Tìm kiếm Bài giảng
Bài 13. Làng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Mai Hoa
Ngày gửi: 18h:58' 29-11-2023
Dung lượng: 86.5 KB
Số lượt tải: 26
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Mai Hoa
Ngày gửi: 18h:58' 29-11-2023
Dung lượng: 86.5 KB
Số lượt tải: 26
Số lượt thích:
0 người
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
I. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI LÀ GÌ?
- “Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán,
chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn
học nghệ thuật, triết học, đạo đức). Vấn đề được nêu ra như một
câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ. Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái,
khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí,
đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình. Sức
mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính
mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập
luận. Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh,
bác bỏ, so sánh…” (Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, tập 2).
- Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về những vấn đề
diễn ra xung quanh đời sống, xã hội. Đề tài của dạng bài nghị
luận xã hội cũng hết sức rộng mở. Nó gồm tất cả những vấn
đề về tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện tượng
tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề
thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hoá…
Nghĩa là, ngoài những tác phẩm nghị luận văn học (lấy tác
phẩm văn học, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng văn
bản viết khác đều có khả năng được xếp vào dạng nghị luận
xã hội, chính trị.
II. NHỮNG YÊU CẦU KHI LÀM VĂN NLXH
- Phải đọc kĩ đề, phân biệt được đề thuộc kiểu (dạng) nào?
- Nắm được cấu trúc từng loại, từng dạng để bám vào viết cho đúng.
- Nội dung trọng tâm, lời văn, câu văn, đoạn văn viết phải cô đúc, ngắn gọn. Lập luận phải
chặt chẽ, cảm xúc phải trong sáng, lành mạnh.
- Không lấy dẫn chứng chung chung mà phải có tính thực tế và thuyết phục.
- Phải đọc kĩ đề, gạch chân dưới những từ, cụm từ quan trọng để giải thích và lập luận cho
đúng. Những từ, cụm từ này phải thường xuyên được nhắc lại trong các luận điểm.
- Có năng lực thâu tóm, nắm bắt các vấn đề xã hội xảy ra ngoài cuộc sống…
- Mạnh dạn đề xuất quan điểm, cách nghĩ của bản thân, lập luận sao cho thuyết phục được
người đọc.
- Biết lật ngược vấn đề, soi chiếu vấn đề ở nhiều khía cạnh để luận bàn – yêu cầu đòi hỏi
bản lĩnh của người viết.
III. PHÂN LOẠI ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông thường có ba dạng đề chính. Tuy nhiên để cụ
thể hơn trong việc nhận diện, từ đó có cách làm tương ứng phù hợp, dựa vào đề thi của các
năm, chuyên đề sẽ cụ thể hóa thành các dạng sau:
1. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống
3. Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học hoặc trong một câu
chuyện.
4. Dạng đề nghị luận kết hợp hai mặt tốt - xấu trong một vấn đề
5. Dạng đề nghị luận mang tính chất đối thoại - bộc lộ suy nghĩ, quan điểm bản thân (mang
tính đối thoại) về vấn đề được đặt ra.
6. Nghị luận về một vấn đề được gợi ra từ một hình ảnh/bức tranh. Việc phân chia chỉ mang
tính tương đối, vì trong thực tế có những đề không rạch ròi, mang tính đánh lừa người viết.
Do đó, cần linh hoạt, tỉnh táo để nhận diện chính xác từng dạng, từ đó đề xuất cho mình cách
viết phù hợp.
IV. CẤU TRÚC/DÀN Ý GỢI Ý
Dạng 1 : NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ
1. Khái niệm:
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng,
đạo đức, quan điểm nhân sinh (như các vấn đề về nhận thức, về tâm hồn nhân
cách, về các quan hệ gia đình, xã hội, cách ứng xử, lối sống của con người trong
xã hội…).
Đối với học sinh trong nhà trường phổ thông, do đặc điểm tâm lý, lứa tuổi, tầm
nhận thức nên những vấn đề đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá
phức tạp, lớn lao mà chỉ là những vấn đề đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền
với cuộc sống hàng ngày như tình cảm quê hương, bạn bè, ý thức trách nhiệm,
tinh thần học tập… Những vấn đề này có thể được đặt ra một cách trực tiếp,
nhưng thông thường là được gợi mở qua một câu danh ngôn, châm ngôn, ngạn
ngữ, ca dao hay câu nói của một nhà văn hóa, nhà khoa học, người nổi tiếng…
2. Phân loại:Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý thường tồn tại ở các dạng:
- Dạng luận bàn về một tính cách hoặc một trạng thái tâm lý
VD: + Tự trọng và tự kiêu
+ Luận về sự bình yên.
- Dạng đề đưa ra một hoặc hai nhận định, nhận định ấy có thể xuất hiện qua
một câu nói, một câu thơ/ một lời hát, một châm ngôn, một tục ngữ, ca dao…
VD:+ Anh/chị nghĩ gì về câu nói: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người
khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù
của ta vậy”. (Tuân Tử)
+ Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết: “Sống trong đời sống, cần có một tấm
lòng. Để làm gì, em biết không?. Để gió cuốn đi…”. Suy nghĩ của anh/chị về lời
bài hát.
+ Anh/chị hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu: “Ôi! Sống đẹp là thế nào,
hỡi bạn?”.
+ Có ý kiến cho rằng: “Nếu anh bắn súng lục vào quá khứ, tương lai sẽ bắn
anh bằng đại bác”.
Nhưng Tổng Giám độc tập đoàn Coca Cola, Bryan Dion lại khẳng định:
“Bạn chớ để cuộc sống trôi qua kẽ tay vì bạn cứ mãi đắm chìm trong quá khứ
hay ảo tưởng về tương lai. Chỉ bằng cách sống cuộc đời mình trong từng
khoảnh khắc của nó, bạn sẽ sống trọn vẹn từng ngày của đời mình”
Anh/chị suy nghĩ như thế nào trước những lời khuyên ấy?
+ Có người nói: “Hãy làm theo sự mách bảo của con tim”. Suy nhĩ cảu anh/chị
như thế nào về câu nói đó. ( Vũ Lân tự ra)
Đối với học sinh chuyên, thì dạng nhận định về hai nhận định là dạng thường
được đề xuất.
3. Cách làm:
- Trước hết, phần mở bài phải giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần nghị
luận. Nêu ý chính (vấn đề) hoặc câu nói về tư tưởng, đạo lý mà đề bài đưa ra.
- Phần thân bài, có nhiều luận điểm. Tuy nhiên cần đảm bảo:
+Luận điểm 1: Giải thích rõ nội dung tư tưởng đạo lý. Bao gồm:
Giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen/nghĩa bóng (nếu có)
Rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý
Thực chất là đi trả lời cho câu hỏi LÀ GÌ?
+Luận điểm 2: Phân tích, chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý.
Dùng dẫn chứng để chứng minh. Từ đó, chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của
tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội.
Thực chất là đi trả lời cho câu hỏi TẠI SAO? NHƯ THẾ NÀO?
+Luận điểm 3: Bình luận, mở rộng vấn đề, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có
liên quan đến tư tưởng, đạo lý vì có những tư tưởng, đạo lý đúng trong thời
đại này nhưng hạn chế trong thời đại khác, đúng trong hoàn cảnh này nhưng
chưa đúng trong hoàn cảnh khác. Dùng dẫn chứng minh họa.
Thực chất của luận điểm này là trả lời một số câu hỏi nhằm lật ngược vấn đề,
nhìn nhận vấn đề trong nhiều chiều, nhiều góc độ, thấu đáo hơn, tránh áp đặt
khiên cưỡng (VD, các câu hỏi như: có ngoại lệ hay không? Vấn đề có thể
đúng/sai trong những hoàn cảnh khác nhau như thế nào?...)
+Luận điểm 4: Rút ra bài học nhận thức (đúng hay sai?) và hành động (cần
làm gì?). Đây là một luận điểm nhỏ nhưng là vấn đề cơ bản của nghị luận xã
hội bởi mục đích của việc nghị luận là rút ra những kết luận đúng để thuyết
phục người đọc.
- Phần kết bài, liên hệ bản thân, đánh giá chung về vấn đề.
4. Dàn ý gợi ý: a/MB: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận/trích dẫn nhận định (nếu có)
b/TB:Luận điểm
Cách làm
1/Giải thích: Nghĩa của
từ/cụm từ/cả câu
(nghĩa đen, nghĩa hàm
ẩn) LÀ GÌ?
- Dùng các từ gần nghĩa, cùng trường nghĩa để
giải thích
- Dùng các từ trái nghĩa đề giải thích
- Giải thích bằng cách nêu VD
2/Lý giải vấn đề (TẠI
SAO?)
- Để ý vào các từ ngữ trong đề bài, đặt câu hỏi (tại
sao?) sẽ tìm được ý bình luận cho riêng mình.
- Lí giải kết hợp với chứng minh. Lưu ý, nên lấy
những dẫn chứng xã hội, người thật việc thật,
không nên lấy dẫn chứng xã hội vì dễ rơi vào xa
hoặc lạc đề.
3/ Biểu hiện/hiện trạng: Vấn đề được biểu hiện hoặc
đang diễn ra như thế nào trong đời sống xã hội?
Đề cập hai phương diện:
- Tích cực: như thế nào?
- Tiêu cực: Tuy nhiên, bên cạnh đó có những biểu hiện,
tư tưởng trái ngược ntn? Phê phán.
4/ Đánh giá, luận bàn vấn đề.
Trả lời một số câu hỏi nhằm lật ngược vấn đề, nhìn nhận
vấn đề trong nhiều chiều, nhiều góc độ, thấu đáo hơn,
tránh áp đặt khiên cưỡng (VD, các câu hỏi như: có ngoại
lệ hay không? Vấn đề có thể đúng/sai trong những hoàn
cảnh khác nhau như thế nào?...)
Đây là phần thể hiện bản lĩnh, độ sắc, nhạy của người
viết.
5/ Rút ra bài học:
- BH nhận thức
- BH hành động
Phần này gần với việc đề xuất các giải pháp:
+ Cá nhân (mỗi người tự ý thức ra sao? Tu dưỡng phẩm
chất, đạo đức?...)
+ Gia đình?
+ Nhà trường?
+ Xã hội (tuyên truyền, tham gia các hoạt động xã hội…)
Lưu ý: - Dẫn chứng phải thuyết phục, thường là NHÂN VẬT – SỰ KIỆN, không dùng dẫn
chứng chung chung.
c/ KB: Khẳng định lại vấn đề
5. Đề và gợi ý giải đề:
Đối với đối tượng là học sinh giỏi, xu hướng đề thường ra là lựa chọn một vấn đề
được gửi gắm qua hai nhận định (hai nhận định này được phát biểu dưới dạng một ý kiến,
một câu nói, một câu danh ngôn…). Do đó, lưu ý, nếu đề bàn đến hai câu nói (nhận định, ý
kiến) hoặc hai vế khác nhau trong một câu nói (dạng này chuyên đề tách thành dạng nghị
luận về một vấn đề chứa đựng hai mặt tốt – xấu, sẽ trình bày cấu trúc cụ thể ở phần sau)
thì cách làm, phần lớn là:
- Giải thích, phân tích, bình luận từng ý kiến cho rõ ràng. Đọc qua nghe chừng hai ý kiến rất
mâu thuẫn nhau nhưng thực chất lại có mối quan hệ nhất định với nhau. Mối quan hệ đó,
có thể là bổ sung ý kiến cho nhau, cũng có thể hoàn toàn đối lập nhau. Nhưng phần lớn là
bổ sung, làm rõ thêm cho cùng một vấn đề. Do đó, tùy vào đề bài, người viết cần linh hoạt
và lựa chọn lối đi cho mình sao cho phù hợp. Hoặc đồng tình với cả hai ý kiến, hoặc đứng
hẳn về một ý kiến hoặc lấy phần đúng trong mỗi ý kiến đề đề xuất cách hiểu đúng đắn.
Đề 1: Ngạn ngữ có câu:
“Cuộc đời ngắn ngủi không cho phép ta ước vọng quá nhiều”.
Thế nhưng nhà văn Nga M.Prisvin lại cho rằng:
“Phải ước mơ nhiều hơn nữa, phải ước mơ tha thiết hơn nữa để biến tương lai thành hiện
tại”.
Hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị về hai câu nói trên.
Gợi ý giải đề
- Giải thích:
+ Ý kiến 1: “Cuộc đời ngắn ngủi” được hiểu là thời gian dành cho mỗi con người luôn có
hạn, không ai sống mãi được cùng với thời gian.
-> Câu ngạn ngữ đưa ra lời khuyên: Cuộc sống luôn có những giới hạn, con người sẽ không
đủ thời gian để thực hiện ước mơ, vì vậy không nên quá tham vọng, mơ ước những điều
viển vông.
+ Ý kiến 2: “Biến tương lai thành hiện thức”, biến những điều con người mơ ước, những
điều chưa có trong hiện thực thành những thứ có thực.
-> Câu nói khuyên con người, phải có những ước mơ lớn lao, như vậy mới biến tương lai
thành sự thật.
=> Hai ý kiến đưa ra hai quan điểm tưởng như đối lập nhưng thực chất là bổ sung cho
nhau, thể hiện tọn vẹn hai mặt của một vấn đề. Con người phải viết vươn cao,vươn xa
nhưng đồng thời cũng phải tỉnh táo lựa chọn cho mình những điều phù hợp, không chạy
theo những giá trị phù du, viển vông, vô nghĩa.
- Phân tích, chứng minh (tính đúng đắn hoặc sai lầm hoặc vừa đúng vưà sai) của ý kiến
bằng việc bày tỏ sự đồng tình (hoặc phản đối hoặc vừa đồng tình vừa phản đối) đối với ý
kiến:
+ Ước mơ và khát vọng sống làm nên vẻ đẹp cuộc sống: ước mơ là một trong những thước
đo tầm vóc của con người, những người có ước mơ càng đẹp thì càng có khả năng tiến xa
trong cuộc sống; người có ước mơ, hoài bão mới có động cơ, phương hướng tìm tòi, tự
học và sáng tạo; khi sống và làm việc đề thực hiện ước mơ con người sẽ có niềm vui, niềm
hạnh phúc, sẽ tìm thấy ý nghĩa, giá trị của sự sống, con người sẽ cảm thấy cuộc sống không
trôi đi một cách vô nghĩa, lãng phí…
+ Ước mơ không đồng nghĩa với việc chạy theo những điều viển vông, phi thực tế: không
nên ước mơ xa vời mà phải thiết thực vì cuộc sống là hữu hạn, con người không bao giờ đủ
khả năng và thời gian để làm tất cả mọi việc; Cuộc đời được tạo nên từ những điều bình dị,
do đó không nên chạy theo những ước mơ viễn vông mà đánh mất đi chân giá trị của cuộc
ống; Đôi khi cần phải biết bằng lòng với những gì mình đang có, bằng lòng với cuộc sống
con người sẽ cảm thấy thanh thản hơn, bình yên hơn.
=> Phải biết cân bằng giữa ước mơ và thực tại, ước mơ bắt nguồn từ cuốc sống. Phải theo
đuổi ước mơ nhưng đừng mơ một cách hão huyền.
- Bàn luận, mở rộng:
+ Phê phán hai hiện tượng”
- Những người sống không có hoài bão, không biết vươn lên để tạo ra một tương lai tốt
đẹp. Cuộc sống của những con người này sẽ mãi trì trệ, dậm chân tại chỗ.
- Ngược lại, có những kẻ quá tham vọng, ước mơ viễn vông mà chạy theo các giá trị phù du
để rồi đánh mất mình
(Có thể dùng các dẫn chứng sau để chứng minh:
- Đặng Lê Nguyên Vũ – ông chủ hãng cà phê Trung Nguyên, chứng kiến cảnh cha bị bệnh
nặng, chỉ cần 2 triệu để có thể chạy chữa bệnh cho cha, vậy mà vay mượn cả đại gia đình
cuãng không đủ, cậu con trai 16 tuổi đã thề với lòng: “Một ngày nào đó mình sẽ thay đổi
cuộc sống của cả đại gia đình này”. Sau này, cậu bé ngày nào đã khời nghiệp bằng căn nhà
thuê chỉ vài mét vuông để xay cà phê, đạp xe hàng cây số để giao hàng… lại trở thành ông
chủ tập đoàn sản xuất cà phê lớn nhất Việt Nam
- Walt Disney – giám đốc hãng phim truyền hình lớn nhất thế giới. Sinh ra trong một gia
đình nghèo khó, mê vẽ. Vì không có tiền nên đã dùng than để vẽ lên giấy vệ sinh. Sau này
đã trở thành cái tên đình đám trong giới phim và các hãng truyền thông).
- Rút ra bài học
Đề 2: Có ý kiến cho rằng: “Sống là không chờ đợi, bởi vậy, để không lãng phí thời gian, con
người cần phải làm việc và nỗ lực hết mình”.
Lại cũng có ý kiến cho rằng: “Để cuộc đời trở nên có ý nghĩa, con người cần phải sống chậm
lại, tận hưởng những vẻ đẹp cuộc sống”.
Anh/chị đồng tình với quan điểm nào? Viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của
anh chị về hai ý kiến trên.
1. Mở bài
Giới thiệu về nghị luận của anh/chị : có người cho rằng, sống là không chờ đợi, có ý kiến
khác cho rằng nên sống chậm lại.
2. Thân bài
* Giải thích:
- Sống không chờ đợi: Sống hết mình, sống cống hiến, hướng về tương lai, tận hưởng từng
khoảnh khắc trong cuộc sống.
- Sống chậm: Sống bình lặng, sống không hối hả để có thể trải nghiệm, quan sát cuộc đời,
giống như cách sống của những nhà hiền triết thời xưa.
* Hiện trạng:
- Sống nhanh, sống không chờ đợi là lối sống của hầu hết các bạn trẻ hiện nay. Sống nhanh
thể hiện tinh thần làm việc và hưởng thụ hết mình.
→ Những bạn trẻ sống nhanh thường có một cuộc sống năng động, lý thú. Mặt trái của
việc sống nhanh là lối sống vội, quên mất cái tôi của mình mà mải miết chạy theo phù du
- Tuy vậy, sống chậm không phải là lối sống lề mề. Sống chậm lại để tận hưởng và lắng
nghe, để hướng về gia đình, để dành thời gian cho bản thân.
* Ý nghĩa:
- Hai cách sống song song tồn tại đòi hỏi con người sống phải biết cân bằng. Sống vừa cần
nhanh chóng, vừa cần chậm rãi để có thể bắt kịp xu thế, không bị tụt hậu nhưng vẫn phải
có những khoảng lặng yên bình.
* Bình luận:
- Sống chậm rãi không phải là lối sống lười biếng, trì hoãn. Đồng thời, sống nhanh không
phải lối sống buông thả, sống không cần biết ngày mai
* Bài học:
- Là người trẻ, là tương lai đất nước, chúng ta cần có một lối sống cân bằng, an toàn và
lành mạnh bằng cách tự rèn luyện bản thân và cân bằng cuộc sống.
3. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận
I. NGHỊ LUẬN XÃ HỘI LÀ GÌ?
- “Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán,
chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn
học nghệ thuật, triết học, đạo đức). Vấn đề được nêu ra như một
câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ. Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái,
khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí,
đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình. Sức
mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính
mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập
luận. Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh,
bác bỏ, so sánh…” (Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, tập 2).
- Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về những vấn đề
diễn ra xung quanh đời sống, xã hội. Đề tài của dạng bài nghị
luận xã hội cũng hết sức rộng mở. Nó gồm tất cả những vấn
đề về tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện tượng
tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, vấn đề
thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hoá…
Nghĩa là, ngoài những tác phẩm nghị luận văn học (lấy tác
phẩm văn học, nhà văn làm đối tượng), tất cả các dạng văn
bản viết khác đều có khả năng được xếp vào dạng nghị luận
xã hội, chính trị.
II. NHỮNG YÊU CẦU KHI LÀM VĂN NLXH
- Phải đọc kĩ đề, phân biệt được đề thuộc kiểu (dạng) nào?
- Nắm được cấu trúc từng loại, từng dạng để bám vào viết cho đúng.
- Nội dung trọng tâm, lời văn, câu văn, đoạn văn viết phải cô đúc, ngắn gọn. Lập luận phải
chặt chẽ, cảm xúc phải trong sáng, lành mạnh.
- Không lấy dẫn chứng chung chung mà phải có tính thực tế và thuyết phục.
- Phải đọc kĩ đề, gạch chân dưới những từ, cụm từ quan trọng để giải thích và lập luận cho
đúng. Những từ, cụm từ này phải thường xuyên được nhắc lại trong các luận điểm.
- Có năng lực thâu tóm, nắm bắt các vấn đề xã hội xảy ra ngoài cuộc sống…
- Mạnh dạn đề xuất quan điểm, cách nghĩ của bản thân, lập luận sao cho thuyết phục được
người đọc.
- Biết lật ngược vấn đề, soi chiếu vấn đề ở nhiều khía cạnh để luận bàn – yêu cầu đòi hỏi
bản lĩnh của người viết.
III. PHÂN LOẠI ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông thường có ba dạng đề chính. Tuy nhiên để cụ
thể hơn trong việc nhận diện, từ đó có cách làm tương ứng phù hợp, dựa vào đề thi của các
năm, chuyên đề sẽ cụ thể hóa thành các dạng sau:
1. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống
3. Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học hoặc trong một câu
chuyện.
4. Dạng đề nghị luận kết hợp hai mặt tốt - xấu trong một vấn đề
5. Dạng đề nghị luận mang tính chất đối thoại - bộc lộ suy nghĩ, quan điểm bản thân (mang
tính đối thoại) về vấn đề được đặt ra.
6. Nghị luận về một vấn đề được gợi ra từ một hình ảnh/bức tranh. Việc phân chia chỉ mang
tính tương đối, vì trong thực tế có những đề không rạch ròi, mang tính đánh lừa người viết.
Do đó, cần linh hoạt, tỉnh táo để nhận diện chính xác từng dạng, từ đó đề xuất cho mình cách
viết phù hợp.
IV. CẤU TRÚC/DÀN Ý GỢI Ý
Dạng 1 : NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ
1. Khái niệm:
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng,
đạo đức, quan điểm nhân sinh (như các vấn đề về nhận thức, về tâm hồn nhân
cách, về các quan hệ gia đình, xã hội, cách ứng xử, lối sống của con người trong
xã hội…).
Đối với học sinh trong nhà trường phổ thông, do đặc điểm tâm lý, lứa tuổi, tầm
nhận thức nên những vấn đề đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá
phức tạp, lớn lao mà chỉ là những vấn đề đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền
với cuộc sống hàng ngày như tình cảm quê hương, bạn bè, ý thức trách nhiệm,
tinh thần học tập… Những vấn đề này có thể được đặt ra một cách trực tiếp,
nhưng thông thường là được gợi mở qua một câu danh ngôn, châm ngôn, ngạn
ngữ, ca dao hay câu nói của một nhà văn hóa, nhà khoa học, người nổi tiếng…
2. Phân loại:Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý thường tồn tại ở các dạng:
- Dạng luận bàn về một tính cách hoặc một trạng thái tâm lý
VD: + Tự trọng và tự kiêu
+ Luận về sự bình yên.
- Dạng đề đưa ra một hoặc hai nhận định, nhận định ấy có thể xuất hiện qua
một câu nói, một câu thơ/ một lời hát, một châm ngôn, một tục ngữ, ca dao…
VD:+ Anh/chị nghĩ gì về câu nói: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người
khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù
của ta vậy”. (Tuân Tử)
+ Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết: “Sống trong đời sống, cần có một tấm
lòng. Để làm gì, em biết không?. Để gió cuốn đi…”. Suy nghĩ của anh/chị về lời
bài hát.
+ Anh/chị hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu: “Ôi! Sống đẹp là thế nào,
hỡi bạn?”.
+ Có ý kiến cho rằng: “Nếu anh bắn súng lục vào quá khứ, tương lai sẽ bắn
anh bằng đại bác”.
Nhưng Tổng Giám độc tập đoàn Coca Cola, Bryan Dion lại khẳng định:
“Bạn chớ để cuộc sống trôi qua kẽ tay vì bạn cứ mãi đắm chìm trong quá khứ
hay ảo tưởng về tương lai. Chỉ bằng cách sống cuộc đời mình trong từng
khoảnh khắc của nó, bạn sẽ sống trọn vẹn từng ngày của đời mình”
Anh/chị suy nghĩ như thế nào trước những lời khuyên ấy?
+ Có người nói: “Hãy làm theo sự mách bảo của con tim”. Suy nhĩ cảu anh/chị
như thế nào về câu nói đó. ( Vũ Lân tự ra)
Đối với học sinh chuyên, thì dạng nhận định về hai nhận định là dạng thường
được đề xuất.
3. Cách làm:
- Trước hết, phần mở bài phải giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần nghị
luận. Nêu ý chính (vấn đề) hoặc câu nói về tư tưởng, đạo lý mà đề bài đưa ra.
- Phần thân bài, có nhiều luận điểm. Tuy nhiên cần đảm bảo:
+Luận điểm 1: Giải thích rõ nội dung tư tưởng đạo lý. Bao gồm:
Giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen/nghĩa bóng (nếu có)
Rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý
Thực chất là đi trả lời cho câu hỏi LÀ GÌ?
+Luận điểm 2: Phân tích, chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý.
Dùng dẫn chứng để chứng minh. Từ đó, chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của
tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội.
Thực chất là đi trả lời cho câu hỏi TẠI SAO? NHƯ THẾ NÀO?
+Luận điểm 3: Bình luận, mở rộng vấn đề, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có
liên quan đến tư tưởng, đạo lý vì có những tư tưởng, đạo lý đúng trong thời
đại này nhưng hạn chế trong thời đại khác, đúng trong hoàn cảnh này nhưng
chưa đúng trong hoàn cảnh khác. Dùng dẫn chứng minh họa.
Thực chất của luận điểm này là trả lời một số câu hỏi nhằm lật ngược vấn đề,
nhìn nhận vấn đề trong nhiều chiều, nhiều góc độ, thấu đáo hơn, tránh áp đặt
khiên cưỡng (VD, các câu hỏi như: có ngoại lệ hay không? Vấn đề có thể
đúng/sai trong những hoàn cảnh khác nhau như thế nào?...)
+Luận điểm 4: Rút ra bài học nhận thức (đúng hay sai?) và hành động (cần
làm gì?). Đây là một luận điểm nhỏ nhưng là vấn đề cơ bản của nghị luận xã
hội bởi mục đích của việc nghị luận là rút ra những kết luận đúng để thuyết
phục người đọc.
- Phần kết bài, liên hệ bản thân, đánh giá chung về vấn đề.
4. Dàn ý gợi ý: a/MB: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận/trích dẫn nhận định (nếu có)
b/TB:Luận điểm
Cách làm
1/Giải thích: Nghĩa của
từ/cụm từ/cả câu
(nghĩa đen, nghĩa hàm
ẩn) LÀ GÌ?
- Dùng các từ gần nghĩa, cùng trường nghĩa để
giải thích
- Dùng các từ trái nghĩa đề giải thích
- Giải thích bằng cách nêu VD
2/Lý giải vấn đề (TẠI
SAO?)
- Để ý vào các từ ngữ trong đề bài, đặt câu hỏi (tại
sao?) sẽ tìm được ý bình luận cho riêng mình.
- Lí giải kết hợp với chứng minh. Lưu ý, nên lấy
những dẫn chứng xã hội, người thật việc thật,
không nên lấy dẫn chứng xã hội vì dễ rơi vào xa
hoặc lạc đề.
3/ Biểu hiện/hiện trạng: Vấn đề được biểu hiện hoặc
đang diễn ra như thế nào trong đời sống xã hội?
Đề cập hai phương diện:
- Tích cực: như thế nào?
- Tiêu cực: Tuy nhiên, bên cạnh đó có những biểu hiện,
tư tưởng trái ngược ntn? Phê phán.
4/ Đánh giá, luận bàn vấn đề.
Trả lời một số câu hỏi nhằm lật ngược vấn đề, nhìn nhận
vấn đề trong nhiều chiều, nhiều góc độ, thấu đáo hơn,
tránh áp đặt khiên cưỡng (VD, các câu hỏi như: có ngoại
lệ hay không? Vấn đề có thể đúng/sai trong những hoàn
cảnh khác nhau như thế nào?...)
Đây là phần thể hiện bản lĩnh, độ sắc, nhạy của người
viết.
5/ Rút ra bài học:
- BH nhận thức
- BH hành động
Phần này gần với việc đề xuất các giải pháp:
+ Cá nhân (mỗi người tự ý thức ra sao? Tu dưỡng phẩm
chất, đạo đức?...)
+ Gia đình?
+ Nhà trường?
+ Xã hội (tuyên truyền, tham gia các hoạt động xã hội…)
Lưu ý: - Dẫn chứng phải thuyết phục, thường là NHÂN VẬT – SỰ KIỆN, không dùng dẫn
chứng chung chung.
c/ KB: Khẳng định lại vấn đề
5. Đề và gợi ý giải đề:
Đối với đối tượng là học sinh giỏi, xu hướng đề thường ra là lựa chọn một vấn đề
được gửi gắm qua hai nhận định (hai nhận định này được phát biểu dưới dạng một ý kiến,
một câu nói, một câu danh ngôn…). Do đó, lưu ý, nếu đề bàn đến hai câu nói (nhận định, ý
kiến) hoặc hai vế khác nhau trong một câu nói (dạng này chuyên đề tách thành dạng nghị
luận về một vấn đề chứa đựng hai mặt tốt – xấu, sẽ trình bày cấu trúc cụ thể ở phần sau)
thì cách làm, phần lớn là:
- Giải thích, phân tích, bình luận từng ý kiến cho rõ ràng. Đọc qua nghe chừng hai ý kiến rất
mâu thuẫn nhau nhưng thực chất lại có mối quan hệ nhất định với nhau. Mối quan hệ đó,
có thể là bổ sung ý kiến cho nhau, cũng có thể hoàn toàn đối lập nhau. Nhưng phần lớn là
bổ sung, làm rõ thêm cho cùng một vấn đề. Do đó, tùy vào đề bài, người viết cần linh hoạt
và lựa chọn lối đi cho mình sao cho phù hợp. Hoặc đồng tình với cả hai ý kiến, hoặc đứng
hẳn về một ý kiến hoặc lấy phần đúng trong mỗi ý kiến đề đề xuất cách hiểu đúng đắn.
Đề 1: Ngạn ngữ có câu:
“Cuộc đời ngắn ngủi không cho phép ta ước vọng quá nhiều”.
Thế nhưng nhà văn Nga M.Prisvin lại cho rằng:
“Phải ước mơ nhiều hơn nữa, phải ước mơ tha thiết hơn nữa để biến tương lai thành hiện
tại”.
Hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị về hai câu nói trên.
Gợi ý giải đề
- Giải thích:
+ Ý kiến 1: “Cuộc đời ngắn ngủi” được hiểu là thời gian dành cho mỗi con người luôn có
hạn, không ai sống mãi được cùng với thời gian.
-> Câu ngạn ngữ đưa ra lời khuyên: Cuộc sống luôn có những giới hạn, con người sẽ không
đủ thời gian để thực hiện ước mơ, vì vậy không nên quá tham vọng, mơ ước những điều
viển vông.
+ Ý kiến 2: “Biến tương lai thành hiện thức”, biến những điều con người mơ ước, những
điều chưa có trong hiện thực thành những thứ có thực.
-> Câu nói khuyên con người, phải có những ước mơ lớn lao, như vậy mới biến tương lai
thành sự thật.
=> Hai ý kiến đưa ra hai quan điểm tưởng như đối lập nhưng thực chất là bổ sung cho
nhau, thể hiện tọn vẹn hai mặt của một vấn đề. Con người phải viết vươn cao,vươn xa
nhưng đồng thời cũng phải tỉnh táo lựa chọn cho mình những điều phù hợp, không chạy
theo những giá trị phù du, viển vông, vô nghĩa.
- Phân tích, chứng minh (tính đúng đắn hoặc sai lầm hoặc vừa đúng vưà sai) của ý kiến
bằng việc bày tỏ sự đồng tình (hoặc phản đối hoặc vừa đồng tình vừa phản đối) đối với ý
kiến:
+ Ước mơ và khát vọng sống làm nên vẻ đẹp cuộc sống: ước mơ là một trong những thước
đo tầm vóc của con người, những người có ước mơ càng đẹp thì càng có khả năng tiến xa
trong cuộc sống; người có ước mơ, hoài bão mới có động cơ, phương hướng tìm tòi, tự
học và sáng tạo; khi sống và làm việc đề thực hiện ước mơ con người sẽ có niềm vui, niềm
hạnh phúc, sẽ tìm thấy ý nghĩa, giá trị của sự sống, con người sẽ cảm thấy cuộc sống không
trôi đi một cách vô nghĩa, lãng phí…
+ Ước mơ không đồng nghĩa với việc chạy theo những điều viển vông, phi thực tế: không
nên ước mơ xa vời mà phải thiết thực vì cuộc sống là hữu hạn, con người không bao giờ đủ
khả năng và thời gian để làm tất cả mọi việc; Cuộc đời được tạo nên từ những điều bình dị,
do đó không nên chạy theo những ước mơ viễn vông mà đánh mất đi chân giá trị của cuộc
ống; Đôi khi cần phải biết bằng lòng với những gì mình đang có, bằng lòng với cuộc sống
con người sẽ cảm thấy thanh thản hơn, bình yên hơn.
=> Phải biết cân bằng giữa ước mơ và thực tại, ước mơ bắt nguồn từ cuốc sống. Phải theo
đuổi ước mơ nhưng đừng mơ một cách hão huyền.
- Bàn luận, mở rộng:
+ Phê phán hai hiện tượng”
- Những người sống không có hoài bão, không biết vươn lên để tạo ra một tương lai tốt
đẹp. Cuộc sống của những con người này sẽ mãi trì trệ, dậm chân tại chỗ.
- Ngược lại, có những kẻ quá tham vọng, ước mơ viễn vông mà chạy theo các giá trị phù du
để rồi đánh mất mình
(Có thể dùng các dẫn chứng sau để chứng minh:
- Đặng Lê Nguyên Vũ – ông chủ hãng cà phê Trung Nguyên, chứng kiến cảnh cha bị bệnh
nặng, chỉ cần 2 triệu để có thể chạy chữa bệnh cho cha, vậy mà vay mượn cả đại gia đình
cuãng không đủ, cậu con trai 16 tuổi đã thề với lòng: “Một ngày nào đó mình sẽ thay đổi
cuộc sống của cả đại gia đình này”. Sau này, cậu bé ngày nào đã khời nghiệp bằng căn nhà
thuê chỉ vài mét vuông để xay cà phê, đạp xe hàng cây số để giao hàng… lại trở thành ông
chủ tập đoàn sản xuất cà phê lớn nhất Việt Nam
- Walt Disney – giám đốc hãng phim truyền hình lớn nhất thế giới. Sinh ra trong một gia
đình nghèo khó, mê vẽ. Vì không có tiền nên đã dùng than để vẽ lên giấy vệ sinh. Sau này
đã trở thành cái tên đình đám trong giới phim và các hãng truyền thông).
- Rút ra bài học
Đề 2: Có ý kiến cho rằng: “Sống là không chờ đợi, bởi vậy, để không lãng phí thời gian, con
người cần phải làm việc và nỗ lực hết mình”.
Lại cũng có ý kiến cho rằng: “Để cuộc đời trở nên có ý nghĩa, con người cần phải sống chậm
lại, tận hưởng những vẻ đẹp cuộc sống”.
Anh/chị đồng tình với quan điểm nào? Viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của
anh chị về hai ý kiến trên.
1. Mở bài
Giới thiệu về nghị luận của anh/chị : có người cho rằng, sống là không chờ đợi, có ý kiến
khác cho rằng nên sống chậm lại.
2. Thân bài
* Giải thích:
- Sống không chờ đợi: Sống hết mình, sống cống hiến, hướng về tương lai, tận hưởng từng
khoảnh khắc trong cuộc sống.
- Sống chậm: Sống bình lặng, sống không hối hả để có thể trải nghiệm, quan sát cuộc đời,
giống như cách sống của những nhà hiền triết thời xưa.
* Hiện trạng:
- Sống nhanh, sống không chờ đợi là lối sống của hầu hết các bạn trẻ hiện nay. Sống nhanh
thể hiện tinh thần làm việc và hưởng thụ hết mình.
→ Những bạn trẻ sống nhanh thường có một cuộc sống năng động, lý thú. Mặt trái của
việc sống nhanh là lối sống vội, quên mất cái tôi của mình mà mải miết chạy theo phù du
- Tuy vậy, sống chậm không phải là lối sống lề mề. Sống chậm lại để tận hưởng và lắng
nghe, để hướng về gia đình, để dành thời gian cho bản thân.
* Ý nghĩa:
- Hai cách sống song song tồn tại đòi hỏi con người sống phải biết cân bằng. Sống vừa cần
nhanh chóng, vừa cần chậm rãi để có thể bắt kịp xu thế, không bị tụt hậu nhưng vẫn phải
có những khoảng lặng yên bình.
* Bình luận:
- Sống chậm rãi không phải là lối sống lười biếng, trì hoãn. Đồng thời, sống nhanh không
phải lối sống buông thả, sống không cần biết ngày mai
* Bài học:
- Là người trẻ, là tương lai đất nước, chúng ta cần có một lối sống cân bằng, an toàn và
lành mạnh bằng cách tự rèn luyện bản thân và cân bằng cuộc sống.
3. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận
 








Các ý kiến mới nhất