Tuần 31. Một thời đại trong thi ca (trích)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Ngọc Nam
Ngày gửi: 14h:50' 07-05-2020
Dung lượng: 35.5 MB
Số lượt tải: 1170
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Ngọc Nam
Ngày gửi: 14h:50' 07-05-2020
Dung lượng: 35.5 MB
Số lượt tải: 1170
Số lượt thích:
0 người
CHÀO MỪNG
CÔ GIÁO VÀ CÁC BẠN!
1
3
2
4
KHỞI ĐỘNG
?
Tìm câu hỏi đang ẩn đằng sau những con số dưới đây và trả lời câu hỏi.
1
3
2
4
Bức tranh này gợi nghĩ đến những câu thơ trong một bài thơ của Hàn Mặc Tử. Đó là những câu thơ nào? Trong bài thơ nào?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)
ĐÁP ÁN:
00
01
02
03
04
05
Hết giờ
Là một người viết nhiều, viết hay về trăng, nhưng cũng là người đầu tiên đem trăng đi “rao bán chợ trời”. Đó là nhà thơ nào?
Hàn Mặc Tử
ĐÁP ÁN:
1
3
2
4
Trăng nằm sóng xoãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi. - (Bẽn lẽn)
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay? - (Đây thôn Vĩ Dạ)
Ai mua trăng tôi bán trăng cho, Trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ. Ai mua trăng tôi bán trăng cho, Chẳng bán tình duyên với hẹn hò. (Ai mua trăng)
00
01
02
03
04
05
Hết giờ
Đây là bức tranh thiên đường mặt đất trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu. Những câu thơ nào đã diễn tả một cách tinh tế vẻ đẹp này?
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
…… (Vội vàng – Xuân Diệu)
ĐÁP ÁN:
1
3
2
4
00
01
02
03
04
05
Hết giờ
ĐÁP ÁN:
1
3
2
4
Được sáng tác vào mùa thu năm 1939, bài thơ này được đánh giá là tiêu biểu nhất cho hồn thơ của Huy Cận. Đó là bài thơ nào?
Được khơi nguồn cảm xúc từ cảnh sông Hồng mêng mang sóng nước, bài thơ là nỗi buồn sâu sắc của tác giả trước vũ trụ bao la đang bao trùm lên tất cả: “Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Tràng giang
00
01
02
03
04
05
Hết giờ
Một thời đại trong thi ca
(Trích “Thi nhân Việt Nam”)
- Hoài Thanh -
I. Tìm hiểu chung
1.Tác giả:
* Cuộc đời:
Hoài Thanh (1909-1982), tên thật Nguyễn Đức Nguyên.
Quê: Nghệ An
- Gia đình: nhà Nho nghèo
- Bản thân:
+ Trước Cách mạng: tham gia các phong trào yêu nước.
+ Sau cách mạng: ông hoạt động trong ngành văn hóa nghệ thuật, giữ nhiều cương vị quan trọng.
Một thời đại trong thi ca
(Hoài Thanh)
I. Tìm hiểu chung
1.Tác giả:
Một thời đại trong thi ca
(Hoài Thanh)
* Sự nghiệp sáng tác:
Các tác phẩm chính: SGK
Phong cách phê bình: thiên về thưởng thức, ghi nhận ấn tượng
=> Lối phê bình “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”.
I. Tìm hiểu chung
1.Tác giả:
Một thời đại trong thi ca
(Hoài Thanh)
* Đóng góp: Đem đến cho văn học một phong cách phê bình riêng đặc sắc:
+ Sự uyên bác về tri thức
+ Sự tinh tế trong cảm thụ
+ Ngòi bút phê bình tinh tế, nhẹ nhàng, giàu chất thơ
=> Nh phờ bỡnh van h?c xu?t s?c nh?t c?a van h?c Vi?t Nam hi?n d?i
2. Tác phẩm: “Thi nhân Việt Nam”
(Hoài Thanh)
- Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
- Xuất xứ: Công trình biên khảo về phong trào Thơ Mới 1932-1945, viết năm 1941, hoàn thành năm 1942.
- Thể loại: Phê bình văn học
Một thời đại trong thi ca
PHẦN I:
Cung chiêu anh hồn Tản Đà
Tiểu luận: Một thời đại trong thi ca
PHẦN II:
169 bài thơ của 46 nhà thơ
PHẦN III
“Nhỏ to” - Lời tác giả
Nguồn gốc quá trình phát triển của thơ mới và sự phân biệt thơ mới với thơ cũ.
Đặc điểm và tinh thần thơ mới.
Sự phân hoá của thơ mới.
(Hoài Thanh)
3. Tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”
Xuất xứ, vị trí:
+ Đặt ở đầu của cuốn “Thi nhân Việt Nam”;
+ Là công trình tổng kết về phong trào Thơ mới;
+ Là áng văn phê bình bất hủ.
Một thời đại trong thi ca
4. Đoạn trích:
- Vị trí: Đoạn trích trong SGK nằm ở cuối của bài tiểu luận cùng tên mở đầu cho “Thi nhân Việt Nam”.
II. Đọc – hiểu văn bản
1. Đọc, chú thích
2. Bố cục:
3 phần
Phần 1: Từ đầu đến … nhìn vào đại thể”
Con đường và nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới
Phần 2: “Cứ đại thể … đến …tội nghiệp quá”
Tinh thần Thơ mới định nghĩa và hành trình
Phần 3: Còn lại
Bi kịch và hướng giải quyết bi kịch
Chặt chẽ, logic, khoa học
3. Phân tích:
a. Con đường và nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới:
a. Con đường và nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới:
* Con đường không hề dễ dàng, khó khăn và phức tạp.
Tác giả đưa ra hai giả thuyết:
+ Giả thuyết thứ nhất: “Giá các nhà thơ mới cứ viết những câu như hai câu vừa trích trên này thì tiện cho ta biết mấy.
“Hôm nay tôi đã chết trong người
Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi.”
+ Giả thuyết thứ hai: “Giá trong thơ cũ chỉ có những trần ngôn sáo ngữ, những bài thơ chúc tụng, những bài thơ vịnh hết cái này đến cái nọ, mà các nhà thơ mới lại chỉ làm những bài kiệt tác thì cũng tiện cho ta biết mấy.”
- Tác giả đưa ra dẫn chứng bằng cách so sánh:
+ Thơ Xuân Diệu:
“ Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;
Tình du khách: Thuyền qua không buộc chặt.”
Thơ mới: hình ảnh ước lệ cổ điển.
+ Thơ Hồ Xuân Hương / Bà Huyện Thanh Quan:
“ Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ!
Ai thấy ai mà chẳng ngẩn ngơ?”
=> Thơ cũ: giọng trẻ trung, hiện đại.
Cách nêu giả thuyết
Cách nêu dẫn chứng, so sánh
* Con đường để xác định tinh thần của Thơ mới là rất khó khăn:
+ Ranh giới giữa Thơ mới và thơ cũ không phải lúc nào cũng rõ ràng, dễ nhận ra.
+ Trong cả thơ mới và thơ cũ đều đan xen cả những bài hay, bài dở.
Nguyên tắc xác định tinh thần thơ mới
* Nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới:
Nguyên tắc thứ nhất: “Khốn nỗi, cái tầm thường, cái lố lăng chẳng phải của riêng một thời nào và muốn hiểu tinh thần thơ cho đúng đắn, phải sánh bài hay với bài hay vậy.”
-> Phương pháp so sánh bài hay với bài hay.
Nguyên tắc thứ hai: “Trời đất không phải dựng lên cùng một lần với thế hệ chúng ta. Hôm nay đã phôi phai từ hôm qua và trong cái mới vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ. Các thời đại vẫn liên tiếp cùng nhau và muốn rõ đặc sắc mỗi thời phải nhìn vào đại thể.”
-> Cái nhìn bao quát, biện chứng nhiều chiều.
Nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới: Chỉ căn cứ vào cái hay, không căn cứ vào cái dở; chỉ căn cứ vào đại thể, không căn cứ vào tiểu tiết
Cách nêu luận điểm rõ ràng, mới mẻ, khoa học; dẫn chứng tiêu biểu, lập luận theo lối quy nạp rất chặt chẽ, giàu sức thuyết phục.
b. Tinh thần Thơ mới:
* Định nghĩa: Tinh thần Thơ mới bao gồm trong chữ tôi, bản chất chữ tôi chính là quan niệm cá nhân được hiểu theo nghĩa tuyệt đối của nó.
“ Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa – hay thơ cũ – và thời nay – hay thơ mới – có thể gồm lại trong hai chữ tôi và ta. Ngày trước là thời chữ ta, bây giờ là thời chữ tôi. Nói giống nhau thì vẫn có chỗ giống nhau như chữ tôi vẫn giống chữ ta. Nhưng chúng ta hãy tìm những chỗ khác nhau.”
Tinh thần của thời xưa – thơ cũ
Chữ ta
Tinh thần của thời nay – thơ mới
Chữ tôi
Cái chung
Ý thức cộng đồng
Cái riêng
Ý thức cá nhân
Nhận xét chung:
Tác giả đã bắt đúng mạch chính của 2 dòng chảy thi ca (thơ cũ – thơ mới; thơ trung đại – thơ hiện đại)
Phát hiện đúng cái gốc của sự khác biệt
Cách thâu tóm ngắn gọn, rõ ràng
* Hành trình của cái tôi (cá nhân trong nghĩa tuyệt đối của nó):
“Ngày thứ nhất – ai biết đích ngày nào – chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ. Nó như lạc loài nơi đất khách. Bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân...”
“Bởi vậy cho nên, khi chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó, xuất hiện giữa thi đàn Việt nam, bao nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu...”
“Nhưng, ngày một ngày hai, nó mất dần cái vẻ bỡ ngỡ. Nó được vô số người quen. Người ta lại còn thấy nó đáng thương. Mà thật nó tội nghiệp quá.”
“Ngày thứ nhất”:
Bỡ ngỡ, lạc loài
Khó chịu, chướng mắt
“Ngày một ngày hai”:
Vô số người quen
Đáng thương, tội nghiệp
Hình tượng hóa cái tôi có dáng vẻ, điệu bộ, cảnh ngộ như một con người.
c. Bi kịch cái tôi cá nhân và hướng giải quyết bi kịch:
* Bi kịch cái tôi cá nhân:
Bi kịch thứ nhất:
“Thi nhân ta cơ hồ đã mất hết cái cốt cách hiên ngang ngày trước. Chữ ta với họ to rộng quá. Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ tôi................. Nhưng ta trách gì Xuân Diệu! Xuân Diệu, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại, chỉ nói cái khổ sở, cái thảm hại của hết thảy chúng ta.”
- Bi kịch mất hết cốt cách hiên ngang ngày trước:
+ Không có khí phách ngang tàng như Lí Bạch
+ Không có lòng tự trọng sinh cảnh cơ hàn như Nguyễn Công Trứ
+ Rên rỉ, khổ sở, thảm hại.
Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch, người quân tử ăn chẳng cầu no
Đêm năm canh an giấc ngáy kho kho, đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ
Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ
Cười trước
cảnh nghèo
Khóc than
trước cảnh nghèo
Cái Tôi thơ mới yếu đuối, khổ sở, thảm hại
+ Ví dụ, so sánh:
NGUYỄN CÔNG TRỨ
XUÂN DIỆU:
- Bi kịch thứ hai: “Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.”
Bi kịch “mất bề rộng”
“Ta đi tìm bề sâu”
“Càng đi sâu càng lạnh”
Không tìm được tiếng nói chung với cuộc đời, không tìm được sự giao thiệp.
Trốn vào ý thức cá nhân, thoát li cuộc đời theo các xu hướng thoát li.
Cành muốn vượt thoát thì cuối cùng càng bế tắc, cô đơn.
Thế Lữ
Lưu Trọng Lư
Chế Lan Viên
Hàn Mặc Tử
Xuân Diệu
Huy Cận
Lên tiên
Phiêu lưu trong
trường tình
Điên cuồng
Đắm say
Ngẩn ngơ buồn
Động tiên
khép
Tình yêu
không
bền
Điên rồi
tỉnh
Vẫn
bơ vơ
Sầu
=>Buồn, cô đơn, bế tắc.
=> Điệp từ, liệt kê, diễn đạt tinh tế, tài hoa, lập luận chặt chẽ, giàu cảm xúc, hấp dẫn lôi cuốn người đọc.
=> Chính sự thoát li theo các xu hướng đã đưa đến sự “nở rộ” của phong cách thơ.
- Bi kịch thứ ba: “Thời trước, dầu bị oan khuất như Cao Bá Nhạ, dầu bị khi bỏ như cô phụ trên bến Tầm Dương, vẫn còn có thể nương tựa vào một cái gì không di dịch. Ngày nay lớp thành kiến phủ trên linh hồn đã tiêu tan cùng lớp hoa hoè phú trên thi tử. Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta. Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn vào đo ta thấy thiếu một điều, một điều cần hơn trăm nghìn điều khác: một lòng tin đầy đủ.”
-> Bi kịch thiếu một lòng tin đầy đủ vào thực tại, tìm cách thoát li nhưng lại rơi vào bi kịch không thể nương tựa vào một cái gì đó, không thể di dịch như thuở trước
* Giải quyết bi kịch:
“Bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt. Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt. Tiếng Việt, họ nghĩ, là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua. Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn tấm hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng.........”
Điệp cấu trúc “chưa bao giờ...”, giọng văn đồng cảm, chia sẻ.
Giải pháp cho những bi kịch trên: gửi tình yêu vào tiếng Việt
-> Đánh giá các giải pháp:
Tấm lòng trân trọng, tình yêu tha thiết với tiếng Việt
Thể hiện sức sống lâu bền của tiếng Việt
Tạo ra mối liên hệ giữa tiền nhân – hậu thế
=> Tấm lòng yêu nước của các nhà thơ mới.
- Ví dụ:
“ Nằm trong tiếng nói yêu thương
Nằm trong tiếng mẹ vấn vương một thời
Sơ sinh lòng mẹ đưa nôi
Hồn thiêng đất nước cùng ngồi bên con
Tháng ngày con mẹ lớn khôn
Yêu thơ, thơ kể lại hồn ông cha
Đời bao tâm sự thiết tha
Nói trong tiếng nói ông cha thuở nào”
(Huy Cận)
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật:
Kết cấu chặt chẽ, lập luận khoa hoc.
- Văn phong tài hoa, sắc sảo mà tinh tế, giàu cảm xúc, ngôn ngữ giàu hình ảnh mang sắc thái biểu cảm cao.
2. Nội dung:
- Nêu rõ nội dung cốt yếu của “tinh thần thơ mới
- Nói lên “cái bi kịch ngấm ngầm trong hồn người thanh niên” thời bấy giờ.
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN
CÔ GIÁO VÀ CÁC BẠN
 







Các ý kiến mới nhất