Tìm kiếm Bài giảng
Bài 10. Nghị luận trong văn bản tự sự

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Nguyễn Thạch Thảo
Ngày gửi: 07h:56' 18-10-2022
Dung lượng: 678.0 KB
Số lượt tải: 1031
Nguồn:
Người gửi: Lê Nguyễn Thạch Thảo
Ngày gửi: 07h:56' 18-10-2022
Dung lượng: 678.0 KB
Số lượt tải: 1031
Số lượt thích:
0 người
Tiết 47
NGHỊ LUẬN
TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
I.Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
1. Tìm hiểu ngữ liệu:
a) Chao ôi ! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta
không cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở,
ngu ngốc, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta
tàn nhẫn ; không bao giờ ta thấy họ là những
người đáng thương: không bao giờ ta thương… Vợ
tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau
chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình
để nghĩ đến cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá
thí người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa.
Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng,
buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi
chỉ buồn chứ không nở giận
I.Tìm hiểu yếu tố nghị luận
trong văn bản tự sự
b)
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“ Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.
Khen cho : “thật đã nên rằng,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”. Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
Hoạn thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kiêu ca.
Rằng: “Tôi chúc phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”.
I.Tìm hiểu yếu tố nghị luận
trong văn bản tự sự
b)
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“ Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.
Khen cho : “thật đã nên rằng,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”. Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
Hoạn thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kiêu ca.
Rằng: “Tôi chúc phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”.
Nghị luận là nêu lí lẽ, dẫn chứng để bảo
vệ một quan điểm, tư tưởng (luận điểm)
nào đó.
Căn cứ vào định
nghĩa này, hãy tìm và
chỉ ra những câu, chữ
thể hiện rõ tính chất
nghị luận trong hai
đoạn văn trên.
a). Đoạn trích (Lão Hạc của Nam Cao) - Ông Giáo đã đưa ra các
luận điểm và lập luận theo lôgíc sau:
-Nêu vấn đề: Nếu ta không tìm mà hiểu những người ở xung quanh
ta thì ta luôn có cơ sở tàn nhẫn và độc ác với họ.
-Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải là người ác, nhưng sở dĩ thị trở
nên ích kỉ, tàn nhẫn là vì thị đã quá khổ: Vì sao?
+Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau
+Khi người ta khổ thì người ta không còn nghĩ đến ai được nữa
+Vì cái bản tính tốt của người ta bị những nổi lo lắng, buồn đau, ích
kỉ che lấp mất.
-Kết thúc vấn đề: “Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nở giận”.
*Về hình thức: Nhiều câu mang tính chất nghị luận đó là các câu hô
ứng thể hiện các phán đoán như: Nếu …thì, vì thế …cho nên, sở dĩ
…là vì,…
-> Câu văn khẳng định, ngắn gọn, khúc chiết như diễn đạt một chân lí
b). Đoạn trích “Kiều báo ân báo oán”- Nguyễn Du
Đoạn thoại giữa Kiều và Hoạn Thư
Lập luận của Hoạn Thư 8 dòng thơ với 4 luận điểm:
-Thứ nhất: Tôi là đàn bà nên ghen tuông là chuyện
thường tình.(lẽ thường)
-Thứ hai: Ngoài ra tôi cũng đối xử rất tốt với cô.Khi cô
trốn không đuổi theo.(kể công)
-Thứ ba: Tôi với cô trong cảnh chồng chung. Chắc gì
ai nhường cho ai.
-Thứ tư: Nhưng dù sao tôi đã trót gây đau khổ cho cô
nên bây giờ chỉ biết trông nhờ vào lượng khoan dung
rộng lớn của cô.(nhận tội và đề cao tâng bốc Kiều)
Yếu tố nghị luận làm
cho đoạn văn sâu
sắc như thế nào?
- Nghị luận thực chất là các cuộc đối thoại với các
nhận xét, phán đoán các lí lẽ, dẫn chứng nhằm thuyết
phục người đọc, người nghe phải suy nghĩ về một vấn
đề, một tư tưởng, một quan điểm nào đó.
Trong đoạn văn nghị luận, người viết ít dùng câu miêu
tả, trần thuật mà thường dùng nhiều loại câu khẳng
định, phủ định và câu có các cặp quan hệ từ như:
không những …mà còn, vì thế…cho nên…
Dùng nhiều từ ngữ như: tại sao, thật vậy, tuy thế,
trước hết, sau cùng, nói chung, tóm lại...
-Yếu tố nghị luận làm cho
đoạn văn có lập luận chặt chẽ, sức thuyết phục
2. Ghi nhớ: (SGK)
Trong văn bản tự sự để người đọc(người
nghe) phải suy nghĩ về một vấn đề nào đó, người
viết (người kể) và nhân vật có khi nghị luận bằng
cách nêu lên các ý kiến, nhận xét cùng những lí
lẽ và dẫn chứng. Nội dung đó thường được diễn
đạt bằng hình thức lập luận, làm cho câu chuyện
thêm phần triết lí.
II. Luyện tập:
1. Lời văn trong đoạn trích Lão Hạc ở mục I.1 là lời
của ai? Người ấy đang thuyết phục ai? Thuyết phục
điều gì?
Trả lời:
-Lời của ông Giáo
-Ông Giáo đang thuyết phục chính mình, rằng vợ ông không
ác để “chỉ buồn chứ không nở giận”
-Thuyết phục về đạo lí của cuộc sống.
II. Luyện tập:
2. Ở đoạn trích (b) mục I.1 Hoạn Thư đã lập luận như
thế nào mà nàng Kiều phải khen rằng: “Khôn ngoan
đến mực, nói năng phải lời”? Hãy tóm tắt các nội dung
lí lẽ trong lập luận của Hoạn Thư để làm sáng tỏ lời
khen của nàng Kiều.
Trả lời: -Hoạn Thư giây phút đầu “ Hồn lạc phách
xiêu” nhưng sau đó “Liệu điều kêu ca”
+ “Rằng tôi … thường tình”->Lí lẽ này xóa
sự đối lập giữa Kiều và Hoạn Thư. Từ đối lập trở
thành cùng cảnh ngộ “chồng chung…cho ai”. Hoạn
Thư từ tội nhân -> nạn nhân của chế độ đa thê.
+Kể công: Cho Kiều ở gác
viết kinh. Khi Kiều trốn không đuổi theo.
NGHỊ LUẬN
TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ
I.Tìm hiểu yếu nghị luận trong văn bản tự sự
1. Tìm hiểu ngữ liệu:
a) Chao ôi ! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta
không cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở,
ngu ngốc, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta
tàn nhẫn ; không bao giờ ta thấy họ là những
người đáng thương: không bao giờ ta thương… Vợ
tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau
chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình
để nghĩ đến cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá
thí người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa.
Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng,
buồn đau, ích kỉ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi
chỉ buồn chứ không nở giận
I.Tìm hiểu yếu tố nghị luận
trong văn bản tự sự
b)
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“ Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.
Khen cho : “thật đã nên rằng,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”. Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
Hoạn thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kiêu ca.
Rằng: “Tôi chúc phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”.
I.Tìm hiểu yếu tố nghị luận
trong văn bản tự sự
b)
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“ Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.
Khen cho : “thật đã nên rằng,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”. Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
Hoạn thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kiêu ca.
Rằng: “Tôi chúc phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”.
Nghị luận là nêu lí lẽ, dẫn chứng để bảo
vệ một quan điểm, tư tưởng (luận điểm)
nào đó.
Căn cứ vào định
nghĩa này, hãy tìm và
chỉ ra những câu, chữ
thể hiện rõ tính chất
nghị luận trong hai
đoạn văn trên.
a). Đoạn trích (Lão Hạc của Nam Cao) - Ông Giáo đã đưa ra các
luận điểm và lập luận theo lôgíc sau:
-Nêu vấn đề: Nếu ta không tìm mà hiểu những người ở xung quanh
ta thì ta luôn có cơ sở tàn nhẫn và độc ác với họ.
-Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải là người ác, nhưng sở dĩ thị trở
nên ích kỉ, tàn nhẫn là vì thị đã quá khổ: Vì sao?
+Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau
+Khi người ta khổ thì người ta không còn nghĩ đến ai được nữa
+Vì cái bản tính tốt của người ta bị những nổi lo lắng, buồn đau, ích
kỉ che lấp mất.
-Kết thúc vấn đề: “Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nở giận”.
*Về hình thức: Nhiều câu mang tính chất nghị luận đó là các câu hô
ứng thể hiện các phán đoán như: Nếu …thì, vì thế …cho nên, sở dĩ
…là vì,…
-> Câu văn khẳng định, ngắn gọn, khúc chiết như diễn đạt một chân lí
b). Đoạn trích “Kiều báo ân báo oán”- Nguyễn Du
Đoạn thoại giữa Kiều và Hoạn Thư
Lập luận của Hoạn Thư 8 dòng thơ với 4 luận điểm:
-Thứ nhất: Tôi là đàn bà nên ghen tuông là chuyện
thường tình.(lẽ thường)
-Thứ hai: Ngoài ra tôi cũng đối xử rất tốt với cô.Khi cô
trốn không đuổi theo.(kể công)
-Thứ ba: Tôi với cô trong cảnh chồng chung. Chắc gì
ai nhường cho ai.
-Thứ tư: Nhưng dù sao tôi đã trót gây đau khổ cho cô
nên bây giờ chỉ biết trông nhờ vào lượng khoan dung
rộng lớn của cô.(nhận tội và đề cao tâng bốc Kiều)
Yếu tố nghị luận làm
cho đoạn văn sâu
sắc như thế nào?
- Nghị luận thực chất là các cuộc đối thoại với các
nhận xét, phán đoán các lí lẽ, dẫn chứng nhằm thuyết
phục người đọc, người nghe phải suy nghĩ về một vấn
đề, một tư tưởng, một quan điểm nào đó.
Trong đoạn văn nghị luận, người viết ít dùng câu miêu
tả, trần thuật mà thường dùng nhiều loại câu khẳng
định, phủ định và câu có các cặp quan hệ từ như:
không những …mà còn, vì thế…cho nên…
Dùng nhiều từ ngữ như: tại sao, thật vậy, tuy thế,
trước hết, sau cùng, nói chung, tóm lại...
-Yếu tố nghị luận làm cho
đoạn văn có lập luận chặt chẽ, sức thuyết phục
2. Ghi nhớ: (SGK)
Trong văn bản tự sự để người đọc(người
nghe) phải suy nghĩ về một vấn đề nào đó, người
viết (người kể) và nhân vật có khi nghị luận bằng
cách nêu lên các ý kiến, nhận xét cùng những lí
lẽ và dẫn chứng. Nội dung đó thường được diễn
đạt bằng hình thức lập luận, làm cho câu chuyện
thêm phần triết lí.
II. Luyện tập:
1. Lời văn trong đoạn trích Lão Hạc ở mục I.1 là lời
của ai? Người ấy đang thuyết phục ai? Thuyết phục
điều gì?
Trả lời:
-Lời của ông Giáo
-Ông Giáo đang thuyết phục chính mình, rằng vợ ông không
ác để “chỉ buồn chứ không nở giận”
-Thuyết phục về đạo lí của cuộc sống.
II. Luyện tập:
2. Ở đoạn trích (b) mục I.1 Hoạn Thư đã lập luận như
thế nào mà nàng Kiều phải khen rằng: “Khôn ngoan
đến mực, nói năng phải lời”? Hãy tóm tắt các nội dung
lí lẽ trong lập luận của Hoạn Thư để làm sáng tỏ lời
khen của nàng Kiều.
Trả lời: -Hoạn Thư giây phút đầu “ Hồn lạc phách
xiêu” nhưng sau đó “Liệu điều kêu ca”
+ “Rằng tôi … thường tình”->Lí lẽ này xóa
sự đối lập giữa Kiều và Hoạn Thư. Từ đối lập trở
thành cùng cảnh ngộ “chồng chung…cho ai”. Hoạn
Thư từ tội nhân -> nạn nhân của chế độ đa thê.
+Kể công: Cho Kiều ở gác
viết kinh. Khi Kiều trốn không đuổi theo.
 








Các ý kiến mới nhất