Tìm kiếm Bài giảng
LỊCH SỬ TRIỀU NGUYỄN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: TỰ LÀM
Người gửi: Đặng thanh hoa
Ngày gửi: 18h:16' 23-08-2021
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 32
Nguồn: TỰ LÀM
Người gửi: Đặng thanh hoa
Ngày gửi: 18h:16' 23-08-2021
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 32
Số lượt thích:
0 người
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (THẾ KỈ XVII-XIX)
HV: LSVN 16.1
ĐẶNG THANH HOA
NGUYỄN THỊ LẮM
CHUYÊN ĐỀ: TRIỀU NGUYỄN TRONG TIẾN TRÌNH LICH SỬ VIỆT NAM
Company Logo
II. CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÀ
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TK XVII-XIX
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT
III. KẾT LUẬN
Nghề nông là nghề gốc của các nước phong kiến. Về căn bản đây là một nền kinh tế tự cung tự cấp. Mọi nguồn thu của quốc khố chủ yếu thuế điền và thuế đinh đánh vào ruộng và lao động mà tuyệt đại đa số là nông dân. Ruộng đất và nông dân là hai yếu tố quyết định của nông nghiệp. Vì vậy triều đình phong kiến Việt Nam nào cũng phải thi hành “ chính sách trọng nông”.
I. KHÁI QUÁT
+ Một là: Việc khai hoang lập đồn điền của binh lính quan lại và kẻ giàu có “ dân có vật lực”- chiêu mộ dân từ đàng trong vào lập nên những điền sản lớn- những đồn điền quân sự hay dân sự. (vd: từ năm 1698, khi Nguyễn Hữu Kính theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào “kinh dịch”( tổ chức việc quản lý hành chính, kt, xh) thì đất Đông Phố (tên gọi chung đất Biên Hoà-Gia Định) mới bắt đầu chịu sự cai trị của các chúa Nguyễn và dân số ở đây đã có hơn 10.000 hộ với 200.000 khẩu)
II. CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TK XVII-XIX
2.1 Giai đoạn : (năm 1698-cuối tk XVIII)
+Hai là do các đoàn quân tướng người Hoa, nguyên là quan lại nhà Minh không chịu khuất phục nhà Mãn Thanh, bỏ chạy sang VN tị nạn xin làm ăn. Họ cũng tiến hành khai khẩn đất hoang phát triển nghề nông lúc đầu, nhưng chủ yếu chỉ nhằm phục vụ cho việc tồn tại của họ để về sau xd chợ búa, phố xá, đô thị, đẩy mạnh việc mua bán, phát triển các vùnđại phố, cảng Mang Khảm- Hà Tiên g Cù Lao Phố, Nông Nại sầm uất phát đạt một thời.
2.2 Giai đoạn: dưới các thời vua triều Nguyễn trong tk XIX
(năm 1802-1883)
- Nhà Nguyễn đẩy mạnh tốc độ khai hoang trong thế kỉ XIX nhằm 3 mục tiêu:
+Mở mang đất đai canh tác để phát triển sx lương thực, đồng thời để tăng thêm nguồn thu tô thuế.
+Để bảo đảm an ninh quốc phòng nhất là vùng biên giới phía Tây, thường có quân Xiêm quấy phá và dân bản địa vùng Ba Xuyên- Tịnh Biên cũng đã từng nổi dậy chống nhà Nguyễn
+Phát triển giai cấp địa chủ làm chổ dựa cho chính quyền nhà Nguyễn ở Nam Bộ
- Nhà Nguyễn cũng có nhiều biện pháp khai hoang tích cực như
Một là vẫn khuyến khích di dân tự do khai phá đất hoang bằng nhiều thủ tục dễ dãi và tự do lựa chọn nơi khai phá, thậm chí vẫn còn trợ cấp thêm tiền thóc, nông cụ, có lệ khen thưởng bằng tiền và phẩm hàm chức sắc cho những ai khai hoang nhiều với các mức cụ thể từ 20 mẫu đến 800 mẫu, và cũng có lệ phạt bằng tiền, trừ lương và phạt đánh từ 60 trượng đến 100 trượng đối với quan chức có trách nhiệm mà để ruộng đất bỏ hoang nhiều hay ít
Biện pháp
Hai là ra lệnh cho quan lại địa phương phải bảo đảm mức khai hoang lập làng mới để phát triển nông nghiệp và bảo đảm an ninh quốc phòng, nhất là ở vùng biên giới với chính sách được miễn thuế 3 năm hay lâu hơn và được thưởng phạt rõ ràng nghiêm khắc
Ba là bản thân triều đình cử những đại quan đứng ra tổ chức binh lính hay mộ dân khai hoang lập đồn điền, xây dựng làng ấp và đào những công trình thuỷ lợi quy mô để phát triển nông nghiệp và giao thông đường thuỷ
- Dưới thời nhà Nguyễn, tiêu biểu vua Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức
Vua gia Long, 1803 đã có một quyết định độc đáo, đưa ra trưng cầu ý kiến quan lại, sỹ thứ về việc hộ đê. Những ý hay được ban thưởng, đưa ra đình thần phúc nghị, định thành điều lệ để thi hành. Lập nha đê chính ở Bắc Thành để chăm lo đê điều. 1808-1810 cho đắp các đập Hà Trứ, Kim Đôi, An Xuân ở Duyên Hải để ngăn nước mặn, mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp ở vùng biển. 1814 cho đào sông An Cựu để giải quyết yêu cầu tưới tiêu cho phía nam kinh đô Phú Xuân.
Vua Minh Mạng viết sách M Mạng chánh yếu và ban hành thập điều huấn dụ, đề cao chính sách trọng nông, nhấn mạnh “ dĩ nông vi bản”, kêu gọi giữ lấy nghiệp nhà nông theo điều thứ 3 là “ vụ bản nghiệp”, đặt thêm chức “ dinh điền sứ” coi việc tăng gia diện tích canh tác bên cạnh các chức “ hà đê sứ”, “khuyến nông quan”…cho đào kênh Vĩnh Tế một ký quan thuỷ lợi của đất nước, đưa chính sách khuyến nông lên thành chính sách “ Vệ nông” toàn diện, nghiệm ngặt.
Đặc biệt từ năm 1827, M Mạng cho phục hồi và phát triển có bài bản quy mô nghiêm túc các điển lệ với những hình thức lễ nghi trang trọng để gây ý thức “ trọng nông”, “ khuyến nông”, “ vệ nông” thường xuyên trong quan lại và dân chúng.
KÊNH BẢO ĐỊNH Con kênh được đào vào năm 1818 và đây là con kênh dài đầu tiên được thực hiện dưới triều Nguyễn, do vua Gia Long cử Trấn thủ Vĩnh Thanh bấy giờ là Thoại Ngọc Hầu (1762 - 1829) phụ trách
Kênh Vĩnh Tế trong chiến lược củng cố quốc phòng - an ninh của nhà Nguyễn (1802 - 1867)
Kênh Thoại Hà, đoạn chảy qua thị trấn Núi Sập huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (2/2008) (Nguồn: wikipedia).
Kênh Thoại Hà, đoạn chảy qua thị trấn Núi Sập
Lễ tế trời ở đàn Nam Giao đầu năm được tổ chức thường xuyên để vua đến lạy trời, giết trâu, dâng lễ cầu mong mưa thuận gió hoà quanh năm, nông nghiệp được mùa, dân no ấm…
Lễ tịch điền được cử hành vào hạ tuần tháng tư AL hằng năm, để vua thân chinh tự mình cầm cày dắt trâu cày 3 luống, sau đó quan lại theo thứ tự lớn nhỏ cày tiếp rồi vãi lúa. Ruộng lúa này phải được chăm bón tối đa bảo đảm phải được mùa. Lúa thu hoạch phải dùng vào việc cúng tế
Ngoài công việc khẩn hoang được thúc đẩy mạnh ở Nam Bộ, M Mạng cũng đề cao công lao của Nguyễn Công Trứ tích cực công cuộckhẩn hoang quy mô thành công lớn ở vùng Kim Sơn, Tiền Hải(BBộ)
Tự Đức cũng làm được một số việc đáng kể như: đã ban hành các sách: “ nông tang y thực”, “châu huyện đề cương”, “ bổ hoàng khảo” ( dạy bắt sâu) để giáo dục những kị thuật mới trong nông nghiệp. 1865, Tự Đức cho chế tạo 27 cỗ xe trâu chống hạn cấp phát cho các Trấn Thanh- Nghệ, Thuận quãng, Bình Phú làm mẫu và cho mượn tiền để chế tạo, nhân rộng loại xe này, đáp ứng kịp thời yêu cầu chống hạn ở các địa phương ấy. 1870, Tự Đức nối gót Gia Long, M Mạng cho đắp nhiều đập năn nước mặn, mở rộng diện tích canh tác ở Ngự Long, Bần Thuỷ…Đặc biệt, Tự Đức tiếp tục cho phát triển mạnh hơn hệ thống kênh rạch ở Nam Bộ
III. KẾT LUẬN
Nhà nước cho phép ruộng do dân tự đứng ra khai khẩn được biến thành ruộng tư; ruộng do các nhóm tư nhân hay tập thể làng xã khai khẩn được biến thành ruộng công của làng xã Đây cũng là bước quan trọng trong việc thừa nhận quyền tư hữu hoá những ruộng đất khẩn hoang.
Chính sách của nhà Nguyễn đối với ruộng đất khai hoang ở đồng bằng Bắc bộ, một mặt phản ánh xu thế tất yếu của lịch sử và xu hướng tư hữu hoá ruộng đất, tạo đk cho sự củng cố kinh tế sở hữu tư nhân, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp và do đó, khách quan nó cũng thúc đẩy kt hh phát triển
Đối với dân khai hoang, nhà Nguyễn đã chú ý thoả mãn yêu cầu của họ→chứng tỏ các vua Nguyễn đã có những chính sách động viên, ưu đãi và đáp ứng kịp thời đối với người lao động
HV: LSVN 16.1
ĐẶNG THANH HOA
NGUYỄN THỊ LẮM
CHUYÊN ĐỀ: TRIỀU NGUYỄN TRONG TIẾN TRÌNH LICH SỬ VIỆT NAM
Company Logo
II. CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÀ
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TK XVII-XIX
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT
III. KẾT LUẬN
Nghề nông là nghề gốc của các nước phong kiến. Về căn bản đây là một nền kinh tế tự cung tự cấp. Mọi nguồn thu của quốc khố chủ yếu thuế điền và thuế đinh đánh vào ruộng và lao động mà tuyệt đại đa số là nông dân. Ruộng đất và nông dân là hai yếu tố quyết định của nông nghiệp. Vì vậy triều đình phong kiến Việt Nam nào cũng phải thi hành “ chính sách trọng nông”.
I. KHÁI QUÁT
+ Một là: Việc khai hoang lập đồn điền của binh lính quan lại và kẻ giàu có “ dân có vật lực”- chiêu mộ dân từ đàng trong vào lập nên những điền sản lớn- những đồn điền quân sự hay dân sự. (vd: từ năm 1698, khi Nguyễn Hữu Kính theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào “kinh dịch”( tổ chức việc quản lý hành chính, kt, xh) thì đất Đông Phố (tên gọi chung đất Biên Hoà-Gia Định) mới bắt đầu chịu sự cai trị của các chúa Nguyễn và dân số ở đây đã có hơn 10.000 hộ với 200.000 khẩu)
II. CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TK XVII-XIX
2.1 Giai đoạn : (năm 1698-cuối tk XVIII)
+Hai là do các đoàn quân tướng người Hoa, nguyên là quan lại nhà Minh không chịu khuất phục nhà Mãn Thanh, bỏ chạy sang VN tị nạn xin làm ăn. Họ cũng tiến hành khai khẩn đất hoang phát triển nghề nông lúc đầu, nhưng chủ yếu chỉ nhằm phục vụ cho việc tồn tại của họ để về sau xd chợ búa, phố xá, đô thị, đẩy mạnh việc mua bán, phát triển các vùnđại phố, cảng Mang Khảm- Hà Tiên g Cù Lao Phố, Nông Nại sầm uất phát đạt một thời.
2.2 Giai đoạn: dưới các thời vua triều Nguyễn trong tk XIX
(năm 1802-1883)
- Nhà Nguyễn đẩy mạnh tốc độ khai hoang trong thế kỉ XIX nhằm 3 mục tiêu:
+Mở mang đất đai canh tác để phát triển sx lương thực, đồng thời để tăng thêm nguồn thu tô thuế.
+Để bảo đảm an ninh quốc phòng nhất là vùng biên giới phía Tây, thường có quân Xiêm quấy phá và dân bản địa vùng Ba Xuyên- Tịnh Biên cũng đã từng nổi dậy chống nhà Nguyễn
+Phát triển giai cấp địa chủ làm chổ dựa cho chính quyền nhà Nguyễn ở Nam Bộ
- Nhà Nguyễn cũng có nhiều biện pháp khai hoang tích cực như
Một là vẫn khuyến khích di dân tự do khai phá đất hoang bằng nhiều thủ tục dễ dãi và tự do lựa chọn nơi khai phá, thậm chí vẫn còn trợ cấp thêm tiền thóc, nông cụ, có lệ khen thưởng bằng tiền và phẩm hàm chức sắc cho những ai khai hoang nhiều với các mức cụ thể từ 20 mẫu đến 800 mẫu, và cũng có lệ phạt bằng tiền, trừ lương và phạt đánh từ 60 trượng đến 100 trượng đối với quan chức có trách nhiệm mà để ruộng đất bỏ hoang nhiều hay ít
Biện pháp
Hai là ra lệnh cho quan lại địa phương phải bảo đảm mức khai hoang lập làng mới để phát triển nông nghiệp và bảo đảm an ninh quốc phòng, nhất là ở vùng biên giới với chính sách được miễn thuế 3 năm hay lâu hơn và được thưởng phạt rõ ràng nghiêm khắc
Ba là bản thân triều đình cử những đại quan đứng ra tổ chức binh lính hay mộ dân khai hoang lập đồn điền, xây dựng làng ấp và đào những công trình thuỷ lợi quy mô để phát triển nông nghiệp và giao thông đường thuỷ
- Dưới thời nhà Nguyễn, tiêu biểu vua Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức
Vua gia Long, 1803 đã có một quyết định độc đáo, đưa ra trưng cầu ý kiến quan lại, sỹ thứ về việc hộ đê. Những ý hay được ban thưởng, đưa ra đình thần phúc nghị, định thành điều lệ để thi hành. Lập nha đê chính ở Bắc Thành để chăm lo đê điều. 1808-1810 cho đắp các đập Hà Trứ, Kim Đôi, An Xuân ở Duyên Hải để ngăn nước mặn, mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp ở vùng biển. 1814 cho đào sông An Cựu để giải quyết yêu cầu tưới tiêu cho phía nam kinh đô Phú Xuân.
Vua Minh Mạng viết sách M Mạng chánh yếu và ban hành thập điều huấn dụ, đề cao chính sách trọng nông, nhấn mạnh “ dĩ nông vi bản”, kêu gọi giữ lấy nghiệp nhà nông theo điều thứ 3 là “ vụ bản nghiệp”, đặt thêm chức “ dinh điền sứ” coi việc tăng gia diện tích canh tác bên cạnh các chức “ hà đê sứ”, “khuyến nông quan”…cho đào kênh Vĩnh Tế một ký quan thuỷ lợi của đất nước, đưa chính sách khuyến nông lên thành chính sách “ Vệ nông” toàn diện, nghiệm ngặt.
Đặc biệt từ năm 1827, M Mạng cho phục hồi và phát triển có bài bản quy mô nghiêm túc các điển lệ với những hình thức lễ nghi trang trọng để gây ý thức “ trọng nông”, “ khuyến nông”, “ vệ nông” thường xuyên trong quan lại và dân chúng.
KÊNH BẢO ĐỊNH Con kênh được đào vào năm 1818 và đây là con kênh dài đầu tiên được thực hiện dưới triều Nguyễn, do vua Gia Long cử Trấn thủ Vĩnh Thanh bấy giờ là Thoại Ngọc Hầu (1762 - 1829) phụ trách
Kênh Vĩnh Tế trong chiến lược củng cố quốc phòng - an ninh của nhà Nguyễn (1802 - 1867)
Kênh Thoại Hà, đoạn chảy qua thị trấn Núi Sập huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (2/2008) (Nguồn: wikipedia).
Kênh Thoại Hà, đoạn chảy qua thị trấn Núi Sập
Lễ tế trời ở đàn Nam Giao đầu năm được tổ chức thường xuyên để vua đến lạy trời, giết trâu, dâng lễ cầu mong mưa thuận gió hoà quanh năm, nông nghiệp được mùa, dân no ấm…
Lễ tịch điền được cử hành vào hạ tuần tháng tư AL hằng năm, để vua thân chinh tự mình cầm cày dắt trâu cày 3 luống, sau đó quan lại theo thứ tự lớn nhỏ cày tiếp rồi vãi lúa. Ruộng lúa này phải được chăm bón tối đa bảo đảm phải được mùa. Lúa thu hoạch phải dùng vào việc cúng tế
Ngoài công việc khẩn hoang được thúc đẩy mạnh ở Nam Bộ, M Mạng cũng đề cao công lao của Nguyễn Công Trứ tích cực công cuộckhẩn hoang quy mô thành công lớn ở vùng Kim Sơn, Tiền Hải(BBộ)
Tự Đức cũng làm được một số việc đáng kể như: đã ban hành các sách: “ nông tang y thực”, “châu huyện đề cương”, “ bổ hoàng khảo” ( dạy bắt sâu) để giáo dục những kị thuật mới trong nông nghiệp. 1865, Tự Đức cho chế tạo 27 cỗ xe trâu chống hạn cấp phát cho các Trấn Thanh- Nghệ, Thuận quãng, Bình Phú làm mẫu và cho mượn tiền để chế tạo, nhân rộng loại xe này, đáp ứng kịp thời yêu cầu chống hạn ở các địa phương ấy. 1870, Tự Đức nối gót Gia Long, M Mạng cho đắp nhiều đập năn nước mặn, mở rộng diện tích canh tác ở Ngự Long, Bần Thuỷ…Đặc biệt, Tự Đức tiếp tục cho phát triển mạnh hơn hệ thống kênh rạch ở Nam Bộ
III. KẾT LUẬN
Nhà nước cho phép ruộng do dân tự đứng ra khai khẩn được biến thành ruộng tư; ruộng do các nhóm tư nhân hay tập thể làng xã khai khẩn được biến thành ruộng công của làng xã Đây cũng là bước quan trọng trong việc thừa nhận quyền tư hữu hoá những ruộng đất khẩn hoang.
Chính sách của nhà Nguyễn đối với ruộng đất khai hoang ở đồng bằng Bắc bộ, một mặt phản ánh xu thế tất yếu của lịch sử và xu hướng tư hữu hoá ruộng đất, tạo đk cho sự củng cố kinh tế sở hữu tư nhân, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp và do đó, khách quan nó cũng thúc đẩy kt hh phát triển
Đối với dân khai hoang, nhà Nguyễn đã chú ý thoả mãn yêu cầu của họ→chứng tỏ các vua Nguyễn đã có những chính sách động viên, ưu đãi và đáp ứng kịp thời đối với người lao động
 









Các ý kiến mới nhất