marketing là gì

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Trinh Thu
Ngày gửi: 16h:16' 23-12-2008
Dung lượng: 307.5 KB
Số lượt tải: 36
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Trinh Thu
Ngày gửi: 16h:16' 23-12-2008
Dung lượng: 307.5 KB
Số lượt tải: 36
Số lượt thích:
0 người
Marketing là gì ?
Marketing là những việc làm để tìm
hiểu khách hàng của mình là những ai, họ
cần gì và muốn gì, và làm thế nào để đáp
ứng nhu cầu của họ. Ngoài ra, Marketing
còn là một hệ thống đặc biệt của các hoạt
động trao đổi.
MARKETING - MỘT HỆ THỐNG TRAO ĐỔI
Thị trường là một nơi tiến hành các hoạt động
trao đổi. Marketing nghiên cứu những hoạt động
trao đổi trên thị trường để tạo ra lợi nhuận :
Cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng cần.
Đưa ra mức giá khách hàng chấp thuận trả
Đưa sản phẩm dịch vụ đến khách hàng
Cung cấp thông tin và thu hút khách hàng để họ mua sản phẩm và dịch vụ của bạn
Doanh nghiệp
Người
tiêu thụ
Người
tiêu thụ
Doanh nghiệp
Trao ñoåi keùp trong Marketing
Nghiên cứu thị trường
Sản phẩm
Giá cả
Thông tin quảng cáo
Trao đổi thông tin
Hoạt động trao đổi trong marketing dựa trên :
Sự bình đẳng cho các bên tham gia.
Sự tự nguyện của đôi bên không có sự áp chế.
Biết thông cảm và chấp nhận những điểm khác
của người khác
Thống nhất với nhau về tiền tệ
Soạn thảo những quy tắc đề phòng việc lạm dụng.
? Hình thái tổ chức xã hội thiết lập trên tinh thần tự do chủ nghĩa.
Tinh thần Marketinh và các bước
trong tiến trình Marketing : 3 cấp độ
1. Cấp độ cơ bản
2. Cấp độ trung gian
3. Cấp độ cao
1. Cấp độ cơ bản : nói đến marketing là nói
đến tinh thần marketing.
Đó chính là một cách nhìn nhận, một cách
lý luận về thế giới hay đơn giản hơn là một
"quan điểm marketing". Tinh thần này được
nhắc dưới các phương châm đơn giản như
"Khách hàng là Thượng đế", "Cung phải theo
cầu chứ không phải ngược lại".
Tinh thần marketinh sẽ được hiểu rõ hơn thì
chúng ta xét đến quan điểm khác gọi là "quan
điểm trọng sản xuất"
a. "Quan điểm trọng sản xuất" :
cung sẽ chế ngự cầu.
Quan điểm này phổ biến trong thời kỳ
cách mạng công nghiệp lần đầu tiên và
đôi khi gặp trong thời hiện đại trong
những doanh nghiệp và nhất là trong
những tổ chức không phải chịu đựng sức
ép cạnh tranh.
Nội dung của quan điểm này :
Tính hướng nội : cho rằng sự thành công của một doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào chính nó, từ những quá trình xảy ra ở bên trong doanh nghiệp đó.
Sự nghị kỵ đối với bên ngoài : người ta thường cho rằng cần giữ bí mật phần lớn các hoạt động của doanh nghiệp.
Tập trung chú ý vào sản phẩm
Nhấn mạnh vai trò chủ chốt của một số bộ phận trong tổ chức nội bộ doanh nghiệp (ví dụ vai trò của kỹ sư trong một xí nghiệp sản xuất, thầy thuốc trong bệnh viện.), vì tổ chức nội bộ được xem như là nhân tố quyết định tính hiệu quả.
Cơ cấu tổ chức dựa trên một số nguyên tắc : phân công lao động, chuyên môn hóa, phân cấp các bộ phận, coi nhẹ các mối quan hệ cá nhân trong hệ thống, đặt nặng vai trò của các văn bản, các quy tắc hoạt động và sơ đồ tổ chức.
Các vấn đề về kinh tế cũng như môi
trường xung quanh theo lối tĩnh lại, điều này
vô hình chung dẫn đến một hệ thống nặng nề
và phản ứng chậm chạp đối với những thay đổi
của môi trường : tổ chức nặng nề thì càng cứng
nhắc. Cạnh tranh được xem như một nhân tốc
có thể gây xáo trôn, lãng phí dẫn đến những
việc làm cũng như những chi phí vô ích. Do đó,
cơ chế này đưa đến việc các doanh nghiệp tìm
kiếm sự độc quyền hoặc cấu kết với nhau.
Quan điểm này chỉ mang đến được những kết quả
tốt đẹp trong trường hợp môi trường tương đối ổ đinh
như thời điểm cách mạng công nghiệp đầu tiên : mục
tiêu chủ yếu là tăng năng suất.
Tuy nhiên, đến thời kỳ cách mạng công nghiệp
lần thứ 2, đặc biệt là giai đoạn hiện tại, tốc độ thay
đổi ngày càng nhanh chóng cả trong công nghệ, tập
quán, cách sống và các mối quan hệ xã hội thì "quan
điểm trọng sản xuất" tỏ ra thiếu mềm dẻo và khó
thích nghi với những thay đổi đang diễn ra.
"Quan điểm trọng sản xuất" vẫn còn tồn tại
ở các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, người
ta nhận thấy quan điểm trên gặp vướng mắc khi
người tiêu dùng có những nhu cầu "cao cấp" hơn.
Thật vậy, các nhà buôn sẽ nhập khẩu các trang
thiết bị cũng như các sản phẩm tiêu dùng từ nước
ngoài vào thị trường nội địa. Trong hoàn cảnh đó,
sản phẩm bắt chước nhãn hiệu và bao bì xuất
hiện khá nhiều, nhưng chúng chỉ đơn thuần là
những bản sao có chất lượng xấu của sản phẩm
gốc mà thôi.
b. Quan điểm trọng marketing :đáp ứng
cho nhu cầu cần phải thường xuyên thích ứng
với những thay đổi của môi trường. Các tổ
chức hoạt động theo quan điểm này khác biệt
hoàn toàn với các tổ chức theo quan điểm
trọng sản xuất :
Tính hướng ngoại : doanh nghiệp phụ
thuộc vào môi trường xung quanh và phải luôn
thích ứng với môi trường để có thể tối đa hóa
hiệu quả hoạt động của mình.
Tin tưởng và có thái độ cởi mở với bên ngoài
: giữ bí mật đối với thông tin có ý nghĩa chiến lược... Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải tìm cách để giới thiệu mình cũng như tranh thủ mở rộng tối đa việc tiếp xúc với môi trường xung quanh.
Tập trung chú ý vào thị trường và khách
hàng : hết sức quan tâm đến những mong muốn của người tiêu dùng.
Nhấn mạnh vai trò chủ chốt của marketing và hoạt
động bán hàng
-Quản lý giảm tập trung hóa, tổ chức mềm dẻo
hơn và khích lệ nhân viên bên dưới nhiều hơn.
Cách nhìn biện chứng cũng như về môi trường bên
ngoài: người ta luôn chủ động tìm kiếm những đổi
thay mang lại sự tiến bộ.. Luật này đặt ra để bảo
đảm có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp (vì cạnh
tranh được xem như một yếu tố thúc đẩy quá trình cải tiến).
2. Cấp độ trung gian :
Được xem như một tiến trình gọi là tiến trình quản trị Marketing.
Marketing cũng là một bộ phận trong ngành quản trị học, cũng: như kế toán. tất cả đều nhắm đến việc gia tăng tính hiệu quả của một doanh nghiệp hay tổ chức.
Có hai bước cơ bản cần thực hiện :
Xác định việc phải thực hiện : xác định kết quả muốn đạt đến cũng như cách thức thực hiện, dưới hình thức các chỉ tiêu, kế hoạch hay chương trình.
Kiểm tra : trong quá trình thực hiện hay sau khi thực hiện, để biết ta làm được gì so với mục tiêu và kế hoạch đặt ra.
Nguyên tắc cơ bản của marketing là tất cả phải
bắt đầu từ thông tin. Được thực thường xuyên trong suốt quá trình thực hiện một dự án nào đó.
Chia tiến trình marketing ra 4 bước :
Thông tin: phân tích thông tin và đánh giá tình hình
Hoạch định: tổ chức, xác định mục tiêu và chiến lược
Hành động
Kiểm soát
3. Cấp độ cao :
Marketing được xem như một tập hợp những khái niệm và kỹ thuật. Đây là cấp độ cuối cùng và là phần dễ nhận thấy nhất của marketing
Các kỹ thuật markeitng cung cấp những công
cụ cần thiết: như nghiên cứu thị trường, thiết
kế sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường, theo dõi
và giải thích những phản ứng của thị trường.
MARKETING CHIẾN LƯỢC VÀ MARKETING NGHIỆP VỤ :
Marketing chiến lược là nghiên cứu giúp định hướng
cho tương lai của doanh nghiệp
Marketing nghiệp vụ lại có chức năng hỗ trợ bán hàng.
Đối với một vài doanh nghiệp, marketing phải bao
hàm cả chức năng bán hàng thì mới có hiệu quả.
Muốn hướng tới marketing tiên tiến, doanh nghiệp phải cókhả năng thích ứng và cải tiến sản phẩm, nhưng trước hết cần có đủ khả năng tiêu thụ được hàng hóa trong một môi trường cạnh tranh.
NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN :
PHÂN ĐOẠN THỊ TRƯỜNG, XÁC ĐỊNH
KHÁCH HÀNG MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH VỊ SẢN PHẨM :
Bộ ba này tương ứng với một tập hợp những
quyết định cho phét định hướng những gì mà doanh
nghiệp có thể cung ứng cho thị trường. Cạnh tranh
càng khốc liệt, doanh nghiệp càng khó thêm nhập
thị trường hay giữ vững vị trí của mình. Phải tạo
cho sản phẩm và dịch vụ của mình những nét khác
biệt, làm cho chúng hấp dẫn hơn so với các sản
phẩm cạnh tranh.
Phân đoạn thị trường :
Nhìn từ quan điểm marketing là đạt được mức độ
"khách hàng nào sản phẩm đó" thích ứng đến mức
tối đa với nhu cầu, mong muốn cũng như thị hiếu
của mỗi một khách hàng.
Chúng ta phải tìm kiếm một sự dung hòa giữa trở
ngại về chi phí và sự cần thiết phải thích ứng với
thị trường. Có thể đạt được điều này nhờ việc
phân đoạn thị trường hay chính là việc phân chia
khách hàng thành nhóm nhỏ hơn có nhu cầu gần
giống nhau.
Xác định thị trường mục tiêu :
Đây chính là bước thứ hai của tiến trình marketing, nhằm xác định các phân đoạn mà doanh nghiệp cần đặc biệt chú trọng trong số các phân đoạn đã hình thành. Bước này xét đến cả những yếu tố mang tính chiến lược : sự lựa chọn thị trường không chỉ tùy thuộc vào khả năng kinh doanh mà còn tùy thuộc vào mức tăng trưởng dự kiến của thị trường, vào sức ép cạnh tranh .
Định vị sản phẩm :
Doanh nghiệp "định vị sản phẩm" : làm cho sản phẩm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nhóm khách hàng đã chọn vàkhác biệt với các sản phẩm cạnh tranh cùng loại, thông qua các đặc tính của sản phẩm, giá cả, các điểm phân phối mà nhóm khách hàng này thường lui tới.
Marketing là những việc làm để tìm
hiểu khách hàng của mình là những ai, họ
cần gì và muốn gì, và làm thế nào để đáp
ứng nhu cầu của họ. Ngoài ra, Marketing
còn là một hệ thống đặc biệt của các hoạt
động trao đổi.
MARKETING - MỘT HỆ THỐNG TRAO ĐỔI
Thị trường là một nơi tiến hành các hoạt động
trao đổi. Marketing nghiên cứu những hoạt động
trao đổi trên thị trường để tạo ra lợi nhuận :
Cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng cần.
Đưa ra mức giá khách hàng chấp thuận trả
Đưa sản phẩm dịch vụ đến khách hàng
Cung cấp thông tin và thu hút khách hàng để họ mua sản phẩm và dịch vụ của bạn
Doanh nghiệp
Người
tiêu thụ
Người
tiêu thụ
Doanh nghiệp
Trao ñoåi keùp trong Marketing
Nghiên cứu thị trường
Sản phẩm
Giá cả
Thông tin quảng cáo
Trao đổi thông tin
Hoạt động trao đổi trong marketing dựa trên :
Sự bình đẳng cho các bên tham gia.
Sự tự nguyện của đôi bên không có sự áp chế.
Biết thông cảm và chấp nhận những điểm khác
của người khác
Thống nhất với nhau về tiền tệ
Soạn thảo những quy tắc đề phòng việc lạm dụng.
? Hình thái tổ chức xã hội thiết lập trên tinh thần tự do chủ nghĩa.
Tinh thần Marketinh và các bước
trong tiến trình Marketing : 3 cấp độ
1. Cấp độ cơ bản
2. Cấp độ trung gian
3. Cấp độ cao
1. Cấp độ cơ bản : nói đến marketing là nói
đến tinh thần marketing.
Đó chính là một cách nhìn nhận, một cách
lý luận về thế giới hay đơn giản hơn là một
"quan điểm marketing". Tinh thần này được
nhắc dưới các phương châm đơn giản như
"Khách hàng là Thượng đế", "Cung phải theo
cầu chứ không phải ngược lại".
Tinh thần marketinh sẽ được hiểu rõ hơn thì
chúng ta xét đến quan điểm khác gọi là "quan
điểm trọng sản xuất"
a. "Quan điểm trọng sản xuất" :
cung sẽ chế ngự cầu.
Quan điểm này phổ biến trong thời kỳ
cách mạng công nghiệp lần đầu tiên và
đôi khi gặp trong thời hiện đại trong
những doanh nghiệp và nhất là trong
những tổ chức không phải chịu đựng sức
ép cạnh tranh.
Nội dung của quan điểm này :
Tính hướng nội : cho rằng sự thành công của một doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào chính nó, từ những quá trình xảy ra ở bên trong doanh nghiệp đó.
Sự nghị kỵ đối với bên ngoài : người ta thường cho rằng cần giữ bí mật phần lớn các hoạt động của doanh nghiệp.
Tập trung chú ý vào sản phẩm
Nhấn mạnh vai trò chủ chốt của một số bộ phận trong tổ chức nội bộ doanh nghiệp (ví dụ vai trò của kỹ sư trong một xí nghiệp sản xuất, thầy thuốc trong bệnh viện.), vì tổ chức nội bộ được xem như là nhân tố quyết định tính hiệu quả.
Cơ cấu tổ chức dựa trên một số nguyên tắc : phân công lao động, chuyên môn hóa, phân cấp các bộ phận, coi nhẹ các mối quan hệ cá nhân trong hệ thống, đặt nặng vai trò của các văn bản, các quy tắc hoạt động và sơ đồ tổ chức.
Các vấn đề về kinh tế cũng như môi
trường xung quanh theo lối tĩnh lại, điều này
vô hình chung dẫn đến một hệ thống nặng nề
và phản ứng chậm chạp đối với những thay đổi
của môi trường : tổ chức nặng nề thì càng cứng
nhắc. Cạnh tranh được xem như một nhân tốc
có thể gây xáo trôn, lãng phí dẫn đến những
việc làm cũng như những chi phí vô ích. Do đó,
cơ chế này đưa đến việc các doanh nghiệp tìm
kiếm sự độc quyền hoặc cấu kết với nhau.
Quan điểm này chỉ mang đến được những kết quả
tốt đẹp trong trường hợp môi trường tương đối ổ đinh
như thời điểm cách mạng công nghiệp đầu tiên : mục
tiêu chủ yếu là tăng năng suất.
Tuy nhiên, đến thời kỳ cách mạng công nghiệp
lần thứ 2, đặc biệt là giai đoạn hiện tại, tốc độ thay
đổi ngày càng nhanh chóng cả trong công nghệ, tập
quán, cách sống và các mối quan hệ xã hội thì "quan
điểm trọng sản xuất" tỏ ra thiếu mềm dẻo và khó
thích nghi với những thay đổi đang diễn ra.
"Quan điểm trọng sản xuất" vẫn còn tồn tại
ở các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, người
ta nhận thấy quan điểm trên gặp vướng mắc khi
người tiêu dùng có những nhu cầu "cao cấp" hơn.
Thật vậy, các nhà buôn sẽ nhập khẩu các trang
thiết bị cũng như các sản phẩm tiêu dùng từ nước
ngoài vào thị trường nội địa. Trong hoàn cảnh đó,
sản phẩm bắt chước nhãn hiệu và bao bì xuất
hiện khá nhiều, nhưng chúng chỉ đơn thuần là
những bản sao có chất lượng xấu của sản phẩm
gốc mà thôi.
b. Quan điểm trọng marketing :đáp ứng
cho nhu cầu cần phải thường xuyên thích ứng
với những thay đổi của môi trường. Các tổ
chức hoạt động theo quan điểm này khác biệt
hoàn toàn với các tổ chức theo quan điểm
trọng sản xuất :
Tính hướng ngoại : doanh nghiệp phụ
thuộc vào môi trường xung quanh và phải luôn
thích ứng với môi trường để có thể tối đa hóa
hiệu quả hoạt động của mình.
Tin tưởng và có thái độ cởi mở với bên ngoài
: giữ bí mật đối với thông tin có ý nghĩa chiến lược... Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải tìm cách để giới thiệu mình cũng như tranh thủ mở rộng tối đa việc tiếp xúc với môi trường xung quanh.
Tập trung chú ý vào thị trường và khách
hàng : hết sức quan tâm đến những mong muốn của người tiêu dùng.
Nhấn mạnh vai trò chủ chốt của marketing và hoạt
động bán hàng
-Quản lý giảm tập trung hóa, tổ chức mềm dẻo
hơn và khích lệ nhân viên bên dưới nhiều hơn.
Cách nhìn biện chứng cũng như về môi trường bên
ngoài: người ta luôn chủ động tìm kiếm những đổi
thay mang lại sự tiến bộ.. Luật này đặt ra để bảo
đảm có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp (vì cạnh
tranh được xem như một yếu tố thúc đẩy quá trình cải tiến).
2. Cấp độ trung gian :
Được xem như một tiến trình gọi là tiến trình quản trị Marketing.
Marketing cũng là một bộ phận trong ngành quản trị học, cũng: như kế toán. tất cả đều nhắm đến việc gia tăng tính hiệu quả của một doanh nghiệp hay tổ chức.
Có hai bước cơ bản cần thực hiện :
Xác định việc phải thực hiện : xác định kết quả muốn đạt đến cũng như cách thức thực hiện, dưới hình thức các chỉ tiêu, kế hoạch hay chương trình.
Kiểm tra : trong quá trình thực hiện hay sau khi thực hiện, để biết ta làm được gì so với mục tiêu và kế hoạch đặt ra.
Nguyên tắc cơ bản của marketing là tất cả phải
bắt đầu từ thông tin. Được thực thường xuyên trong suốt quá trình thực hiện một dự án nào đó.
Chia tiến trình marketing ra 4 bước :
Thông tin: phân tích thông tin và đánh giá tình hình
Hoạch định: tổ chức, xác định mục tiêu và chiến lược
Hành động
Kiểm soát
3. Cấp độ cao :
Marketing được xem như một tập hợp những khái niệm và kỹ thuật. Đây là cấp độ cuối cùng và là phần dễ nhận thấy nhất của marketing
Các kỹ thuật markeitng cung cấp những công
cụ cần thiết: như nghiên cứu thị trường, thiết
kế sản phẩm, đưa sản phẩm ra thị trường, theo dõi
và giải thích những phản ứng của thị trường.
MARKETING CHIẾN LƯỢC VÀ MARKETING NGHIỆP VỤ :
Marketing chiến lược là nghiên cứu giúp định hướng
cho tương lai của doanh nghiệp
Marketing nghiệp vụ lại có chức năng hỗ trợ bán hàng.
Đối với một vài doanh nghiệp, marketing phải bao
hàm cả chức năng bán hàng thì mới có hiệu quả.
Muốn hướng tới marketing tiên tiến, doanh nghiệp phải cókhả năng thích ứng và cải tiến sản phẩm, nhưng trước hết cần có đủ khả năng tiêu thụ được hàng hóa trong một môi trường cạnh tranh.
NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN :
PHÂN ĐOẠN THỊ TRƯỜNG, XÁC ĐỊNH
KHÁCH HÀNG MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH VỊ SẢN PHẨM :
Bộ ba này tương ứng với một tập hợp những
quyết định cho phét định hướng những gì mà doanh
nghiệp có thể cung ứng cho thị trường. Cạnh tranh
càng khốc liệt, doanh nghiệp càng khó thêm nhập
thị trường hay giữ vững vị trí của mình. Phải tạo
cho sản phẩm và dịch vụ của mình những nét khác
biệt, làm cho chúng hấp dẫn hơn so với các sản
phẩm cạnh tranh.
Phân đoạn thị trường :
Nhìn từ quan điểm marketing là đạt được mức độ
"khách hàng nào sản phẩm đó" thích ứng đến mức
tối đa với nhu cầu, mong muốn cũng như thị hiếu
của mỗi một khách hàng.
Chúng ta phải tìm kiếm một sự dung hòa giữa trở
ngại về chi phí và sự cần thiết phải thích ứng với
thị trường. Có thể đạt được điều này nhờ việc
phân đoạn thị trường hay chính là việc phân chia
khách hàng thành nhóm nhỏ hơn có nhu cầu gần
giống nhau.
Xác định thị trường mục tiêu :
Đây chính là bước thứ hai của tiến trình marketing, nhằm xác định các phân đoạn mà doanh nghiệp cần đặc biệt chú trọng trong số các phân đoạn đã hình thành. Bước này xét đến cả những yếu tố mang tính chiến lược : sự lựa chọn thị trường không chỉ tùy thuộc vào khả năng kinh doanh mà còn tùy thuộc vào mức tăng trưởng dự kiến của thị trường, vào sức ép cạnh tranh .
Định vị sản phẩm :
Doanh nghiệp "định vị sản phẩm" : làm cho sản phẩm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nhóm khách hàng đã chọn vàkhác biệt với các sản phẩm cạnh tranh cùng loại, thông qua các đặc tính của sản phẩm, giá cả, các điểm phân phối mà nhóm khách hàng này thường lui tới.
 







Các ý kiến mới nhất