳ còn bóng tối. Những buổi tập quân sự. Cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một hai. Mỗi lần hô động tác, anh huấn luyện viên lại phải đệm tiếng ạ… thườn thượt đằng sau: “Nghiêm ạ!… Nghỉ ạ!… Vác súng lên vai ạ!…”. Nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì làm công trình không để đâu hết. Ông lão kể rành rọt từng cái một. Cái thì đắp ở đầu xóm Ba Khu, cái thì xây ở Ngõ Mái, cái thì xẻ thông từ đầu phố trên đến tận đầu phố dưới.
Cứ như vậy, suốt cả buổi tối, ông lão ngồi vén quần lên tận bẹn trên chiếc chõng tre nhà bác Thứ mà nói liên miên hết cái đường xóm kia tốt, cái giếng xóm kia trong với những chuyện đẩu chuyện đâu về cái làng của ông lão, làm như bác Thứ cũng quen biết và bận tâm đến những thứ ấy lắm. Thực ra ông lão chỉ nói cho sướng miệng và đỡ nhớ cái làng của ông chứ cũng chẳng chú ý gì đến người nghe có thích nghe lắm không.
2. Ông Hai trước khi hay tin làng Chợ Dầu theo giặc:
- “Ông lại muốn về làng….khuân đá…”
→ Nỗi nhớ quê hương da diết, cháy bỏng.
- “Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá.”
Gặp ai quen ông Hai cũng níu lại, cười cười:
- Nắng này là bỏ mẹ chúng nó!
Có người bỡ ngỡ hỏi lại: “Chúng nó nào?” thì ông lão bật cười, giơ tay trỏ về phía tiếng súng:
- Tây ấy chứ còn chúng nó nào nữa. Ngồi trong vị trí giờ bằng ngồi tù.
Dứt lời, ông lão lại đi, làm như đang bận nhiều công việc lắm. Cũng như mọi hôm, việc đầu tiên là ông vào phòng thông tin nghe đọc báo.
- “Ruột gan ông cứ múa cả lên, vui quá!”
→ Ông luôn dõi theo cuộc kháng chiến của dân tộc.
3. Tâm trạng ông Hai khi hay tin làng Chợ Dầu theo giặc:
- “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è , nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi”
→ bàng hoàng, sững sờ đến choáng váng
“Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to:
- Hà, nắng gớm, về nào…”
- “Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng.”
→ sợ hãi, lãng tránh
- “Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi.”
→ xấu hổ, nhục nhã
- “Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường”
→ đau đớn, xót xa, tủi nhục
- “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra…”
- “Ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.”
→ nỗi căm giận dâng trào
- “Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình nói không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy!…”
→ hoài nghi, bối rối
- Cuộc đối thoại với bà hai
→ tâm trạng vô cùng nặng nề
- trằn trọc không ngủ
“Đã ba bốn hôm nay, ông Hai không bước chân ra đến ngoài, cả đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Suốt ngày ông chỉ quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng. Nghe ngóng xem binh tình bên ngoài ra sao. Một đám đông xúm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”.Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít.”
→ nỗi ám ảnh biến thành sự sợ hãi
→ bàng hoàng, sững sờ đến choáng váng
→ sợ hãi, lãng tránh
→ xấu hổ, nhục nhã
→ đau đớn, xót xa, tủi nhục
→ căm giận
→ hoài nghi, bối rối
→ nỗi ám ảnh biến thành sự sợ hãi
→ Diễn biến tâm trạng được tái hiện hợp lí, chân thực, cụ thể và cảm động
- Ông Hai bị đẩy vào tình huống bế tắt:
“Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.”
→ Tình yêu nước rộng lớn, bao trùm lên tình yêu làng quê.
đi hay về làng Chợ Dầu (yêu làng >< yêu nước).
- Lời tâm sự với đứa con nhỏ:
+ Tình yêu sâu nặng với làng Chợ Dầu
+ Tấm lòng chung thủy với kháng chiến, với cách mạng.
→ Là những tình cảm bền vững, sâu nặng, thiêng liêng.
3. Tâm trạng ông Hai khi hay tin làng được cải chính:
- Ông vui tươi, rạng rỡ, chia quà cho các con
- Khoe nhà ông bị giặc đốt cháy.
→ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước.
4. Nghệ thuật:
- Thành công trong việc xây dựng tình huống truyện.
- Miêu tả cụ thể, sinh động các diễn biến nội tâm nhân vật qua ý nghĩ, hành động, ngôn ngữ.
Ngôn ngữ truyện:
+ Đậm tính khẩu ngữ.
+ Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu.
III. Tổng kết:
Ghi nhớ SGK/174
2
3
4
5
6
7
8
Đồng nghĩa với trái.
“Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.”
Gợi tả nhân vật nào?
Hãy điền từ còn thiếu
“Một … chờn vờn sương sớm,
Một…ấp ui nồng đượm”
Nhân vật chính trong văn bản Làng - Kim Lân?
Đây là nhân vật nào trong Truyện Kiều (Nguyễn Du)?
Cho biết tên ngôi làng của ông Hai?
(trong tác phẩm Làng, Kim Lân)
Tác giả bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính?
Nguyễn Huệ lên ngôi lấy niên hiệu là….
Làng
Kim Lân
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
2. Tác phẩm:
II. Đọc hiểu văn bản:
II. Đọc hiểu văn bản:
Sắp xếp các chi tiết theo diễn biến truyện?
Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông bàng hoàng, tủi nhục, đau đớn, không muốn gặp ai. Ông thấy thù làng. Bị chủ nhà không cho ở nhờ nữa, gia đình ông không biết đi đâu nhưng kiên quyết không về làng. Ông nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn. Khi nhận tin cải chính, ông vui mừng khoe với mọi người rằng làng ông không theo giặc, nhà ông bị giặc đốt. Ông thêm yêu và lại say sưa kể về làng.
Tác giả đặt nhân vật ông Hai vào tình huống gay cấn: Làng Chợ Dầu theo giặc để từ đó ông Hai bộc lộ tình yêu làng, lòng yêu nước của mình.
1. Tình huống truyện
Diễn biến tâm trạng ông Hai (qua 3 thời điểm)
2. Ông Hai trước khi hay tin làng Chợ Dầu theo giặc:
2. Ông Hai trước khi hay tin làng Chợ Dầu theo giặc:
Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh.
Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió tha hồ đi khắp đầu làng cuối xóm, bùn không dính đến gót chân. Tháng năm ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, không có lấy một hạt thóc đất
Bây giờ khoe làng, ông lão lại khoe khác. Ông khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập ở làng, mà ông gia nhập phong trào từ thời kỳ còn bóng tối. Những buổi tập quân sự. Cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một hai. Mỗi lần hô động tác, anh huấn luyện viên lại phải đệm tiếng ạ… thườn thượt đằng sau: “Nghiêm ạ!… Nghỉ ạ!… Vác súng lên vai ạ!…”. Nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì làm công trình không để đâu hết. Ông lão kể rành rọt từng cái một. Cái thì đắp ở đầu xóm Ba Khu, cái thì xây ở Ngõ Mái, cái thì xẻ thông từ đầu phố trên đến tận đầu phố dưới.
Cứ như vậy, suốt cả buổi tối, ông lão ngồi vén quần lên tận bẹn trên chiếc chõng tre nhà bác Thứ mà nói liên miên hết cái đường xóm kia tốt, cái giếng xóm kia trong với những chuyện đẩu chuyện đâu về cái làng của ông lão, làm như bác Thứ cũng quen biết và bận tâm đến những thứ ấy lắm. Thực ra ông lão chỉ nói cho sướng miệng và đỡ nhớ cái làng của ông chứ cũng chẳng chú ý gì đến người nghe có thích nghe lắm không.
2. Ông Hai trước khi hay tin làng Chợ Dầu theo giặc:
- “Ông lại muốn về làng….khuân đá…”
→ Nỗi nhớ quê hương da diết, cháy bỏng.
- “Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá.”
Gặp ai quen ông Hai cũng níu lại, cười cười:
- Nắng này là bỏ mẹ chúng nó!
Có người bỡ ngỡ hỏi lại: “Chúng nó nào?” thì ông lão bật cười, giơ tay trỏ về phía tiếng súng:
- Tây ấy chứ còn chúng nó nào nữa. Ngồi trong vị trí giờ bằng ngồi tù.
Dứt lời, ông lão lại đi, làm như đang bận nhiều công việc lắm. Cũng như mọi hôm, việc đầu tiên là ông vào phòng thông tin nghe đọc báo.
- “Ruột gan ông cứ múa cả lên, vui quá!”
→ Ông luôn dõi theo cuộc kháng chiến của dân tộc.
3. Tâm trạng ông Hai khi hay tin làng Chợ Dầu theo giặc:
- “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è , nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi”
→ bàng hoàng, sững sờ đến choáng váng
“Ông Hai trả tiền nước, đứng dậy, chèm chẹp miệng, cười nhạt một tiếng, vươn vai nói to:
- Hà, nắng gớm, về nào…”
- “Ông lão vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác, rồi đi thẳng.”
→ sợ hãi, lãng tránh
- “Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi.”
→ xấu hổ, nhục nhã
- “Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường”
→ đau đớn, xót xa, tủi nhục
- “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra…”
- “Ông lão nắm chặt hai tay lại và rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.”
→ nỗi căm giận dâng trào
- “Ông lão bỗng ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình nói không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng. Quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại can tâm làm điều nhục nhã ấy!…”
→ hoài nghi, bối rối
- Cuộc đối thoại với bà hai
→ tâm trạng vô cùng nặng nề
- trằn trọc không ngủ
“Đã ba bốn hôm nay, ông Hai không bước chân ra đến ngoài, cả đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Suốt ngày ông chỉ quanh quẩn ở trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng. Nghe ngóng xem binh tình bên ngoài ra sao. Một đám đông xúm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”.Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam nhông… là ông lủi ra một góc nhà, nín thít.”
→ nỗi ám ảnh biến thành sự sợ hãi
→ bàng hoàng, sững sờ đến choáng váng
→ sợ hãi, lãng tránh
→ xấu hổ, nhục nhã
→ đau đớn, xót xa, tủi nhục
→ căm giận
→ hoài nghi, bối rối
→ nỗi ám ảnh biến thành sự sợ hãi
→ Diễn biến tâm trạng được tái hiện hợp lí, chân thực, cụ thể và cảm động
- Ông Hai bị đẩy vào tình huống bế tắt:
“Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.”
→ Tình yêu nước rộng lớn, bao trùm lên tình yêu làng quê.
đi hay về làng Chợ Dầu (yêu làng >< yêu nước).
- Lời tâm sự với đứa con nhỏ:
+ Tình yêu sâu nặng với làng Chợ Dầu
+ Tấm lòng chung thủy với kháng chiến, với cách mạng.
→ Là những tình cảm bền vững, sâu nặng, thiêng liêng.
3. Tâm trạng ông Hai khi hay tin làng được cải chính:
- Ông vui tươi, rạng rỡ, chia quà cho các con
- Khoe nhà ông bị giặc đốt cháy.
→ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước.
4. Nghệ thuật:
- Thành công trong việc xây dựng tình huống truyện.
- Miêu tả cụ thể, sinh động các diễn biến nội tâm nhân vật qua ý nghĩ, hành động, ngôn ngữ.
Ngôn ngữ truyện:
+ Đậm tính khẩu ngữ.
+ Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu.
III. Tổng kết:
Ghi nhớ SGK/174
 








Các ý kiến mới nhất