Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Bài 1. Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lee Sun Che
Ngày gửi: 09h:51' 05-07-2011
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 99
Số lượt thích: 0 người
CHÀO CÔ VÀ
CÁC BẠN THÂN MẾN!




Câu 1: Điều kiện để biến tiền thành tư
bản là gì? Phân tích điều kiện để biến sức
lao động thành hàng hóa và hai thuộc
tính của hàng hóa sức lao động.






Công thức lưu thông tư bản:
+ Tiền tệ là sản phẩm cuối cùng của lưu thông hàng hóa và hình thức đầu tiên của tư bản. Trên thị trường tư bản trước hết biểu hiện bằng một số tiền nhất định mặc dù không phải lúc nào tiền cũng là tư bản.
Điều kiện biến tiền thành tư bản


Vậy tiền tệ - tư bản có gì khác nhau?
+ Khác biệt trước hết ở công thức lưu thông.
Công thức lưu thông giản đơn là: H – T – H’. Tiền tệ chỉ đóng vai trò trung gian là phương tiện trao đổi hàng hóa.


Công thức lưu thông tư bản là: T – H – T’.
Tiền vừa là điểm khởi đầu vừa phải quay về
tay người chủ với số lượng lớn hơn. Số lớn
hơn đó gọi là giá trị thặng dư. Nếu không
đạt được giá trị thặng dư > 0 thì tư bản
không vận động.



Vậy tiền tệ khác tư bản, tiền tệ chỉ biến thành tư bản khi nó vận động theo công thức T – H – T’, khi tiền tệ được sử dụng để mang lại giá trị thặng dư cho người chủ của nó.

Vậy giá trị thặng dư ở đâu ra?
Mâu thuẫn của công thức lưu thông của
tư bản: Công thức lưu thông của tư bản là
cho người ta nhằm tưởng rằng cả sản xuất
lẫn lưu thông đều tạo ra giá trị thặng dư.
Thật ra trong lưu thông là quá trình trong
đó diễn ra việc mua bán.

Nếu mua bán ngang giá thì chỉ có sự thay
đổi hình thái: từ tiền tệ thành hàng hóa hoặc
từ hàng hóa thành tiền tệ, chứ không làm
cho tiền tăng lên. Nếu trao đổi không ngang
giá như trường hợp có một số người chuyên
mua rẻ bán đắc kiếm lời thì số lời đó chẳng
qua là sự ăn cắp, móc túi người khác. Điều đó
chỉ giải thích được sự làm giàu cuả thương nhân cá biệt chứ không giải thích được sự làm giàu của toàn bộ giai cấp tư bản.

Sự phân tích trên đây cho thấy lưu thông không tạo ra giá trị và không làm tăng giá trị. Nhưng rõ ràng nếu không có lưu thông tức là tiền trong tủ, trong két thì không thể tăng lên. Mâu thuẫn của công thức lưu thông tư bản T – H – T’ là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không thể trong lưu thông.
Sự phân tích trên cho thấy sự chuyển hóa tiền thành tư bản không nảy sinh từ bản thân số tiền đó. Mà sự chuyển hóa tiền thành tư bản xảy ra ở hàng hóa trong quá trình sử dụng nó. Nhà tư bản phải mua được một hàng hóa đặc biệt, mà khi sử dụng nó sẽ tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị của nó, tạo ra giá trị thặng dư. Nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường hàng hóa sức lao động có đặc tính kỳ diệu đó. Đó là hàng hóa sức lao động.

Như vậy, lưu thông không làm tăng giá trị, không tạo ra giá trị thặng dư vì giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản xuất, nhưng nhờ lưu thông thực hiện việc chuyển giá trị thặng dư từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ, mà nhà tư bản thu hồi được tư bản đã bỏ ra với số lượng lớn hơn.

Các điều kiện để biến tiền thành tư bản:
+ Số lượng: Tiền được tích tụ, tập trung thành một số lượng đủ lớn để có thể sản xuất kinh doanh (T=C+V).
+ Vận động: Tiền tệ vận động theo công thức T – H – T’ và vận động không ngừng.


+ Mục đích: Nó được sử dụng làm phương tiện mang lại giá trị thặng dư cho người chủ.
+ Phải mua được hàng hóa sức lao động. Đây là điều kiện quan trọng nhất vì hàng hóa sức lao động là nhân tố làm tăng giá trị, nhân tố tạo ra giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất. Nhờ đó tư bản mới tăng lên, nhờ đó tiền biến thành tư bản.




- Khái niệm sức lao động: Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống và đời người đó đem ra sử dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó.
Điều kiện biến sức lao động thành hàng hóa
- Điều kiện:
+ Thứ nhất, người lao động phải được tự do về thân thể của mình, phải có khả năng chi phối sức lao động ấy và chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định.
+ Thứ hai, người lao động không còn tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thực hiện lao động và cũng không có của cải gì khác, muốn sống chỉ còn cách bán sức lao động cho người khác sử dụng.


Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa. Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản.





- Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động: Giống như hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng.
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
+ Giá trị của hàng hóa sức lao động do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định. Giá trị sức lao động được quy về giá trị của toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia đình họ.Giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước
Giá trị hàng hóa sức lao động do những bộ
phận sau hợp thành:
+ Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì nòi giống công nhân.
+ Hai là, phí tổn đào tạo công nhân.
+ Ba là, những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái công nhân.
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động chỉ thể hiện trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình tiêu dùng sức lao động của người công nhân. Quá trình đó là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó; đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt. Đó chính là đặc điểm riêng của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động.




Câu 2: Giá trị thặng dư được sản xuất ra như thế
nào? Nêu các kết luận rút ra từ sự nghiên cứu quá
trình sản xuất giá trị thặng dư.


Trong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố
sản xuất chủ yếu, sức lao động là toàn bộ
những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại
trong một con người đang sống và được
người đó đem ra vận dụng.
Sản xuất giá trị thặng dư


Ví dụ như phát minh khoa học, cải tiến kỹ thuật hay lao động sản xuất của cải vật chất…khi sức lao động trở thành hàng hóa giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động tạo ra hàng hóa.


Trong quá trình lao động tạo ra hàng hóa, chính lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động, tức là tạo ra quá trình thặng dư.

Giá trị thặng dư là một bộ phận giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra, dôi ra ngoài giá trị sức lao động, là kết quả lao động không công của người lao động. Do đó, nếu quá trình lao động dừng lại ở điểm mà giá trị sức lao động thì chỉ có sản xuất giá trị giản đơn, khi quá trình lao động vượt quá điểm đó mới có sản xuất giá trị thặng dư.


Vậy nhân tố quyết định việc sản xuất giá trị thặng dư theo quan điểm chủ nghĩa Mác là nhân tố sức lao động của người công nhân. (Chủ yếu là giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động).

Muốn sản xuất ra giá trị thặng dư, trước hết nhà tư bản ra thị trường những thứ cần thiết như: tư liệu sản xuất, sức lao động của người công nhân…sau khi có được hai loại hàng hóa đó, nhà tư bản kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu mà nhà tư bản bỏ ra, phần lớn hơn đó gọi là giá trị thặng dư.



Có hai loại phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư:
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là: phương pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu; trong khi năng suất lao động, giá trị sản xuất lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.



Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi lao động còn thấp.

Với lòng tham không đáy, nhà tư bản mọi cách kéo dài ngày lao động để nâng cao trình độ bóc lột. Nhưng do giới hạn về ngày tự nhiên, về sức lực con người nên không thể kéo dài vô hạn. Mặt khác, còn do đấu tranh quyết liệt những giai cấp công nhân đòi rút ngắn thời gian lao động cũng không thể rút ngắn chỉ bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày khi thời gian lao động cần thiết không thay đổi.

- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là: phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động cũng như cũ.


Giữa hai phương pháp sản xuất có điểm giống nhau đều làm tăng thời gian lao động thặng dư của người công nhân không chỉ đủ nuôi sống mình, mà tạo ra phần thặng dư. So hai phương pháp này có sự khác nhau về cách thức làm tăng thời gian lao động thặng dư.

Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư thu được do người áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó. Khi đa số các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ thì giá trị thặng dư siêu ngạch của xí nghiệp đó không còn nữa.


Xét từng đơn vị sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, cục bộ. Nhưng xét về toàn bộ tư bản, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng thường xuyên. Vì vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch là một động lực thúc đẩy các nhà tư bản cài tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động.

Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối giống nhau ở chỗ đều là tăng năng suất lao động. Vì vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Nhưng giữa chúng có sự khác nhau: giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt; còn giá trị thặng dư tương đối thì tăng năng suất lao động.



+ Một là, phân tích giá trị sản phẩm được sản xuất ra, chúng ta thấy có hai phần: Giá trị những tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của công nhân mà được bảo toàn và di chuyển vào sản phẩm mới gọi là giá trị cũ. Giá trị lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất gọi là giá trị mới. Phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư.
Các kết luận rút ra từ sự nghiên cứu

Vậy giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Quá trình sản xuất giá trị thặng dư chỉ là quá trình tạo ra giá trị kéo dài quá cái điểm mà ở đó giá trị sức lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng một vật ngang giá mới.

+ Hai là, ngày lao động của công nhân bao giờ cũng được chia làm hai phần: phần ngày lao động mà người công nhân tạo ra một lượng ngang với sức lao động của mình gọi là thời gian lao động cần thiết và lao động trong khoảng thời gian đó là lao động cần thiết. Phần còn lại của ngày lao động gọi là thời gian lao động thặng dư, và lao động trong khoảng thời gian đó gọi là lao động thặng dư.
+ Ba là, sau khi nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta nhận thấy mâu thuẫn của công thức chung của tư bản đã được giải quyết: việc chuyển thành tiền tư bản diễn ra trong lưu thông, mà đồng thời không diễn ra trong lĩnh vực đó. Chỉ có trong lưu thông nhà tư bản mới mua được một thứ hành hóa đặc biệt, tức là ngoài lĩnh vực lưu thông để sản xuất giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Do đó tiền của nhà tư bản mới chuyển thành tiền tư bản.

Việc nghiên cứu giá tri thặng dư được sản xuất ra như thế nào đã vạch rõ ràng bản chất bốc lột của chủ nghĩa tư bản. Nhưng trong điều kiện hiện nay, do sự phát triển của công ty cổ phần, mà trong đó một bộ phận nhỏ công nhân cũng có cổ phiếu và trở thành cổ đông, đã xuất hiện quan niệm cho rằng không còn bốc lột giá trị thặng dư, chủ nghĩa tư bản ngày nay đã thay đổi bản chất.

Dựa vào đó một số học giả tư sản đưa ra thuyết “Chủ nghĩa tư bản nhân dân”. Song, trên thực tế, công nhân chỉ có một số cổ phiếu không đáng kể, do đó họ chỉ là người sỡ hữu danh nghĩa không có vai trò chi phối doanh nghiệp, phần lớn lợi nằm trong tay các nhà tư bản, thu nhập công nhân chủ yếu vẫn là tiền lương.
CẢM ƠN CÔ VÀ
CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE!
468x90
 
Gửi ý kiến