Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

lop 4 Báo cáo Biện pháp GD thi Gv giỏi

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Mai
Ngày gửi: 09h:04' 21-10-2022
Dung lượng: 3.1 MB
Số lượt tải: 485
Số lượt thích: 0 người
THỰC HIỆN SÁNG TẠO PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”
TRONG GIẢNG DẠY MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

Người thực hiện: Phạm Thị Mai
Giáo viên trường tiểu học Tân Thành

THỰC HIỆN SÁNG TẠO PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” TRONG GIẢNG DẠY
MÔN KHOA HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

NỘI DUNG BIỆN PHÁP

CẤU
TRÚC

HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG

ƯU ĐIỂM
- Giáo viên được tham dự tập huấn
chuyên đề phương pháp:  “Bàn
tay nặn bột”.
- Các GV vận dụng linh hoạt vào
từng bài dạy, dự giờ, rút kinh
nghiệm đồng nghiệp.
- Tham gia sinh hoạt chuyên môn
để đánh giá việc thực hiện dạy học
PP Bàn tay nặn bột theo từng
phần, từng bài, từng chương.
- Nhà trường khuyến khích giáo
viên đăng ký thao giảng cấp tổ,
cấp trường dạy tiết TN&XH hoặc
Khoa học theo phương pháp:
“Bàn tay nặn bột”.

NỘI DUNG BIỆN PHÁP

HẠN CHẾ:

+ Đối với giáo viên:
- Hạn chế về kiến thức khoa
học tự nhiên..
- Hiểu biết về phương pháp
Bàn tay nặn bột và những ưu
việt của nó nhưng còn dè dặt
trong việc áp dụng.
- Khả năng ứng dụng công
nghệ thông tin của một số
giáo viên còn hạn chế.

+ Đối với học sinh
- Khi bộc lộ quan điểm các
em chưa tự tin.
- Vốn kiến thức thực tế của
HS chưa phong phú.Việc xác
lập mục đích quan sát và mục
đích của thí nghiệm còn kém.

Đối với khả năng vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
- Tổ chức lớp học: Tổ chức lớp học chưa thực sự gây được hứng thú cho học sinh.
- Bộc lộ quan điểm ban đầu : HS chưa tự tìm được tình huống có vấn đề liên
quan đến bài học .
- Chọn ý tưởng và đề xuất thí nghiệm: HS đi quá xa yêu cầu nội dung bài học;
Các phương án tìm ra câu trả lời hay qua thí nghiệm còn hạn chế.
- Hoạt động nhóm: Học sinh hoạt động chủ yếu theo nhóm vì vậy sẽ có những
học sinh không có cơ hội làm việc mà chủ yếu là nhóm trưởng và thư ký thực hiện.
- Phân tích thông tin kiểm tra giả thiết: Đối với học sinh tiểu học phân tích
thông tin, hiện tượng quan sát khi nghiên cứu để đưa ra kết luận tương ứng với câu
hỏi còn lúng túng, các em chưa đề xuất được phương án thực nghiệm, sẽ không dự
báo được kết quả thực nghiệm…

Các biện pháp mới
a. Đối với giáo viên
- Giáo viên chuẩn bị bài chu đáo, xây dựng kế hoạch
bài dạy, phân bố thời gian hợp lý cho các hoạt động.
- Tạo tình huống để học sinh phát hiện ra vấn đề
trong bài học.
- Giáo viên nêu vấn đề hay câu hỏi xuất phát phù hợp
là câu hỏi tương thích với trình độ nhận thức của học
sinh, sao cho các em có khả năng giải quyết.
- Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị dạy học,
ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ cho bài dạy
- Tích cực nghiên cứu học tập, cập nhật kiến thức,
nâng cao tay nghề áp dụng phương pháp dạy học đổi
mới.
- Tác phong cử chỉ, lời nói phù hợp, truyền cảm, thân
thiện, khơi gợi sự hứng thú, chủ động tìm tòi, khám
phá học tập của học sinh.
- Cùng với giáo viên khác và đồng nghiệp trong tổ
chuyên môn, nhà trường từng bước rút kinh nghiệm
trong quá trình triển khai giảng dạy.

ĐỐI VỚI HỌC SINH
- Học sinh thực sự tiếp cận và tìm tòi - nghiên cứu; cố gắng
để hiểu kiến thức.
- Học sinh cần phải có nhiều kĩ năng như: kĩ năng trả lời,
đề xuất các dự đoán, giả thiết, phương án thí nghiệm, phân
tích dữ liệu, giải thích và bảo vệ các kết luận của mình
thông qua trình bày nói hoặc viết
- Học sinh cần thiết phải tự thực hiện các thí nghiệm của
mình phù hợp với hiện tượng.
- Được khuyến khích đề xuất ý kiến và cùng các thầy cô
giáo thực hiện các giải pháp để việc dạy học có hiệu quả
ngày càng cao.
- Tích cực chuẩn bị bài, chuẩn bị tâm thế để lĩnh hội kiến
thức bài giảng.
- Học sinh hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy
sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết. Dưới sự chỉ đạo của giáo
viên, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp với mục
tiêu dạy học và các nội dung cụ thể đã xác định.

c. Nâng cao khả
năng vận dụng
phương pháp Bàn
tay nặn bột.
* Tổ chức lớp học
- Bố trí bàn ghế
theo nhóm.
- GV tạo sự thoải
mái để tất cả HS
ham thích các hoạt
động: thực hiện thí
nghiệm, suy nghĩ,
thảo luận, trao đổi,
trình bày bằng lời
nói hoặc viết...

*Giúp học sinh bộc lộ
quan niệm ban đầu
- GV khuyến khích HS
trình bày ý kiến của
mình, biết chấp nhận
và tôn trọng những
quan điểm sai của HS
khi các em trình bày
biểu tượng ban đầu.
- GV khi đặt câu hỏi
cần lưu ý:
+ Câu hỏi luôn đủ
“mở” để kích thích sự
tự vấn của HS.

* Hướng dẫn chọn ý tưởng và đề
xuất thí nghiệm
- Khi một HS nào đó đã nêu ý kiến,
GV yêu cầu HS khác trình bày các
ý kiến khác hay bổ sung cho ý
kiến mà HS trước đã trình bày.
- Đối với những ý tưởng phức tạp
hay có nhiều ý kiến khác biệt, GV
ghi chú tóm tắt lại ở một góc trên
bảng để HS dễ theo dõi.
- Đối với ý kiến hay vấn đề đặt ra
đơn giản, ít phương án hay thí
nghiệm chứng minh, có thể cho
HS trả lời trực tiếp phương án mà
HS đề xuất.
- Đối với các kiến thức phức tạp,
thí nghiệm cần thực hiện để kiểm
chứng, HS khó đề xuất đầy đủ và
chuẩn xác.
- Thầy cô theo dõi, xoáy sâu vào
các điểm khác biệt gây tranh cãi
để giúp HS tự đặt câu hỏi thắc

* Hướng dẫn học sinh phân tích
thông tin hiện tượng nghiên cứu
để đưa ra kết luận
- Lệnh của GV phải rõ ràng,
ngắn gọn, dễ hiểu để giúp học
sinh nhớ, hiểu và làm theo
hướng dẫn của giáo viên
- GV hướng dẫn HS kĩ năng chú
ý đến các thông tin chính để rút
ra kết luận tương ứng với câu
hỏi trong khi làm thí nghiệm,
quan sát hoặc nghiên cứu tài
liệu để tìm ra câu trả lời.
- GV giới thiệu thêm sách, tài
liệu hay thông tin trên internet
mà HS có thể có điều kiện tiếp
cận được để giúp các em hiểu
sâu hơn các kiến thức được học,
không bằng lòng và dừng lại với
những hiểu biết yêu cầu trong
chương trình.

III. Hiệu quả đạt được
Giáo viên:
- GV tiểu học có thêm phương pháp để tổ chức lớp học một cách nhẹ nhàng, hiệu quả.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng các thiết bị dạy học thường xuyên liên tục.
- Nhà trường có nhiều tiết dạy đạt loại Tốt. Trong đó 100% các tiết dạy môn Khoa học đạt loại
Tốt.
- GV tự tin tham gia các chuyên đề cũng như các hoạt động chuyên môn khác trong nhà trường.
Học sinh;
Phát triển nhiều kĩ năng năng lực của HS rất rõ rệt cụ thể như:
- Năng lực hợp tác. (khi HS làm thí nghiệm, hoạt động nhóm)
- Năng lực ngôn ngữ. (khi HS thảo luận, trình bày ý tưởng, trình bày kết quả thí nghiệm)
- Năng lực giải quyết vấn đề. (khi HS tìm ý tưởng, thảo luận, làm thí nghiệm)
- Năng lực giao tiếp. (khi HS hoạt động nhóm)
- Năng lực tự học. (khi HS tìm ý tưởng, giải quyết các dự đoán)

IV. Điều kiện và khả năng áp dụng
1. Điều kiện thực hiện:
* Giáo viên:
- Phải có lòng nhiệt tình, yêu nghề, tâm huyết trong giảng dạy, chịu khó học hỏi, tìm tòi khám phá để tìm ra
những biện pháp, những cách làm thích hợp, áp dụng hiệu quả trong quá trình giảng dạy.
- Người giáo viên phải nắm vững lý luận dạy học môn Khoa học, rèn cho mình những kỹ năng cần thiết để tổ
chức, hướng dẫn HS học tập, nhất là kỹ năng thảo luận nhóm, quan sát và làm thí nghiệm
* Học sinh:
- Phải tích cực, tự giác học tập, chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập cho mỗi tiết học
cụ thể.
- Mỗi học sinh cũng như mỗi nhóm phải có những ý kiến những ý kiến những quan điểm của mình trước những
vấn đề mà giáo viên đưa ra.
- Cuối mỗi tiết học học sinh phải thu gom, cất giữ dụng cụ, đồ dùng dạy học.
* Môi trường học tập:
- Lớp học có đủ bàn ghế đúng quy cách, dễ dàng di chuyển.
- Đồ dùng dạy học phải đầy đủ vì nếu thiếu thì không thể tiến hành dạy học theo phương pháp này được.
- Có chỗ dành riêng để vật liệu lớp học.

2. Khả năng áp dụng của biện pháp:
Các biện pháp“Thực hiện sáng tạo phương pháp
“Bàn tay nặn bột” trong giảng dạy môn Khoa học ở
trường Tiểu học” Không chỉ áp dụng riêng cho các bài khi
dạy theo phương pháp BTNB mà còn áp dụng được cho tất
cả các bài học khi đặt vấn đề vào bài ở các môn học khác.
Sáng kiến này có thể áp dụng rộng rãi trong các trường
Tiểu học

LOGO
 
Gửi ý kiến