Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

©mTi lieu tap huan he

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Suu tam
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Phúc
Ngày gửi: 13h:08' 09-08-2010
Dung lượng: 286.5 KB
Số lượt tải: 66
Số lượt thích: 0 người
DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ PHỔ THÔNG THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
(đợt tập huấn hè năm 2010)
MỤC TIÊU
1. Hiểu được bản chất của việc tổ chức dạy học môn Công nghệ theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn học

2. Lập được kế hoạch dạy học môn Công nghệ theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình thông qua “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”

3. Chấp nhận và đánh giá về chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Công nghệ

NỘI DUNG
Gồm 2 nội dung:

I. QUAN NIỆM VỀ DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ PHỔ THÔNG THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG

II. DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THÔNG QUA DẠY HỌC DỰA TRÊN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. QUAN NIỆM
1. Là gì?
a) Môn học Công nghệ
Theo Từ điển Giáo dục học:
“Môn học Công nghệ - bộ môn trong chương trình giáo dục của nhà trường phổ thông ở bậc Tiểu học và Trung học có nhiệm vụ cung cấp cho người học những kiến thức ban đầu và rèn luyện các kỹ năng lao động tối thiểu trong cuộc sống tự lập làm cơ sở việc định hướng và lựa chọn nghề nghiệp về sau”.
Chương trình môn Công nghệ phổ thông (sơ đồ 1, 2 và bảng Kế hoạch DH)

I. QUAN NIỆM
1. Là gì?
b) Chuẩn:
Theo Từ điển tiếng Việt:
- Cái được lựa chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng (xếp hàng dọc, lấy người thứ nhất làm chuẩn);
- Vật được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo lường (chuẩn quốc gia, chuẩn quốc tế);
- Cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc theo thói quen trong xã hội (chuẩn chính tả)
I. QUAN NIỆM
b) Chuẩn:
Vậy: Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (gọi chung là yêu cầu) tuân thủ những nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó và khi đạt được những yêu cầu của chuẩn thì cũng có nghĩa là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lí hoạt động, công việc, sản phẩm đó
I. QUAN NIỆM
b) Chuẩn:
Yêu cầu là sự cụ thể hóa, chi tiết, tường minh của chuẩn, chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng. Yêu cầu có thể được đo thông qua chỉ số thực hiện. Yêu cầu được xem như những điểm kiểm soát và để đánh giá chất lượng đầu vào, đầu ra cũng như quá trình đào tạo.
Như vây, chuẩn do con người đặt ra để thực hiện cho thống nhất (chuẩn hóa); chuẩn có tính lịch sử
I. QUAN NIỆM
Những yêu cầu cơ bản của chuẩn:
- Chuẩn phải có tính khách quan, rất ít lệ thuộc vào quan điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng chuẩn.
- Đảm bảo tính khả thi có nghĩa là chuẩn đó có thể đạt được (là trình độ hay mức độ dung hòa hợp lý giữa yêu cầu phát triển ở mức cao hơn với những thực tiễn đang diễn ra)
- Đảm bảo tính cụ thể, tường minh và đạt tối đa chức năng định lượng
- Đảm bảo mối liên quan, không mâu thuẫn với các chuẩn khác trong cùng lĩnh vực hoặc những lĩnh vực gần gũi khác
I. QUAN NIỆM
c) Chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục
Điều 7 (Nghị định số 75/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục) về Chuẩn kiến thức, kỹ năng (Chuẩn KT, KN); quy định:
- Chuẩn KT, KN trong chương trình giáo dục là mức tối thiểu về kiến thức, kỹ năng mà người học phải đạt được sau khi kết thúc một chương trình giáo dục.
- Chuẩn KT, KN trong chương trình giáo dục là căn cứ chủ yếu để biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, đánh giá kết quả học tập của người học.
I. QUAN NIỆM
- Chuẩn KT, KN phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

+ Thể hiện mục tiêu giáo dục đối với từng môn học, lớp, cấp học, trình độ đào tạo;

+ Thể hiện kiến thức, kỹ năng mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế;

+ Được cụ thể hoá thành các tiêu chí phù hợp, làm cơ sở cho việc xây dựng, thực hiện, theo dõi, giám sát và đánh giá khách quan chương trình giáo dục.

d) Chuẩn KT, KN môn Công nghệ
- Chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Công nghệ là mức độ mà mọi HS cần phải và có thể đạt được về kiến thức và kỹ năng của môn học sau một giai đoạn học tập xác định.

- Chuẩn KT, KN môn Công nghệ là căn cứ để biên soạn SGK công nghệ, quản lí việc dạy và học, đánh giá kết quả giáo dục của môn học. Qua đó đảm bảo sự thống nhất, khả thi của chương trình.
d) Chuẩn KT, KN môn Công nghệ
- Giáo viên dạy môn Công nghệ sử dụng chuẩn KT, KN làm căn cứ để giảng dạy, ra đề kiểm tra, đối chiếu sự liên thông của môn Công nghệ giữa các lớp học.

Như vậy, chuẩn cần phải bảo đảm các yêu cầu về: tính khách quan (không/ít phụ thuộc vào người dử dụng, đánh giá); có hiệu lực cả về thời gian và phạm vi áp dụng; khả thi, cụ thể, tường minh (phù hợp với thực tiễn và có thể định lượng được); hệ thống (không mâu thuẫn với các quy định khác trong cùng lĩnh vực giáo dục)
e) Chú ý
(1) Chuẩn KT, KN là một bộ phận của chương trình. Chuẩn không chỉ thể hiện ở số lượng đơn vị kiến thức/kỹ năng (ví dụ 3 hay 6 đơn vị) mà quan trọng hơn là mức độ nhận thức/kiến thức, kỹ năng cần đạt được (hay gọi chung là mức năng lực cần đạt được). Nghĩa là phải quan tâm cả chiều rộng và chiều sâu.

(2) Chuẩn KT, KN là yêu cầu tối đa khi ra đề thi, kiểm tra chung cho mọi đối tượng học sinh; nhưng có thể là yêu cầu tối thiểu khi ra đề thi, kiểm tra học sinh giỏi.
e) Chú ý
(3) Chương trình là căn cứ pháp lý; SGK, SBT, SGV, Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng là các tài liệu tham khảo (là các phương án thể/thực hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình).

(4) Khi có những vấn đề “lệch pha” giữa Chương trình (trong đó có chuẩn kiến thức, kỹ năng); SGK, SBT, SGV, Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng,... thì lấy Chương trình là căn cứ để giải quyết.

e) Chú ý
(5) Một số vấn đề cần thảo luận
- Nên gọi là Chuẩn KT, KN hay gọi là Chuẩn năng lực (vì đôi khi khó phân biệt rạch ròi kiến thức với kỹ năng). Tuy nhiên, trong Tâm lý học mới chỉ phân chia năng lực thành 3 mức độ khác nhau: năng lực --> tài năng --> Thiên tài
- Phải xuất phát từ học viên mà xây dựng mục tiêu, chương trình, nội dung, hình thức và PP tập huấn sao cho phù hợp và hiệu quả. Ví dụ: nghiên cứu học viên và chia nhóm --> giao nhiệm vụ (sản phẩm cuối cùng học viên phải đạt được) --> quy trình hoạt động --> đánh giá kết quả tập huấn.
e) Chú ý
- Chú ý liên hệ với Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học và quy định Chế độ làm việc đối với giáo viên trung học

- Học viên tham gia tập huấn phải có Chương trình; SGK, SBT, SGV, Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng và các tài liệu tham khảo khác

- Hướng dẫn giáo viên cốt cán lập kế hoạch thực hiện một khóa bồi dưỡng/tập huấn như thế nào
2. Các cấp độ của Chuẩn KT, KN môn CN
a) Chuẩn KT, KN của cả chương trình môn học trong từng giai đoạn học tập (cuối các lớp học, cấp học).
b) Chuẩn KT, KN của từng lĩnh vực (phân môn) trong chương trình môn học (ví dụ: kinh tế gia đình, nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp).
c) Chuẩn KT, KN của từng chương/chủ đề trong chương trình môn học.
d) Chuẩn KT, KN của từng bài học, đơn vị kiến thức trong chương trình môn học (như là các minh chứng cụ thể của chuẩn).
3. Cấu trúc nội dung của chuẩn
Chuẩn KT, KN của Chương trình GD nói chung và môn Công nghệ nói riêng đựơc cấu trúc theo bảng (trong đó có 3 cột với 3 nội dung là chủ đề, mức độ cần đạt và ghi chú và các hàng thể hiện nội dung tương ứng của các cột), trong đó:

(1) Cột chủ đề: trình bày tên các chương (chủ đề) của chương trình để định hướng về nội dung kiến thức, kỹ năng cần đạt được.

3. Cấu trúc nội dung của chuẩn
(2) Cột mức độ cần đạt: trình bày yêu cầu về phạm vi và mức độ của kiến thức, kỹ năng cần đạt được trong dạy học theo mục tiêu của môn học đã đề ra

(3) Cột ghi chú: trình bày những nội dung trọng tâm mà giáo viên cần tập trung khai thác, hướng đến mục tiêu dạy học.

Ví dụ Chuẩn KT-KN Công nghệ 8

4. Sử dụng chuẩn như thế nào (bảng)
4.1 Sử dụng chuẩn trong xác định mục tiêu dạy hoc (mục đích, yêu cầu cho một tiết dạy, bài dạy, chủ đề...)
Chuẩn KT, KN của chương trình là cơ sở để xác định mục tiêu của bài dạy trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, do điều kiện dạy học khác nhau (cơ sở vật chất, thiết bị dạy học; trình độ học sinh…); do đó cần cụ thể hóa mục tiêu trong SGK cho phù hợp
Có thể tham khảo cách phân chia các loại và mức độ/thứ bậc của mục tiêu dạy học phỏng theo cách làm của BS.Bloom (bảng 1).
4. Sử dụng chuẩn như thế nào
Trong cách làm này, mục tiêu kiến thức (còn gọi là mục tiêu nhận thức) có 6 mức độ khác nhau (còn gọi là thứ bậc/khoảng mục tiêu); trong đó ba mức độ cao (từ mức 4 đến mức 6) thường được coi là mức độ phương pháp. Mục tiêu kỹ năng và mục tiêu thái độ được chia làm 5 mức khác nhau (từ 1 đến 5 theo mức độ tăng dần)

Trong mỗi thứ bậc của từng loại mục tiêu đều có một số động từ chỉ mức độ cần đạt được ở các mức khác nhau để GV lựa chọn cho phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể. Giữa các thứ bậc này thường có sự giao thoa nên có thể có những động từ xuất hiện ở hai thứ bậc liên tiếp
Ví dụ
Trong cách làm này, mục tiêu kiến thức (còn gọi là mục tiêu nhận thức) có 6 mức độ khác nhau (còn gọi là thứ bậc/khoảng mục tiêu); trong đó ba mức độ cao (từ mức 4 đến mức 6) thường được coi là mức độ phương pháp. Mục tiêu kỹ năng và mục tiêu thái độ được chia làm 5 mức khác nhau (từ 1 đến 5 theo mức độ tăng dần)
Trong mỗi thứ bậc của từng loại mục tiêu đều có một số động từ chỉ mức độ cần đạt được ở các mức khác nhau để GV lựa chọn cho phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể. Giữa các thứ bậc này thường có sự giao thoa nên có thể có những động từ xuất hiện ở hai thứ bậc liên tiếp
Đối chiếu mục tiêu bài dạy bất kỳ trong SGK với bảng mục tiêu dạy học!
4.2 Sử dụng chuẩn trong việc chuẩn bị cho bài dạy, chủ đề

Tùy theo đặc điểm bài dạy (lý thuyết hay thực hành) và mức độ yêu cầu trong chuẩn mà quyết định những chuẩn bị về nội dung cũng như chuẩn bị về phương tiện, đồ dùng dạy học cụ thể.
4.3 Sử dụng chuẩn trong việc đặt vấn đề và tổ chức lớp học
a) Sử dụng chuẩn cho việc đặt vấn đề cho một chủ đề hay một bài dạy:
Từ việc phân tích cột “mức độ cần đạt” của chủ đề trong chuẩn, có thể khái quát thành một (hoặc một vài) vấn đề chính, trọng tâm và ý nghĩa của chúng để xác định câu (hoặc đoạn) đặt vấn đề cho một chủ đề hay một bài dạy (xem phần đặt vấn đề trong các ví dụ ở phần tiếp theo).

4.3 Sử dụng chuẩn trong việc đặt vấn đề và tổ chức lớp học
b) Sử dụng chuẩn trong việc tổ chức lớp học:

Khi yêu cầu của chuẩn chỉ ở mức độ “biết”, có thể dùng hình thức giới thiệu chung cho cả lớp. Khi yêu cầu của chuẩn ở mức độ “hiểu”, có thể dùng hình thức tìm hiểu chung cho từng nhóm.
Khi yêu cầu của chuẩn ở mức độ “vận dụng”, có thể dùng hình thức tìm hiểu cho từng cá nhân kết hợp với thảo luận nhóm (mỗi nhóm có thể được phân công tìm hiểu và thảo luận các vấn đề khác nhau trong nội dung bài dạy, sau đó mới trình bày và thảo luận kết quả trong phạm vi toàn lớp)
4.3 Sử dụng chuẩn trong việc đặt vấn đề và tổ chức lớp học
b) Sử dụng chuẩn trong việc tổ chức lớp học:

Mỗi bài dạy (hay chủ đề) có thể có các yêu cầu khác nhau của chuẩn cho từng nội dung (hoặc đơn vị kiến thức). Khi đó cần sử dụng kết hợp các kỹ thuật (hình thức) trên một cách linh hoạt trong một bài dạy.

4.4 Sử dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng cho việc đánh giá kết quả học tập của học sinh
Chuẩn kiến thức, kĩ năng là cơ sở để xây dựng câu hỏi, bài tập và thiết kế đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Ví dụ: khi xây dựng bảng trọng số (ma trận) kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Nếu một chiều ma trận có m nội dung kiến thức, chiều kia có n (n<6) mức độ nhận thức thì ma trận đó sẽ có m.n ô. Trong mỗi ô của ma trận là số lượng câu hỏi và trọng số điểm dành cho câu hỏi đó.
4.4 Sử dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng cho việc đánh giá kết quả học tập của học sinh
Quyết định số lượng câu hỏi cho từng mục tiêu tùy thuộc vào thời gian làm bài, mức độ quan trọng của mục tiêu đó và trọng số điểm quy định cho từng nội dung, từng mức độ nhận thức. Một sự phân tích cụ thể về từng nội dung, từng mức độ nhận thức trong ma trận sẽ cung cấp cho GV biên soạn đề trắc nghiệm một bảng tóm tắt cụ thể những ý đồ chủ yếu của bài trắc nghiệm. Ma trận [m.n] sẽ định rõ những gì mà bài trắc nghiệm phải bao hàm chứ không phải là mô tả một cách tóm tắt những gì đã có trong chương trình giảng dạy.
Việc thiết kế ma trận [m.n] có thể tiến hành qua những bước sau:
4.4 Sử dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng cho việc đánh giá kết quả học tập của học sinh
Việc thiết kế ma trận [m.n] có thể tiến hành qua những bước sau:
(1). Xác định trọng số cho từng khối kiến thức: căn cứ vào số tiết quy định trong phân phối chương trình, căn cứ vào mức độ quan trọng của của khối kiến thức trong chương trình mà xác định số điểm cho từng khối.
(2). Xác định trọng số cho từng hình thức câu hỏi: nếu kết hợp cả hai hình thức TNKQ và TL trong cùng một đề thì cần xác định trọng số điểm từng phần sao cho thích hợp. Ví dụ, do đặc thù bộ môn số trọng điểm thích hợp của môn công nghệ giữa hai hình thức TNKQ và TNTL là 5: 5 hay 6:4.
4.4 Sử dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng cho việc đánh giá kết quả học tập của học sinh
(3). Xác định trọng số điểm cho từng mức độ nhận thức: để đảm bảo phân phối điểm thô sau khi HS làm bài trắc nghiệm có dạng chuẩn hay gần chuẩn thì việc xác định trọng số điểm cho từng mức độ nhận thức nên tuân theo nguyên tắc: mức độ nhận thức trung bình có trọng số điểm không ít hơn các mức độ nhận thức khác
(4). Xác định số lượng các câu (item) sẽ ra trong đề và trong ô ma trận: Căn cứ các trọng số điểm mà định số câu hỏi tương ứng. Lưu ý các câu hỏi trắc nghiệm khách quan là có số điểm như nhau và thời gian làm bài kiểm tra của mỗi câu TNKQ (mỗi câu HS phải có trung bình từ 1 đến 2 phút để đọc và trả lời)
4.4 Sử dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng cho việc đánh giá kết quả học tập của học sinh
Việc so sánh ma trận hai chiều [m,n] với chương trình môn học sẽ cho thấy bài trắc nghiệm là một mẫu tiêu biểu hợp lý của nội dung chương trình môn học hay không? Đồng thời có thể cho thấy sự cân đối cần thiết giữa các mức độ tư duy cần đánh giá hay là sự cân đối giữa các hình thức trắc nghiệm cần kết hợp.
(Vấn đề này sẽ được giới thiệu cụ thể trong nội dung về tổ chức kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng môn học).
Một số gợi ý sử dụng
- Nếu mức độ mục tiêu là “biết” thì giáo viên chỉ cần đặt những câu hỏi, bài tập sát với nội dung SGK;
- Nếu mức độ của mục tiêu là “hiểu” thì giáo viên xây dựng câu hỏi, bài tập yêu cầu giải thích, chứng minh cơ sở khoa học hay quy trình, yêu cầu học sinh phải nắm vững bản chất của khái niệm, sự vật, hiện tượng hay thao tác kỹ thuật để trả lời câu hỏi. Những câu hỏi này không nên ra đúng câu chữ mà học sinh chỉ thuộc bài trong SGK là trả lời được.
- Nếu mức độ mục tiêu là “vận dụng” thì câu hỏi, bài tập giáo viên xây dựng hoặc lựa chọn phải mang tính tổng hợp, yêu cầu phải nắm vững nội dung và bản chất của các vấn đề trong bài học mới có thể trả lời được.
Một số gợi ý sử dụng
Tuy nhiên, ở mức độ mục tiêu nào cũng có thể xây dựng được những câu hỏi, bài tập khác nhau về độ khó, độ phân biệt; song cũng nên tránh những câu hỏi đánh đố hoặc câu hỏi vượt quá xa quy định trong chương trinh.

Các gợi ý trên cũng có thể áp dụng cho việc đặt câu hỏi (dạy học đàm thoại) trong tiến trình bài dạy.
Như vậy, để đặt câu hỏi, thiết kế các đề kiểm tra, giáo viên cần sử dụng chuẩn kiến thức, kỹ năng một cách linh hoạt cho phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể.
5. Kết luận

(1) Chuẩn KT, KN của môn học là một quy định mang tính thống nhất, có thể được sử dụng trong toàn bộ các khâu của quá trình dạy học môn học: từ xác định mục tiêu dạy học, chuẩn bị, lên lớp (thực hiện bài dạy với các phương pháp, kỹ thuật dạy học khác nhau), đến khâu đánh giá kết quả dạy học.
5. Kết luận
(2) Thảo luận các vấn đề sau:
- Dạy học như thế nào là bám sát Chuẩn kiến thức, kỹ năng?
- Sử dụng Chuẩn kiến thức, kỹ năng phù hợp với các đối tượng HS (yếu, kém, trung bình, khá, giỏi) như thế nào?
- Sử dụng Chuẩn kiến thức, kỹ năng phù hợp với các vùng, miền như thế nào?
- Kiểm tra đánh giá như thế nào là bám sát Chuẩn kiến thức, kỹ năng (đối với từng loại bài kiểm tra 15 phút, 45 phút, 120 phút...)?
như thế nào?
5. Kết luận
- Việc ra đề kiểm tra như thế nào là đảm bảo cơ bản? như thế nào là nâng cao? như thế nào là đề mở? Mở bao nhiêu là vừa đối với mỗi loại bài thi/kiểm tra?
- Làm thế nào để việc dạy học và kiểm tra đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng không có độ vênh?
- Vận dụng các phương pháp/kỹ thuật dạy học tích cực theo định hướng bám sát Chuẩn kiến thức, kỹ năng như thế nào?
- Phản hồi của giáo viên về tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kỹ năng như thế nào?
5. Kết luận
Vấn đề đặt ra là: Làm thế nào để sử dụng chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học một cách hiệu quả?

Có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong giải quyết câu hỏi này. Ở đây chỉ bàn đến một cách tiếp cận: áp dụng kiểu “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”.
II. DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THÔNG QUA DẠY HỌC DỰA TRÊN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Bản chất của dạy học theo chuẩn KT, KN thông qua “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” là vận dụng kiểu “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” trên cơ sở và trong phạm vi chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học.

Do đó cần nhắc lại và thống nhất một số quan niệm về “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” trước khi vận dụng nó
1. Quan niệm về “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề (Problem-based learning , viết tắt là PBL) - trong chương trình tập huấn này được hiểu theo nghĩa là dạy và học dựa trên vấn đề thực tiễn có liên quan đến người học và/đồng thời liên quan đến/thuộc phạm vi nội dung học tập đã được quy định trong “chuẩn kiến thức, kỹ năng” môn Công nghệ ở trường phổ thông trung học theo Chương trình giáo dục phổ thông năm 2006

1. Quan niệm về “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
Về bản chất, đó là việc học mà kết quả của nó thu được từ kết quả của quá trình giải quyết các vấn đề.

Do đó, vấn đề vừa là bối cảnh vừa là động lực cho việc học, quá trình giải quyết vấn đề là phương tiện đạt đến kết quả của việc học.
1. Quan niệm về “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
Trong PBL, kiến thức, kỹ năng cần học tập thường không được trình bày dưới dạng mặc định, có sẵn mà nó được tiềm ẩn trong các “vấn đề” mà khi giải quyết các “vấn đề” đó nó sẽ được bộc lộ ra; và thông qua giải quyết các vấn đề, người học sẽ chiếm lĩnh được kiến thức, kỹ năng đó.

Vì vậy, việc phát hiện/xây dựng vấn đề, tổ chức các hoạt động giải quyết vấn đề là nội dung trọng tâm của dạy học theo kiểu PBL.
1. Quan niệm về “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
Đặc trưng cơ bản của PBL là sự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng mới thông qua các hoạt động tư duy sáng tạo.

Ý nghĩa cơ bản của PBL là chuẩn bị cho người học một năng lực rất cần cho cuộc sống cá nhân, gia đình, cộng đồng: năng lực phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề gặp phải.
2. Các mức độ áp dụng “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
- Mức/trình độ áp dụng ở đây là chỉ tỷ lệ nội dung mà người học/HS tham gia vào các nội dung/công việc cơ bản của PBL nói trên; HS càng tham gia vào nhiều nội dung thì mức càng được xếp cao
- Người ta phân biệt 4 mức độ áp dụng (bảng 2)


3. Quy trình chung áp dụng “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
Theo cách rút gọn, Trần Bá Hoành hướng dẫn thực hiện PBL theo ba bước:

(1) Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức;

(2) Giải quyết vấn đề đặt ra;

(3) Kết luận;
3. Quy trình chung áp dụng “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
(1) Đặt vấn đề:
- xây dựng hoặc lựa chọn chủ đề;
- xác định mục tiêu dạy học; phân tích điều kiện thực hiện;
- chọn mức độ áp dụng PBL và các nguồn tài liệu tham khảo;
- dự kiến các hoạt động cần thực hiện;
- xác định nội dung cụ thể đặt vấn đề cho chủ đề.
3. Quy trình chung áp dụng “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
(2) Giải quyết vấn đề:
- tổ chức lớp học để nghiên cứu vấn đề thông qua các hoạt động cụ thể;
- chia nhóm, giao nhiệm vụ, thống nhất các quy định về thời gian, phân công, trình bày, đánh giá từng hoạt động;
- các nhóm tổ chức nghiên cứu, thảo luận nhằm trả lời các câu hỏi của vấn đề;
- tổ chức để các nhóm trình bày kết quả và tự đánh giá.

3. Quy trình chung áp dụng “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
(3) Kết luận:
- thảo luận và kết luận;
- đánh giá theo mục tiêu của chủ đề;
- đề xuất những vấn đề liên quan.

Hãy áp dụng ba bước rút gọn trên Lập kế hoạch dạy học dựa trên giải quyết vấn đề cho một nội dung cụ thể theo chuyên môn của bạn?
3. Quy trình chung áp dụng “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
(3) Kết luận:
- thảo luận và kết luận;
- đánh giá theo mục tiêu của chủ đề;
- đề xuất những vấn đề liên quan.

Hãy áp dụng ba bước rút gọn trên Lập kế hoạch dạy học dựa trên giải quyết vấn đề cho một nội dung cụ thể theo chuyên môn của bạn?
4. Một vài ví dụ minh họa áp dụng “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”
Ví dụ 1. Sử dụng một tình huống thực tiễn

Ví dụ 2. Sử dụng hợp lý điện năng

Ví dụ 3. Thiết kế mạch điện

Có nhận xét gì về các ví dụ trên?
5. Kết luận về “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” theo chuẩn KT, KN môn học
Để vận dụng PBL trong dạy học, cần phải:
- Nhìn nhận, phân tích và tổng hợp chương trình và nội dung dạy học theo tư duy hệ thống từ phía người học để làm cho nội dung học tập trở nên có ý nghĩa và gắn với cuộc sống thực tiễn của người học;
- Liên kết được kiến thức, kỹ năng của các môn học, các hoạt động giáo dục với kinh nghiệm sống của người học để xây dựng và giải quyết các vấn đề học tập có tính phức hợp, tính thực tiễn và phù hợp với mục tiêu dạy học của cấp học, bậc học
5. Kết luận về “dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” theo chuẩn KT, KN môn học
- PBL không chỉ giới hạn ở phạm trù PPDH. Việc vận dụng nó đòi hỏi phải cải tiến cả nội dung, phương tiện, cách thức tổ chức dạy và học cũng như đổi mới việc kiểm tra đánh giá kết quả dạy và học theo hướng thực tiễn, tích hợp.
- Trong phạm vi PPDH, nó có khả năng thâm nhập vào hầu hết các PPDH khác và làm cho chúng trở nên tích cực hơn, chẳng hạn như: thuyết trình nêu vấn đề, đàm thoại nêu vấn đề - ơrixtic, biểu diễn thí nghiệm nghiên cứu phát hiện…
BÀI TẬP
1. Thiết kế một bài dạy/chủ đề lý thuyết theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học theo kiểu dạy học dựa trên giải quyết vấn đề

2. Thiết kế một bài dạy/chủ đề thực hành theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học theo kiểu dạy học dựa trên giải quyết vấn đề

Xin trân trọng cảm ơn
 
Gửi ý kiến