Banner-baigiang-1090_logo1
Banner-baigiang-1090_logo2
TSThS

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tìm kiếm Google

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 036 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Tuần 25. Luận điểm trong bài văn nghị luận

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Kim Lương (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:11' 14-08-2008
Dung lượng: 446.0 KB
Số lượt tải: 76
Số lượt thích: 0 người
Trường THPT Thị xã Quảng Trị
Chào Quý Thầy Cô!
Chào Các Em Học Sinh!
Tìm hiểu chung.
Khái niệm luận điểm.
Vai trò của luận điểm.
Yêu cầu của luận điểm
Phương pháp tìm luận điểm.
II. Luyện tập.

KẾT CẤU BÀI GIẢNG
I. TÌM HIỂU CHUNG:

* Tìm hiểu ví dụ:
“ ... Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại cũng rất phong phú, đa dạng, biểu hiện ở lòng thương người; Lên án, tố cáo những thế lực tàn bạo chà đạp lên con người; Khẳng định, đề cao con người về các mặt phẩm chất, tài năng, những khát vọng chân chính như khát vọng về quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do, khát vọng về công lý, chính nghĩa; đề cao những quan hệ đạo đức, đạo lí tốt đẹp giữa người và người.
Có thể thấy những biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo nói trên qua các tác phẩm văn học Phật giáo thời Lý (“ Cáo bệnh, bảo mọi người” của Mãn Giác, “Tỏ lòng” của Không Lộ, ...), sáng tác của Nguyễn Trãi (“Đại cáo bình Ngô”, “Tùng”, “Ngày hè”, ...), Nguyễn Bỉnh Khiêm (“Ghét chuột”, “Nhàn”, ...), Nguyễn Dữ (“ Chuyện người con gái Nam Xương “, “ Chuyện chức phán sự đền Tản viên” , ... ). Cảm hứng nhân đạo đặc biệt nổi bật ở các tác phẩm thuộc giai đoạn văn học thế kỉ XVIII - Giữa thế kỉ XIX như “ Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm khúc”, thơ Hồ Xuân Hương (“ Bánh trôi nước”, “Mời trầu” , chùm thơ “ Tự tình”), “Truyện Kiều” của Nguyễn Du ...
(Khái quát VHVN từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX - Ngữ văn 10, tập một, Tr 109)
Phân tích ví dụ:
Đoạn trích có một luận điểm: Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Trung đại rất phong phú, đa dạng.
Luận cứ của lập luận:
+ Các luận cứ lí lẽ: Chủ nghĩa nhân đạo biểu hiện ở lòng thương người, lên án, tố cáo những thế lực chà đạp...; khẳng định đề cao con người...
+ Các luận cứ thực tế khách quan: Liệt kê các tác phẩm cụ thể giàu tính nhân đạo trong văn học Trung đại Việt Nam từ văn học Phật giáo thời Lí đến các tác phẩm thuộc giai đoạn văn học thế kỉ XVIII - Giữa thế kỉ XIX.

- Phương pháp lập luận: Diễn dịch.
1.Khái niệm luận điểm:
Hãy trả lời câu hỏi: Luận điểm là gì bằng cách lực chọn một trong các phương án sau:

Là vấn đề được đưa ra giải quyết trong bài văn nghị luận.
Là các dẫn chứng đưa ra nhằm làm sáng tỏ vấn đề.
Là dùng những lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ một vấn đề
Là tư tưởng, quan điểm mà người viết nêu ra trong bài văn nghị luận.




Kết luận: Luận điểm là tư tưởng, quan điểm của người viết đối với vấn đề nghị luận(luận đề) trong bài văn, thể hiện dưới hình thức những câu văn có tính chất khẳng định hay phủ định.
A: Là luận đề.
B: Là luận cứ
C: Là lập luận
D: Là luận điểm Đáp án đúng

2. Vai trò của luận điểm:
-
Là bộ xương, là linh hồn của văn bản nghị luận. (Không có hệ thống luận điểm, người ta sẽ không rõ bài viết ấy viết ra nhằm mục đích gì; bày tỏ quan điểm, tư tưởng nào)

Ví dụ: Tác phẩm” Bình Ngô đại cáo”(Nguyễn Trãi).
4 luận điểm:
+ Nêu luận đề chính nghĩa.
+ Tố cáo tội ác của giặc Minh
+ Kể lại quá trình kháng chiến gian khổ và thắng lợi vẻ vang của quân dân Đại Việt.
+ Lời tuyên bố hòa bình.
Văn bản nghị luận tổng kết toàn diện cuộc kháng chiến chống giặc Minh

Yêu cầu của luận điểm:
+ Đúng đắn: Phù hợp với lẽ phải, được thừa nhận.
+ Sáng rõ: Diễn đạt chuẩn xác, không mập mờ.
+ Tập trung: Các luận điểm cần hướng vào làm sáng tỏ luận đề của văn bản.
+ Mới mẻ: Không lặp lại giản đơn những điều đã biết, nêu ra ý mới chưa ai đề xuất.
+ Tính định hướng: Giải quyết các vấn đề nhận thức và tư tưởng đặt ta trong cuộc sống.

3. Yêu cầu của luận điểm:
Có nhiều cách:
Từ những lí lẽ đã được thừa nhận mà đề ra những luận điểm mới.
(Ví dụ: Từ lí lẽ chung là “Uống nước nhớ nguồn” mà đề ra các hướng luận điểm cụ thể: Biết ơn người đi trước, biết ơn các thương binh liệt sĩ, biết ơn cha mẹ, biết ơn thầy cô....)
4. Phương pháp tìm luận điểm:
Từ một sự việc thực tế, phân tích ý nghĩa của nó và nêu ra luận điểm.
(Ví dụ: Từ truyện “Đẽo cày giữa đường”, rút ra luận điểm: Làm việc phải có chủ kiến, hoặc nghe ý kiến người khác cần biết phân tích thấu đáo rồi mới tiếp thu).
- Thông qua việc phân tích các khía cạnh của vấn đề và tìm ra luận điểm.
 Tổng kết: Không có hệ thống luận điểm thì sẽ không có bài văn nghị luận. Nhiệm vụ của người viết bài văn nghị luận là phải nêu ra được luận điểm theo các yêu cầu trên. Muốn thế, người làm văn nghị luận phải luôn học tập, suy nghĩ liên hệ với đời sống thực tế và trau dồi kỹ năng xác lập luận điểm.
II. Luy?n t?p:
Bi t?p 1: CH? TA
Vừa ở Xơ-un(Hàn Quốc) về nước, đi công tác ở một số thành phố, thấy cần phải viết ngay một điều.
Ai cũng biết Hàn Quốc phát triển khá nhanh, vào loại "con rồng nhỏ", có quan hệ khá chặt chẽ với các nước Phương Tây, một nền kinh tế thị trường nhộn nhịp, có quan hệ quốc tế rộng rãi. Khắp nơi đều có quảng cáo, nhưng không bao giờ quảng cáo thương mại được đặt ở những công sở, hội trường lớn, danh lam thắng cảnh. Chữ nước ngoài, chủ yếu là tiếng Anh, nếu có thì viết nhỏ đặt dưới chữ Triều Tiên. Trong khi đó thì ở một vài thành phố của ta nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Anh, có bảng hiệu của các cơ sở của ta hẳn hoi mà chữ nước ngoài lại lớn hơn cả chữ Việt, có lúc ngỡ ngàng tưởng như mình lạc sang một nước khác.
Báo chí ở Hàn Quốc khá nhiều. Tôi không biết chữ Triều Tiên nhưng cũng xem qua khá nhiều tờ báo. Có một số tờ báo, tạp chí, số báo xuất bản bằng tiếng nước ngoài, in rất đẹp. Nhưng các tờ báo phát hành ở trong nước đều không có mấy trang viết bằng tiếng nước ngoài, trừ một số tạp chí khoa học, ngoại thương có in ở trang cuối mục lục bằng tiếng nước ngoài để người đọc nước ngoài nhờ dịch những bài cần đọc. Trong khi đó ở ta, khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của Nhà nước ta có cái "mốt" là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối, xem ra để cho "oai" trong khi đó người đọc trong nước lại bị thiệt mất mấy trang thông tin.
Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.
Theo Hữu Thọ, Bản lĩnh Việt Nam
Đáp án:
- Vấn đề cần lập luận: Vai trò của “Chữ ta” trong thời hội nhập (thời ”Mở cửa”).

Các luận điểm cơ bản:
+ Tiếng nước ngoài đang lấn lướt tiếng Việt trong lĩnh vực quảng cáo.
+ Tiếng nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực báo chí không hợp lí gây thiệt thòi cho người đọc.

Các luận cứ cho từng luận điểm:
* Luận cứ làm rõ luận điểm 1:
+ Cách sử dụng chữ nước ngoài trong lĩnh vực quảng cáo ở
Xơ-un (Hàn Quốc).
+ Cách sử dụng chữ nước ngoài trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam.
* Luận cứ làm rõ luận điểm 2:
+ Cách sử dụng tiếng nước ngoài trong báo chí ở Hàn Quốc.
+ Cách sử dụng tiếng nước ngoài trong báo chí ở Việt Nam.

Đều là những luận cứ thực tế “Mắt thấy tai nghe” của người viết.

 
Gửi ý kiến