Tìm kiếm Bài giảng
Bài 10. Nghị luận trong văn bản tự sự

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hứa Nguyễn Duy
Ngày gửi: 19h:47' 18-11-2022
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 421
Nguồn:
Người gửi: Hứa Nguyễn Duy
Ngày gửi: 19h:47' 18-11-2022
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 421
Số lượt thích:
0 người
CHỦ ĐỀ :NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ-4 Tiết
CÁC NỘI DUNG TRỌNG TÂM:
-Nghị luận trong văn bản tự sự.
-Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố
nghị luận.
-Luyện nói : Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu
tả nội tâm.
-Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn
bản tự sự.
A.NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ:
I.TÌM HIỂU YẾU TỐ NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN
TỰ SỰ:
Đoạn 1: Đây là suy nghĩ nội tâm của ông
giáo trong truyện Lão Hạc của Nam Cao
a.
- Nếu ta không cố tình hiểu họ thì ta chỉ thấy
họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện…
- Vợ mình không ác nhưng thị khổ quá rồi.
- Một người đau chân có lúc nào quên được
cái chân đau của mình.
- Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn
nghĩ đến ai được nữa.
- Mình biết vậy nên mình chỉ buồn nhưng
không nỡ giận.
Nêu vấn đề: Nếu ta không cố tìm mà hiểu
những người xung quanh thì ta luôn có cớ để
tàn nhẫn và độc ác với họ.
b.
Luận điểm:
+ Nếu ta không cố tìm mà hiểu
những người xung quanh mình
thì ta chỉ thấy toàn những cớ để
cho ta tàn nhẫn; không bao giờ
ta thương… => Đây là luận điểm
có tính chất đặt vấn đề.
+ Vợ tôi không ác, nhưng vì thị
khổ quá rồi nên sinh ra ích kỉ,
tàn nhẫn với người khác. => Đây
là luận điểm có tính chất phát
triển lập luận, triển khai vấn đề
nghị luận. Các luận chứng và lí
lẽ được đưa ra: một người đau
chân….; khi người ta khổ quá
thì…
+ Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn
chứ không nỡ giận. => Đây là
luận điểm kết luận, kết thúc lập
luận.
Đoạn 2:
a. Qua đoạn trích Thúy
Kiều báo ân báo oán, có
thể thấy cuộc đôi thoại
giữa Kiều và Hoạn Thư
được diễn ra dưới hình
thức nghị luận. Hình
thức này rất phù hợp
với một phiên tòa.
Trước tòa án, quan
trọng nhất là người ta
phải trình bày lí lẽ,
chứng lí, nhân chứng,
vật chứng... sao cho có
sức thuyết phục. Trong
phiên tòa này, Kiều là
luật sư buộc tội, còn
Hoạn Thư là bị cáo. Mỗi
bên đều có lập luận của
mình.
b.
- Lập luận của Thúy Kiều:
+ Xưa nay, đàn bà có mấy người ghê ghớm, cay
nghiệt như mụ
+ Càng cay nghiệt càng chuốc nhiều oan trái (Đây là
kiểu câu khẳng định).
- Lập luận của Hoạn Thư:
+ Thứ nhất: mình là đàn bà, ghen tuông là chuyện
bình thường.
+ Thứ hai: mình đã đối xử rất tốt với cô khi cô chép
kinh ở "Quan Âm Các".
+ Thứ ba: mình và cô đều là cảnh chồng chung nên
chẳng nhường cho nhau được...
+ Thứ tư: dù sao mình đã gây ra nhiều đau khổ cho
cô, giờ đây mình chỉ còn trông vào lòng khoan dung
rộng lớn của cô.
- Hình thức: Thúy Kiều sử dụng hình thức câu khẳng
định, càng ... càng => Khẳng định tội ác của Hoạn
Thư.
Câu 2:
Câu 1:
Trong đoạn trích
Lão Hạc nêu trên,
đó là lời của ông
giáo, ông giáo đối
thoại với chính
mình, thuyết phục
chính mình, rằng
vợ mình không ác
để “chỉ buồn chứ
không nỡ giận”.
Lập luận của Kiều
thể hiện ở mấy
câu đầu. Sau câu
chào mỉa mai là
lời đay nghiến:
xưa nay đàn bà có
mấy người ghê
gớm, cay nghiệt
như mụ, và xưa
nay càng cay
nghiệt thì càng
chuốc lấy oan
trái. Hoạn Thư
trong cơn “hồn
lạc phách xiêu”
ấy vẫn biện minh
cho mình bằng
một đoạn lập luận
thật xuất sắc.
Trong 8 dòng thơ,
Hoạn Thư nêu lên
4 "luận điểm”:
Thứ nhất: Tôi là đàn bà nên
ghen tuông là chuyện thường
tình (nêu một lẽ thường).
- Thứ hai: Ngoài ra tôi cũng đã
đối xử rất tốt với cô khi ở gác
viết kinh; khi cô trốn khỏi nhà,
tôi cũng chẳng đuổi theo (kể
công)
- Thứ ba: Tôi với cô đều trong
cảnh chồng chung, chắc gì ai
nhường cho ai.
- Thứ tư: Nhưng dù sao tôi
cũng đã trót gây đau khổ cho
cô nên bây giờ chỉ biết trông
chờ vào sự khoan dung rộng
lớn của cô (nhận tội và đề cao,
tâng bốc Kiều).
B.LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN CÓ SỬ DỤNG YẾU TỐ
NGHỊ
LUẬN:
I.THỰC
HÀNH TÌM HIỂU YẾU TỐ NGHỊ LUẬN TRONG ĐOẠN VĂN TỰ SỰ:
- Câu chuyện kể về hai người bạn cùng đi trên sa mạc.
- Yếu tố nghị luận chủ yếu được thể hiện:
+ "Những điều viết trên cát sẽ mau chóng xóa nhòa ..."
+ Câu kết: "Vậy mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn,
thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá".
- Yếu tố nghị luận này làm cho câu chuyện thêm sâu sắc, giàu tính
triết lí và có ý nghĩa giáo dục cao. Bài học rút ra từ câu chuyện này
có thể nêu bằng nhiều cách khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là bài học
về bao dung, lòng nhân ái, biết tha thứ và ghi nhớ ân nghĩa, ân
tình...
II.THỰC HÀNH VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ CÓ SỬ DỤNG YẾU TỐ NGHỊ LUẬN:
1.Bài làm mẫu:
Em vẫn nhớ như ngày hôm qua, về buổi sinh hoạt vào thứ 6 cách đây ba tuần
trước. Không khí trong lớp hôm đấy thật nặng nề. Nguyên nhân là do hai bạn Nam
và Vũ có xảy ra cãi vã vì hôm đó bạn Vũ có đem theo tiền đóng học để đợi cuối giờ
nộp cho cô, Vũ đã nói việc này cho Nam biết. Sau giờ thể dục Vũ vào lớp phát hiện
số tiền đã bị mất. Vũ đã đổ tội cho Nam. Nam thanh minh không được nên xảy ra
cãi vã. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Nam. Cô giáo hỏi cả hai bạn. Em đã đứng
dậy nói với cô Nam là một người tốt. Nam thường xuyên tiết kiệm tiền để ủng hộ
các gia đình khó khăn trong thôn. Không chỉ vậy Nam còn thường xuyên cho các
em học sinh lớp dưới có hoàn cảnh thiếu thốn sách vở. Do vậy, em gợi ý cô giáo bảo
bạn Vũ kiểm tra một lần nữa thật kĩ càng. Cuối cùng sau một hồi tìm lại kĩ càng
trong cặp sách Vũ đã phát hiện ra tập tiền kẹp trong một cuốn sách. Vũ vội vàng
xin lỗi Nam. Nam nhìn em với ánh mắt đầy sự biết ơn.
2.Bài làm mẫu:
Bà em năm nay đã già, mắt bà đã mờ và đôi chân yếu đi rất nhiều. Với em, bà là
người thầy lớn, dạy em những điều hay lẽ phải trong cuộc đời. Mỗi lần trở về quê
hương, em hạnh phúc khi nắm bàn tay hao gầy nhưng tràn đầy hơi ấm của bà,
lắng nghe những câu chuyện bà kể. Từ thuở bé, em thích nhất khi được trở về
khu vườn của bà nơi đầy ắp những trái cây ngon nhưng bà chẳng bao giờ bán mà
thường để dành khi chín, chia cho những đứa trẻ quanh nhà. Em thắc mắc tại sao
bà không bán lấy tiền, bà cười hiền hậu và nói: Những đứa trẻ đó nhà chúng
nghèo lắm cháu ạ, nhà nghèo nên chúng chẳng được ăn những trái cây ngon bao
giờ. Chia sẻ với người khác là nhân thêm niềm vui cho mình. Trong cuộc sống, ai
cũng có những lúc khó khăn, hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau. Không những vậy,
bà còn dạy chữ cho những đứa trẻ nghèo ven đê không được đến lớp. Ngôi nhà
nhỏ của bà vì vậy lúc nào cũng rộn tiếng cười nói trẻ thơ. Em nghe theo lời bà
dạy, đã xin những bộ sách cũ của những người bạn học từ thành phố về để chia
cho những người bạn nơi làng quê. Các bạn rất quý em và thường rủ em đi chơi
quanh làng sau những buổi chiều tan học.Vào những đêm trăng sáng, bà còn
thường kể em nghe những câu chuyện cổ tích, về sự tham lam của người anh
trong truyện Cây khế đã phải giá bằng tính mạng của mình, về lão phú ông trong
truyện cổ tích Cây tre trăm đốt chỉ biết làm giàu cho mình từ sức lao động của
anh Khoai nên cuối cùng mới bị anh Khoai trả đũa. Lòng nhân ái, biết sẻ chia của
con người sẽ khiến cuộc sống bớt đi những khổ đau, khiến mọi người gần lại với
nhau hơn và chan chứa tình người.Bài học từ thuở bé nhưng mãi là hành trang
theo em bước vào đời, em luôn ghi nhớ lời dạy sâu sắc bà dạy để đối xử với mọi
người quanh mình, để nhận lại được những nụ cười và hạnh phúc đầy ấm áp.
Người với người sống để yêu nhau, bởi “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.
C.LUYỆN NÓI TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI NGHỊ LUẬN VÀ MIÊU TẢ NỘI TÂM:
Đề 1 :
Mở bài:
Chuyện xảy ra từ lâu nhưng mỗi lần nghĩ lại mình thấy rất xấu hổ. Muốn kể
cho các bạn nghe để lòng nhẹ nhõm.
Thân bài:
- Giờ kiểm tra 15 phút môn Lịch Sử mình không làm được bài, nhìn sang
thấy Lan đang chăm chú làm bài liền hỏi bạn. Lan không trả lời.
- Mình loay hoay định giở vở xem thì cô giáo nhắc.
- Bài kiểm tra đó mình không làm được nên điểm rất thấp, còn Lan được 9
điểm.
- Mình lúc đó vô cùng ghét Lan và đi nói xấu về Lan rằng bạn mở vở chép
bài.
- Tin đồn đó đến tai cô, cô phê bình Lan.
- Mãi về sau, Lan vẫn không biết vì sao lại xảy ra điều đó. Lan vẫn rất tốt,
không hề nghi ngờ gì mình cả.
- Lan quyết định chuyển trường. Khi chia tay mình đã nói ra sự thật nhưng
Lan chỉ mỉm cười nhẹ nhàng, không có biểu hiện gì là tức giận. Mình nghĩ
nhiều về điều đó, xấu hổ, ân hận.
Kết bài:
Khi nghĩ lại chuyện ấy, mình luôn thấy xấu hổ và giận chính mình.
Đề 2 :
Mở bài:
Buổi sinh hoạt định kỳ. Giới thiệu nội dung buổi sinh hoạt
lớp với chủ đề: Tình bạn.
Thân bài:
- Lớp trưởng nêu ý kiến trao đổi: Thế nào là người bạn
tốt? Ai là người bạn tốt nhất?
- Nhiều ý kiến khác nhau tạo nên một cuộc tranh luận
sôi nổi.
- Ý kiến của mình: Nam là người bạn tốt, Nam luôn gần
gũi với mọi người; giúp nhiều bạn thoát khỏi trò chơi điện
tử bằng cách tổ chức những “trò chơi tiếng Anh”; “ Đi tìm
lời giải hay nhất cho bài toán khó”; Suýt “tặng” cho Hùng
một quả đấm chỉ vì Hùng trêu chọc một em học sinh lớp
dưới; Kiên quyết không cho Tuấn nhìn bài khi làm kiểm
tra nhưng lại đến tận nhà Tuấn hướng dẫn Tuấn cách giải
bài tập.
Kết bài:
Khẳng định lại Nam là người bạn tốt.
Đề 3 :
- Tôi vốn là con nhà hào phú, đến tuổi trưởng thành, tôi xin mẹ mang trăm lạng
vàng hỏi Vũ Nương về làm vợ. Nàng là con nhà nghèo khó nhưng xinh đẹp thùy mị
nết na nhất vùng.
- Năm ấy có giặc Chiêm xâm lấn bờ cõi nên tôi bị xung vào đội quân của triều
đình đi dẹp giặc trong khi vợ lại mang thai sắp đến kỳ sinh nở.
- Tôi đi khoảng mươi ngày thì Vũ Nương sinh con đặt tên là Đản. Mẹ tôi già yếu,
lại vì lo lắng thương nhớ tôi, sinh ra ốm đau. Vũ Nương thay tôi chăm sóc chu đáo
nhưng bà vẫn không qua khỏi. Nàng lo ma chay chu đáo.
- Năm sau giặc tan, trở về nhà không còn mẹ, lòng tôi đau xót vô cùng. Bế con
ra thăm mộ mẹ thằng bé quấy khóc, tôi phải dỗ dành. Một tối, tôi nghe con nói có
người đàn ông đêm nào cũng đến.
- Cơn ghen bừng bừng, tôi tức tối mắng chửi mặc cho Vũ Nương hết lời thanh
minh.
- Vũ Nương gieo mình xuống bến Hoàng Giang tự tử. Dù giận nàng, tôi vẫn tìm
cách cứu thây nàng nhưng tìm khắp nơi không thấy.
- Đên ấy, Đản chỉ vào cái bóng trên vách và bảo đó là bố nó. Tôi mới đau xót
thấu hiểu nỗi oan của vợ, điều này làm tôi ân hận vô cùng.
D.ĐỐI THOẠI,ĐỘC THOẠI,ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ:
I. TÌM HIỂUĐỐI THOẠI,ĐỘC THOẠI,ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG VĂN BẢN
TỰ SỰ:
1. Đọc đoạn trích
2. Trả lời câu hỏi
a. Trong ba câu đầu đoạn trích, ai nói với ai? Tham gia câu chuyện có ít nhất mấy người?
Dấu hiệu nào cho thấy đó là cuộc trò chuyện trao đổi qua lại.
b. Câu "- Hà, nắng gớm, về nào..." ông Hai nói với ai? Đây có phải là một câu đối thoại
không? Vì sao? Trong đoạn trích còn có câu nào kiểu này không? Hãy dẫn ra câu đó.
c. Những câu "Chúng nó... bằng ấy tuổi đầu" là những câu ai hỏi ai? Tại sao trước những câu
này không có dấu gạch đầu dòng như những câu ở điểm (a) và (b).
d. Các hình thức diễn đạt trên có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện diễn biến của câu
chuyện và thái độ của những người tản cư trong buổi trưa ông Hai gặp họ? Đặc biệt chúng
đã giúp nhà văn thể hiện thành công những diễn biến tâm lí của nhân vật ông Hai như thế
nào?
a. Trong ba câu mở đầu đoạn trích cho thấy có ít nhất là hai người phụ nữ tản cư
đang nói chuyện với nhau. Dấu hiệu cho biết điều đó vì có hai lượt lời qua lại; nội
dung nói của mỗi người đều hướng tới người tiếp chuyện và hình thức thể hiện
trong đoạn văn bằng hai gạch đầu dòng (hai lượt lời qua lại).
b.
- Đây cũng không phải là đối thoại. Nội dung ông nói không hướng tới một người
tiếp chuyện cụ thể, không liên quan đến chủ đề mà hai người đàn bà tản cư đang
trao đổi. Hơn nữa sau câu nói to của ông cũng không có ai đáp lại. Thực ra ông lão
nói với chính mình một câu bâng quơ, đánh trống lảng để tìm cách thoái lui. Đó chỉ
là một lời độc thoại.
- Trong đoạn trích này còn có những câu như thế, chẳng hạn:
“Ông lão nắm tay lại mà rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian
bán nước để nhục nhã thế này!”.
c.
- Đây là những câu của ông Hai hỏi chính mình.
- Những câu hỏi này ông phát ra thành tiếng mà chỉ âm thầm diễn ra trong suy
nghĩ và tình cảm của ông Hai. Chúng thể hiện tâm trạng dằn vặt, đau đớn của
ông trong phút giây nghe tin làng Chợ Dầu của ông theo giặc, không thốt thành
lời, chỉ nghĩ thầm nên không có dấu gạch đầu dòng, chúng là những câu độc thoại
nội tâm.
d.
- Các hình thức đối thoại tạo cho câu chuyện có không khí như cuộc sống thật,
thể hiện thái độ căm giận của những người tản cư đối với người dân Chợ Dầu, tạo
tình huống để đi sâu vào nội tâm nhân vật.
- Những hình thức độc thoại và độc thoại nội tâm sau đó đã giúp nhà văn khắc
họa được sâu sắc tâm trạng dằn vặt, đau đớn khi nghe tin làng chợ Dầu cái làng
mà ông luôn luôn lấy làm tự hào và hãnh diện đã theo giặc, làm cho câu chuyện
sinh động hơn.
1.
- Cuộc đốì thoại diễn ra không bình thường giữa vợ chồng
ông Hai.
- Có ba lượt lời (lời bà Hai), nhưng chỉ hai lời đáp. Lời thoại
đầu của bà, ông Hai không đáp lại “nằm rũ ra trên giường
không nói gì" câu hỏi thứ hai của bà Hai được ông "khẽ
nhúc nhích” đáp bằng một câu hỏi lại bà với một từ “Gì?”.
Lần thứ ba, ông cũng chỉ đáp lại lời bà bằng một câu cụt
ngủn, giọng gắt lên: “Biết rồi!”. Tái hiện lại cuộc đối thoại
này, tác giả đã làm nổi bật được tâm trạng chán chường,
buồn bã, đau khổ và thất vọng của ông Hai trong cái đêm
nghe tin làng mình theo giặc.
Bài làm mẫu:
Chiều hôm ấy đi học về, lòng tôi man mác buồn vì một người bạn mới chuyển đi. Về
nhà tôi chẳng thiết ăn uống, cứ thế nằm vật ra giường. Mẹ gọi xuống ăn cơm, tôi
cũng chỉ nói vọng xuống nhà:
- Con hơn mệt nên không muốn ăn. Bố mẹ cứ ăn trước ạ.
Tôi cứ thế vùi mình vào trong chăn và trách Hoa, sao lại đi mà chẳng báo trước. Cậu
thật vô tâm, thật ích kỉ, giá nói trước với tớ, tớ đã không buồn đến mức này. Nghĩ đến
đó tôi lại khóc nức nở, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Sáng hôm sau, ngủ dậy tôi
bỗng thấy một lá thư đặt ngay bên cạnh mình, tôi nhìn nét chữ và nhận ra ngay:
- Trời ơi, là thư của Hoa!
Từng dòng chữ Hoa viết khiến cho tôi hiểu hơn quyết định chuyển trường của bạn và
cả lí do bạn không nói với tôi. Tôi không còn trách Hoa nữa. Bạn ấy mãi mãi là người
mà tôi yêu quý.
THANKS FOR LISTENING
CÁC NỘI DUNG TRỌNG TÂM:
-Nghị luận trong văn bản tự sự.
-Luyện tập viết đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố
nghị luận.
-Luyện nói : Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu
tả nội tâm.
-Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm trong văn
bản tự sự.
A.NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ:
I.TÌM HIỂU YẾU TỐ NGHỊ LUẬN TRONG VĂN BẢN
TỰ SỰ:
Đoạn 1: Đây là suy nghĩ nội tâm của ông
giáo trong truyện Lão Hạc của Nam Cao
a.
- Nếu ta không cố tình hiểu họ thì ta chỉ thấy
họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện…
- Vợ mình không ác nhưng thị khổ quá rồi.
- Một người đau chân có lúc nào quên được
cái chân đau của mình.
- Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn
nghĩ đến ai được nữa.
- Mình biết vậy nên mình chỉ buồn nhưng
không nỡ giận.
Nêu vấn đề: Nếu ta không cố tìm mà hiểu
những người xung quanh thì ta luôn có cớ để
tàn nhẫn và độc ác với họ.
b.
Luận điểm:
+ Nếu ta không cố tìm mà hiểu
những người xung quanh mình
thì ta chỉ thấy toàn những cớ để
cho ta tàn nhẫn; không bao giờ
ta thương… => Đây là luận điểm
có tính chất đặt vấn đề.
+ Vợ tôi không ác, nhưng vì thị
khổ quá rồi nên sinh ra ích kỉ,
tàn nhẫn với người khác. => Đây
là luận điểm có tính chất phát
triển lập luận, triển khai vấn đề
nghị luận. Các luận chứng và lí
lẽ được đưa ra: một người đau
chân….; khi người ta khổ quá
thì…
+ Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn
chứ không nỡ giận. => Đây là
luận điểm kết luận, kết thúc lập
luận.
Đoạn 2:
a. Qua đoạn trích Thúy
Kiều báo ân báo oán, có
thể thấy cuộc đôi thoại
giữa Kiều và Hoạn Thư
được diễn ra dưới hình
thức nghị luận. Hình
thức này rất phù hợp
với một phiên tòa.
Trước tòa án, quan
trọng nhất là người ta
phải trình bày lí lẽ,
chứng lí, nhân chứng,
vật chứng... sao cho có
sức thuyết phục. Trong
phiên tòa này, Kiều là
luật sư buộc tội, còn
Hoạn Thư là bị cáo. Mỗi
bên đều có lập luận của
mình.
b.
- Lập luận của Thúy Kiều:
+ Xưa nay, đàn bà có mấy người ghê ghớm, cay
nghiệt như mụ
+ Càng cay nghiệt càng chuốc nhiều oan trái (Đây là
kiểu câu khẳng định).
- Lập luận của Hoạn Thư:
+ Thứ nhất: mình là đàn bà, ghen tuông là chuyện
bình thường.
+ Thứ hai: mình đã đối xử rất tốt với cô khi cô chép
kinh ở "Quan Âm Các".
+ Thứ ba: mình và cô đều là cảnh chồng chung nên
chẳng nhường cho nhau được...
+ Thứ tư: dù sao mình đã gây ra nhiều đau khổ cho
cô, giờ đây mình chỉ còn trông vào lòng khoan dung
rộng lớn của cô.
- Hình thức: Thúy Kiều sử dụng hình thức câu khẳng
định, càng ... càng => Khẳng định tội ác của Hoạn
Thư.
Câu 2:
Câu 1:
Trong đoạn trích
Lão Hạc nêu trên,
đó là lời của ông
giáo, ông giáo đối
thoại với chính
mình, thuyết phục
chính mình, rằng
vợ mình không ác
để “chỉ buồn chứ
không nỡ giận”.
Lập luận của Kiều
thể hiện ở mấy
câu đầu. Sau câu
chào mỉa mai là
lời đay nghiến:
xưa nay đàn bà có
mấy người ghê
gớm, cay nghiệt
như mụ, và xưa
nay càng cay
nghiệt thì càng
chuốc lấy oan
trái. Hoạn Thư
trong cơn “hồn
lạc phách xiêu”
ấy vẫn biện minh
cho mình bằng
một đoạn lập luận
thật xuất sắc.
Trong 8 dòng thơ,
Hoạn Thư nêu lên
4 "luận điểm”:
Thứ nhất: Tôi là đàn bà nên
ghen tuông là chuyện thường
tình (nêu một lẽ thường).
- Thứ hai: Ngoài ra tôi cũng đã
đối xử rất tốt với cô khi ở gác
viết kinh; khi cô trốn khỏi nhà,
tôi cũng chẳng đuổi theo (kể
công)
- Thứ ba: Tôi với cô đều trong
cảnh chồng chung, chắc gì ai
nhường cho ai.
- Thứ tư: Nhưng dù sao tôi
cũng đã trót gây đau khổ cho
cô nên bây giờ chỉ biết trông
chờ vào sự khoan dung rộng
lớn của cô (nhận tội và đề cao,
tâng bốc Kiều).
B.LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN CÓ SỬ DỤNG YẾU TỐ
NGHỊ
LUẬN:
I.THỰC
HÀNH TÌM HIỂU YẾU TỐ NGHỊ LUẬN TRONG ĐOẠN VĂN TỰ SỰ:
- Câu chuyện kể về hai người bạn cùng đi trên sa mạc.
- Yếu tố nghị luận chủ yếu được thể hiện:
+ "Những điều viết trên cát sẽ mau chóng xóa nhòa ..."
+ Câu kết: "Vậy mỗi chúng ta hãy học cách viết những nỗi đau buồn,
thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá".
- Yếu tố nghị luận này làm cho câu chuyện thêm sâu sắc, giàu tính
triết lí và có ý nghĩa giáo dục cao. Bài học rút ra từ câu chuyện này
có thể nêu bằng nhiều cách khác nhau nhưng chủ yếu vẫn là bài học
về bao dung, lòng nhân ái, biết tha thứ và ghi nhớ ân nghĩa, ân
tình...
II.THỰC HÀNH VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ CÓ SỬ DỤNG YẾU TỐ NGHỊ LUẬN:
1.Bài làm mẫu:
Em vẫn nhớ như ngày hôm qua, về buổi sinh hoạt vào thứ 6 cách đây ba tuần
trước. Không khí trong lớp hôm đấy thật nặng nề. Nguyên nhân là do hai bạn Nam
và Vũ có xảy ra cãi vã vì hôm đó bạn Vũ có đem theo tiền đóng học để đợi cuối giờ
nộp cho cô, Vũ đã nói việc này cho Nam biết. Sau giờ thể dục Vũ vào lớp phát hiện
số tiền đã bị mất. Vũ đã đổ tội cho Nam. Nam thanh minh không được nên xảy ra
cãi vã. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Nam. Cô giáo hỏi cả hai bạn. Em đã đứng
dậy nói với cô Nam là một người tốt. Nam thường xuyên tiết kiệm tiền để ủng hộ
các gia đình khó khăn trong thôn. Không chỉ vậy Nam còn thường xuyên cho các
em học sinh lớp dưới có hoàn cảnh thiếu thốn sách vở. Do vậy, em gợi ý cô giáo bảo
bạn Vũ kiểm tra một lần nữa thật kĩ càng. Cuối cùng sau một hồi tìm lại kĩ càng
trong cặp sách Vũ đã phát hiện ra tập tiền kẹp trong một cuốn sách. Vũ vội vàng
xin lỗi Nam. Nam nhìn em với ánh mắt đầy sự biết ơn.
2.Bài làm mẫu:
Bà em năm nay đã già, mắt bà đã mờ và đôi chân yếu đi rất nhiều. Với em, bà là
người thầy lớn, dạy em những điều hay lẽ phải trong cuộc đời. Mỗi lần trở về quê
hương, em hạnh phúc khi nắm bàn tay hao gầy nhưng tràn đầy hơi ấm của bà,
lắng nghe những câu chuyện bà kể. Từ thuở bé, em thích nhất khi được trở về
khu vườn của bà nơi đầy ắp những trái cây ngon nhưng bà chẳng bao giờ bán mà
thường để dành khi chín, chia cho những đứa trẻ quanh nhà. Em thắc mắc tại sao
bà không bán lấy tiền, bà cười hiền hậu và nói: Những đứa trẻ đó nhà chúng
nghèo lắm cháu ạ, nhà nghèo nên chúng chẳng được ăn những trái cây ngon bao
giờ. Chia sẻ với người khác là nhân thêm niềm vui cho mình. Trong cuộc sống, ai
cũng có những lúc khó khăn, hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau. Không những vậy,
bà còn dạy chữ cho những đứa trẻ nghèo ven đê không được đến lớp. Ngôi nhà
nhỏ của bà vì vậy lúc nào cũng rộn tiếng cười nói trẻ thơ. Em nghe theo lời bà
dạy, đã xin những bộ sách cũ của những người bạn học từ thành phố về để chia
cho những người bạn nơi làng quê. Các bạn rất quý em và thường rủ em đi chơi
quanh làng sau những buổi chiều tan học.Vào những đêm trăng sáng, bà còn
thường kể em nghe những câu chuyện cổ tích, về sự tham lam của người anh
trong truyện Cây khế đã phải giá bằng tính mạng của mình, về lão phú ông trong
truyện cổ tích Cây tre trăm đốt chỉ biết làm giàu cho mình từ sức lao động của
anh Khoai nên cuối cùng mới bị anh Khoai trả đũa. Lòng nhân ái, biết sẻ chia của
con người sẽ khiến cuộc sống bớt đi những khổ đau, khiến mọi người gần lại với
nhau hơn và chan chứa tình người.Bài học từ thuở bé nhưng mãi là hành trang
theo em bước vào đời, em luôn ghi nhớ lời dạy sâu sắc bà dạy để đối xử với mọi
người quanh mình, để nhận lại được những nụ cười và hạnh phúc đầy ấm áp.
Người với người sống để yêu nhau, bởi “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.
C.LUYỆN NÓI TỰ SỰ KẾT HỢP VỚI NGHỊ LUẬN VÀ MIÊU TẢ NỘI TÂM:
Đề 1 :
Mở bài:
Chuyện xảy ra từ lâu nhưng mỗi lần nghĩ lại mình thấy rất xấu hổ. Muốn kể
cho các bạn nghe để lòng nhẹ nhõm.
Thân bài:
- Giờ kiểm tra 15 phút môn Lịch Sử mình không làm được bài, nhìn sang
thấy Lan đang chăm chú làm bài liền hỏi bạn. Lan không trả lời.
- Mình loay hoay định giở vở xem thì cô giáo nhắc.
- Bài kiểm tra đó mình không làm được nên điểm rất thấp, còn Lan được 9
điểm.
- Mình lúc đó vô cùng ghét Lan và đi nói xấu về Lan rằng bạn mở vở chép
bài.
- Tin đồn đó đến tai cô, cô phê bình Lan.
- Mãi về sau, Lan vẫn không biết vì sao lại xảy ra điều đó. Lan vẫn rất tốt,
không hề nghi ngờ gì mình cả.
- Lan quyết định chuyển trường. Khi chia tay mình đã nói ra sự thật nhưng
Lan chỉ mỉm cười nhẹ nhàng, không có biểu hiện gì là tức giận. Mình nghĩ
nhiều về điều đó, xấu hổ, ân hận.
Kết bài:
Khi nghĩ lại chuyện ấy, mình luôn thấy xấu hổ và giận chính mình.
Đề 2 :
Mở bài:
Buổi sinh hoạt định kỳ. Giới thiệu nội dung buổi sinh hoạt
lớp với chủ đề: Tình bạn.
Thân bài:
- Lớp trưởng nêu ý kiến trao đổi: Thế nào là người bạn
tốt? Ai là người bạn tốt nhất?
- Nhiều ý kiến khác nhau tạo nên một cuộc tranh luận
sôi nổi.
- Ý kiến của mình: Nam là người bạn tốt, Nam luôn gần
gũi với mọi người; giúp nhiều bạn thoát khỏi trò chơi điện
tử bằng cách tổ chức những “trò chơi tiếng Anh”; “ Đi tìm
lời giải hay nhất cho bài toán khó”; Suýt “tặng” cho Hùng
một quả đấm chỉ vì Hùng trêu chọc một em học sinh lớp
dưới; Kiên quyết không cho Tuấn nhìn bài khi làm kiểm
tra nhưng lại đến tận nhà Tuấn hướng dẫn Tuấn cách giải
bài tập.
Kết bài:
Khẳng định lại Nam là người bạn tốt.
Đề 3 :
- Tôi vốn là con nhà hào phú, đến tuổi trưởng thành, tôi xin mẹ mang trăm lạng
vàng hỏi Vũ Nương về làm vợ. Nàng là con nhà nghèo khó nhưng xinh đẹp thùy mị
nết na nhất vùng.
- Năm ấy có giặc Chiêm xâm lấn bờ cõi nên tôi bị xung vào đội quân của triều
đình đi dẹp giặc trong khi vợ lại mang thai sắp đến kỳ sinh nở.
- Tôi đi khoảng mươi ngày thì Vũ Nương sinh con đặt tên là Đản. Mẹ tôi già yếu,
lại vì lo lắng thương nhớ tôi, sinh ra ốm đau. Vũ Nương thay tôi chăm sóc chu đáo
nhưng bà vẫn không qua khỏi. Nàng lo ma chay chu đáo.
- Năm sau giặc tan, trở về nhà không còn mẹ, lòng tôi đau xót vô cùng. Bế con
ra thăm mộ mẹ thằng bé quấy khóc, tôi phải dỗ dành. Một tối, tôi nghe con nói có
người đàn ông đêm nào cũng đến.
- Cơn ghen bừng bừng, tôi tức tối mắng chửi mặc cho Vũ Nương hết lời thanh
minh.
- Vũ Nương gieo mình xuống bến Hoàng Giang tự tử. Dù giận nàng, tôi vẫn tìm
cách cứu thây nàng nhưng tìm khắp nơi không thấy.
- Đên ấy, Đản chỉ vào cái bóng trên vách và bảo đó là bố nó. Tôi mới đau xót
thấu hiểu nỗi oan của vợ, điều này làm tôi ân hận vô cùng.
D.ĐỐI THOẠI,ĐỘC THOẠI,ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ:
I. TÌM HIỂUĐỐI THOẠI,ĐỘC THOẠI,ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG VĂN BẢN
TỰ SỰ:
1. Đọc đoạn trích
2. Trả lời câu hỏi
a. Trong ba câu đầu đoạn trích, ai nói với ai? Tham gia câu chuyện có ít nhất mấy người?
Dấu hiệu nào cho thấy đó là cuộc trò chuyện trao đổi qua lại.
b. Câu "- Hà, nắng gớm, về nào..." ông Hai nói với ai? Đây có phải là một câu đối thoại
không? Vì sao? Trong đoạn trích còn có câu nào kiểu này không? Hãy dẫn ra câu đó.
c. Những câu "Chúng nó... bằng ấy tuổi đầu" là những câu ai hỏi ai? Tại sao trước những câu
này không có dấu gạch đầu dòng như những câu ở điểm (a) và (b).
d. Các hình thức diễn đạt trên có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện diễn biến của câu
chuyện và thái độ của những người tản cư trong buổi trưa ông Hai gặp họ? Đặc biệt chúng
đã giúp nhà văn thể hiện thành công những diễn biến tâm lí của nhân vật ông Hai như thế
nào?
a. Trong ba câu mở đầu đoạn trích cho thấy có ít nhất là hai người phụ nữ tản cư
đang nói chuyện với nhau. Dấu hiệu cho biết điều đó vì có hai lượt lời qua lại; nội
dung nói của mỗi người đều hướng tới người tiếp chuyện và hình thức thể hiện
trong đoạn văn bằng hai gạch đầu dòng (hai lượt lời qua lại).
b.
- Đây cũng không phải là đối thoại. Nội dung ông nói không hướng tới một người
tiếp chuyện cụ thể, không liên quan đến chủ đề mà hai người đàn bà tản cư đang
trao đổi. Hơn nữa sau câu nói to của ông cũng không có ai đáp lại. Thực ra ông lão
nói với chính mình một câu bâng quơ, đánh trống lảng để tìm cách thoái lui. Đó chỉ
là một lời độc thoại.
- Trong đoạn trích này còn có những câu như thế, chẳng hạn:
“Ông lão nắm tay lại mà rít lên:
- Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian
bán nước để nhục nhã thế này!”.
c.
- Đây là những câu của ông Hai hỏi chính mình.
- Những câu hỏi này ông phát ra thành tiếng mà chỉ âm thầm diễn ra trong suy
nghĩ và tình cảm của ông Hai. Chúng thể hiện tâm trạng dằn vặt, đau đớn của
ông trong phút giây nghe tin làng Chợ Dầu của ông theo giặc, không thốt thành
lời, chỉ nghĩ thầm nên không có dấu gạch đầu dòng, chúng là những câu độc thoại
nội tâm.
d.
- Các hình thức đối thoại tạo cho câu chuyện có không khí như cuộc sống thật,
thể hiện thái độ căm giận của những người tản cư đối với người dân Chợ Dầu, tạo
tình huống để đi sâu vào nội tâm nhân vật.
- Những hình thức độc thoại và độc thoại nội tâm sau đó đã giúp nhà văn khắc
họa được sâu sắc tâm trạng dằn vặt, đau đớn khi nghe tin làng chợ Dầu cái làng
mà ông luôn luôn lấy làm tự hào và hãnh diện đã theo giặc, làm cho câu chuyện
sinh động hơn.
1.
- Cuộc đốì thoại diễn ra không bình thường giữa vợ chồng
ông Hai.
- Có ba lượt lời (lời bà Hai), nhưng chỉ hai lời đáp. Lời thoại
đầu của bà, ông Hai không đáp lại “nằm rũ ra trên giường
không nói gì" câu hỏi thứ hai của bà Hai được ông "khẽ
nhúc nhích” đáp bằng một câu hỏi lại bà với một từ “Gì?”.
Lần thứ ba, ông cũng chỉ đáp lại lời bà bằng một câu cụt
ngủn, giọng gắt lên: “Biết rồi!”. Tái hiện lại cuộc đối thoại
này, tác giả đã làm nổi bật được tâm trạng chán chường,
buồn bã, đau khổ và thất vọng của ông Hai trong cái đêm
nghe tin làng mình theo giặc.
Bài làm mẫu:
Chiều hôm ấy đi học về, lòng tôi man mác buồn vì một người bạn mới chuyển đi. Về
nhà tôi chẳng thiết ăn uống, cứ thế nằm vật ra giường. Mẹ gọi xuống ăn cơm, tôi
cũng chỉ nói vọng xuống nhà:
- Con hơn mệt nên không muốn ăn. Bố mẹ cứ ăn trước ạ.
Tôi cứ thế vùi mình vào trong chăn và trách Hoa, sao lại đi mà chẳng báo trước. Cậu
thật vô tâm, thật ích kỉ, giá nói trước với tớ, tớ đã không buồn đến mức này. Nghĩ đến
đó tôi lại khóc nức nở, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Sáng hôm sau, ngủ dậy tôi
bỗng thấy một lá thư đặt ngay bên cạnh mình, tôi nhìn nét chữ và nhận ra ngay:
- Trời ơi, là thư của Hoa!
Từng dòng chữ Hoa viết khiến cho tôi hiểu hơn quyết định chuyển trường của bạn và
cả lí do bạn không nói với tôi. Tôi không còn trách Hoa nữa. Bạn ấy mãi mãi là người
mà tôi yêu quý.
THANKS FOR LISTENING
 








Các ý kiến mới nhất